Thơ Thiền #14:

Quảng-Trí & Phổ Minh thiền-sư

Thập Mục Ngưu Đồ Tụng

Nhạc : Chopin

H́nh ảnh : Liên Như


Nguồn :  YouTube Liennhu

 

Thơ Thiền 14

Quảng Trí & Phổ Minh thiền-sư-Thập Mục Ngưu Đồ Tụng

Nhạc : Chopin

H́nh ảnh và video: Liên Như


 

Luận Về Chưa Chăn


          Hết thảy mê t́nh đều được sinh, mới biết từ ‘Kiến’, dẫm vào th́ như rừng rậm, ch́m vào th́ như biển sôi.Cũng như loài tằm làm kén, nơi đẹp là chỗ buột ràng. Tựa như loài thiêu thân bay vào đèn, chỗ sáng là gốc chôn xác. Cho nên bậc Tiên đạt bảo rằng: Kẻ lảng tử bó nhà đáng thương thay. Người lữ hành cô đơn sống trong cảnh lạc loài đói lạnh, mới biết đủ nổi khổ của kẻ cùng đường, không có cách ǵ cưú được. Những kiến giải ấy thật là đáng trách. Đâư là chỉ mong nghe theo lời Phật dạy mà lại nương tựa vào sự dẫn dắt của ma.
 

Nay tôi xin thuyết phá rơ ràng, mà thuyết phá ắt bị người ghét. Người xưa có bảo:’ Lời nói phảỉ th́ không tránh khỏi bị cắt lưỡi’. Nên tôi chỉ lược nêu trong đám tăng chúng bản xứ, họ gồm năm ba loại đọa, năm loại trụy, cộng lại là mười loại chưa chiu chăn vậy.
 

LOAI THỨ NHẤT: Loại thứ nhất là loại cuồng vọng, túng tứ mà không chịu chăn. Sao vậy? Trong kinh có dạy: ‘ Có một loài ma chuyên thích trí tuệ ngông cuồng, không chịu giữ Giới tu hành’ . Họ nắm lấy một cách sai lầm những lời lẽ có tính cách tương-tự ở kinh điển mà bảo rằng :’ Phiền năo tức Bồ-đề’; dâm, nộ, si là phạm hạnh. Theo lời mà sinh ra kiến giải, theo sự giải thích mà phát ra độc hại. Họ có tâm ư phóng túng, lời lẽ gông cuồng, tội thực không kể hết. Cứ nói chuyện giải thoát ở cửa miệng, th́ thừa và giới mất, đều chẳng tu-hành. Hoà Thượng Vĩnh Minh có dạy rằng ;” khi tạp khí (16) bị nghiệp cảnh sai khiến, th́ hiện hành sao khỏi trói buộc của duyên?”. Cũng như bảo rằng:’ Ngàn ngày học tập lư giải, không bằng một ngày tu tŕ giới luật’. Sao lại tham cái hư danh của lư sự để phải chịu hậu qủa của địa ngục , dối ḿnh, gạt người, chịu trầm luân đoạ lạc một cách oan uổng? Đó chỉ là bọn sủa càn, thực đáng thương thay!
 

Những người này tức là những người không chịu chăn.

 

LOẠI THỨ HAI: Rơi vào chi li mà không chịu chăn. Sao vậy?
 

Tổ sư dạy: ” Có nhiều người thông minh học hết giáo điển, ghi nhớ chương cú, chấp vào ḿnh cái gỉa danh của pháp thân (17), phân tích ra mọi loại danh tướng, thêm thắt chỗ này, bổ sung chỗ nọ. Quanh năm suốt tháng chỉ cố tranh kiến giải của ḿnh, mà chẳng tu hành thực sự”. V́ thế nên biết: Đưá trẻ đói qua hàng thịt, nh́n thấy mà nhai ngồm ngoàm, chỉ tăng ḷng thèm khát chứ không cứu được bụng đói. Những người như thế chỉ làm khách thiền ngoài miệng, tuy ghi chú chương cú nhưng trong ḷng ngă mạn, khinh chê mọi người. Đâư là thô bỉ nhất trong tăng chúng, huống chi làm tăng thêm khẩu nghiệp, thực qủa đáng thương! Hạng người này không chịu chăn.
 

 

LOẠI THỨ BA: Bị rơi vào si mê cái ‘ KHÔNG’ mà chẳng chịu Chăn. Sao vậy? Người xưa có dạy:”Kẻ học Đạo mới thấy sơ về cái ‘’Không’’ của các pháp, nghe người khác tụng kinh, niệm Phật lễ bái, làm các pháp tu hành, bèn bảo rằng “ Pháp tách rời danh tự, nếu chấp vào danh gỉa và thuyết tạm th́ càng tăng thêm hư vọng’’. Hạng người như thế ḷng và miệng trái ngược nhau.
 

Há chẳng lấy kinh Lăng Nghiêm dạy rằng:” Nếu trong Định kia mà các thiện nam tử thấy rằng các uẩn (18) tiêu mất, thọ uẩn (18) rơ ràng, tự cho ḿnh đă đủ, tức có phần ngă mạng lớn, ma nhập vào tâm phủ”Họ bảo rằng ‘ Một niệm lướt qua ba tăng kỳ-kiếp’ (19) để rồi trong ḷng xem thường mười phương chư Phật, huống chi các bậc thấp như hàng thanh văn , duyên giác . Họ không chịu lễ bái tháp miếu, khinh mạng, kinh tượng, cho mấy chỉ vàng, đồng, đất, gổ, rồi bảo rằng ‘ Nhục thân chân thường th́ không tự cung kính mà lại sùng bái gỗ đất!’. Như thế thật là điên đảo, làm nghi ngờ sai lạc cho người sau. Nến biết rằng;’ Chấp không phá tướng đều là quyến thuộc của ma’. Cho dù có bảo tất cả đều ‘Không’, sống cũng không, chết cũng không, nhưng c̣n cái không của Đại Diêm Vương làm sao như thế được? Thật là đáng thương! Những người này chấp vào không mà chẳng chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ TƯ, rơi vào Duyên mà không chịu Chăn. Sao vậy?

 

Họ bảo rằng người xưa có dạy;’ Theo Duyên mà làm theo nghiệp cũ, tùy thời mà mặc áo quần th́ hăy thuận theo lẽ trời mà vạn hạnh tự đầy đủ, nhấc chân, bỏ chân, có cái ǵ không phải là tịnh nghiệp đâu mà phải làm bao nhiều chuyện?’ Họ lại bảo;’ Có bực Tiên đức bảo rằng ”Tức tâm là Phật’’ cần chi vào việc tu hành?
 

Bọn người như thế cũng như con chó đuổi theo cục đất vậy, không biết rằng đó chỉ là nói tạm một lúc của các bậc Tổ Sư, v́ bịnh mà cho thuốc. Nên biết rằng : Theo duyên thuận thời, không phải là không làm ǵ cả. Đấy là nhận lầm Tổ cơ (20) (-tức cái mấu chốt do chư Tổ đặt ra tùy căn cơ, tŕnh độ mà dạy bảo-), tưởng đá là ngọc vậy, đáng thương xót. Cũng v́ kiến giải sai lầm như thế mà hạng người này không chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ NĂM, bị rơi vào hạng ỷ lại quyền thế mà không chịu chăn. Do họ không biết liêm sỉ, chạy theo danh lợi, quên đạo đức, bỏ bê giới luật, bỏ đi phép tắc, mang lấy t́nh riêng mà ra vậy. Thế rồi học lại chế trách người chân chính tu hành là hạng bỉ lậu, khen ngợi bọn tự đắc ngông nghêng là hạng ngướ lôĩ lạc. Do đó không biết hổ thẹn gỉ, chỉ cứ lo nịnh hót quyền thế, ỷ lại chốn giàu sang để mưu lấy danh lợi. Bọn người này không thể hiện được gốc đạo, ch́m đắm trong sông ái, biển dục, đành chịu sự trầm truỵ. Một ngày kia hoạ đến, phước hết, trời người đều ghét, làm lụy đến thầy, bạn. Hạng người này cũng không chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ SÁU, là thân tuy xuất gia mà chẳng chịu an tâm học đạo. Họ thuận theo cái Không của các pháp, chỉ mong giữ lấy cái thân huyền-ảo, làm bộ làm dáng bị đoạ lạc mà chẳng chịu Chăn. Sao vâỵ? Hoà Thượng Thiên Như dạy:” Gần đây có bọn người xuất gia tuy bảo rằng bỏ thế tục nhưng thói quen tục lụy vẫn không chưà”. Họ bảo rằng thoát khỏi trần ai, nhưng họ th́ duyên trần không dứt bỏ, kinh giáo không biết, tham thiền chẳng hay, vượn tâm (21) rong ruổi, ngưạ ư (21) bôn ba. Họ nhóm lại thành bầy, qua ngày đoạn tháng. Như thế chẳng những uổng phí của cúng dường mà c̣n mai một tâm linh của chính họ. Đến khi nhắm mắt xuôi tay biết đi về đâu? Quả thực là muốn vào ‘ Cửa không’ mà trở nên sống như chết lăng. Bọn người như thế là bọn v́ cơm aó, vi sự yên ổn mà đi xuất gia, thiệt đáng thương xót. Há chẳng biết kinh Bửu tích dạy rằng:’ Cái ngục tham dục vẫn thường bị phiền năo trói buộc’. cái hầm dơ bẩn luôn luôn bị loài trùng bọ rúc rỉa, tựa như nhà xí, có năm loại không sạch, chẳng khác ǵ cái bị rách có chín lỗ thường chảy ra. Rắn độc sân hận nổi lên ḥng hại người mà làm tổn tuệ mạng. Con qủy ngu si v́ nắm lấy ngă kiến mà nuốt caí thân trí, như bọn giặt ác mà người đời đều ghét, như loài chó chết mà người hiền vứt bỏ. Không cứng rắn, giống như cây chuối, bọt nước, vô thường như ánh chớp tia lữa. Tuy ăn uống chẳng bao nhiêu mà tạo thánh oan trái, mỗi khi cúng dường lại không biết báo đáp lại. Điều đáng trách không phải là ít, thực khó nói cho hết. Nếu không xét lỗi lấm sâu xa này cứ chấp chặt cái bánh vẽ một cách mê muội, th́ không thể nào tiến tu được, tức trí-tuệ, đức hạnh trở thành thiếu kém, lư sự đều tiêu tan.
 

Trước hết cần phải biết cái ác, biết cái điều sai th́ lữa dục mới tiêu được. Nếu đối trị hết từ gốc, th́ cái chân nguyên tự hiện ra. Phàm hạng người như thế đều v́ bên trong không có sự chiếu sáng của trí, lại bỏ gốc, nắm ngọn, sáng chiều chạy theo bọn bị động, làm hỗn loạn nguồn chân, vẩn đục ḍng tính. Hạng người như thế th́ không chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ BẢY, chạy theo việc người, càng ngày càng tinh chuyên mà không chịu chăn. V́ sao? Kinh Pháp Cú dạy:” Như tờ giấy bao hương, như sợi dây cột cá vậy’. Phàm vật muốn tịnh nhưng v́ duyên mả khởi thành tội phước. Có bạn hiền minh th́ đạo nghĩa càng ngày càng tăng tiến. Bạn bè ngu ác th́ tai ương càng ngaỷ càng tụ tập. Giống như giấy sạch gần hương mà thơm, gần vật dơ mà bị hôi hám. Lâu dần thành thói quen đều không tự biết. Tiên đức có bảo:” Thôi, thôi, thôi, hăy tu cho sớm. Khi trời khô tạnh, không chịu đi, lại đợi cho đến lúc mưa xối xả! Bọn người này thuận theo bánh xe nghiệp, đem chôn mất gốc Đạo, mà không chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ TÁM, dùng Phật pháp để làm việc đời, lười biếng chẳng chịu chăn. V́ sao? Chỉ v́ tài trí không đủ, kiến thức không có mà ra như vậy. Hoà Thượng Phật Trí Cốc dạy:” Ngựa hay rong chạy th́ không dám giữ chân lại, chỉ c̣n cách g̣ dây cương mà chế ngự. Ư thức trổi chảy lung tung th́ không thể nương vào duyên và sức mạnh của sự thức tỉnh được’’. Than ôi! Dùng Phật pháp mà làm việc đời, qủa thực là bọn ngoắt đuôi mà xin thương hại, là kẻ không thức tỉnh . Bọn người này th́ không chịu chăn.
 

 

HẠNG THỨ CHÍN, th́ lười biếng, uể oải, cầu an mà không chịu chăn. V́ sao? Chỉ v́ họ tự mang tự bỏ mà ra như thế. Bậc tiên đức bảo :’Cái dung lượng tài năng của con người th́ có lớn, có nhỏ, nên không thể dạy được”, Nên bảo rằng ‘ Cái nhỏ không thể ôm cái lớn được; dây gầu ngắn th́ không thể lấy nước ở sâu’. Chim cú ban đêm nh́n thấy loài trùng nhỏ rất rơ, nhưng ban ngày mắt lại mờ tối, không thể thấy g̣ núi, không thể phân định được .
 

Người như vậy, tự cho ḿnh là đủ nên chẳng c̣n mong cầu ǵ xa hơn. Sống chẳng có ích ǵ cho đương thời, chết cũng chẳng để tiếng tăm cho hậu thế. Hạng người như thế không chịu chăn.

 

HẠNG THỨ MƯỜ̀, là bọn cờ bạc hư hỏng, tụ tập với nhau, lười mà chẳng chịu chăn. Sao vậy? Họ chỉ mong cái lơị nhỏ trước mắt mà cứ ôm ấp những mưu kế cẩu thả. Họ lại c̣n bảo rằng:’ Cầu đạo th́ quá xa vời, chẳng bằng cầu cái lợi thiết thực’. Do vậy mà họ quen thói phù hoa, so đo nhỏ nhặt, không tính được cho trọn năm, huống chi là lo chuyện sanh tử!. Việc học đạo càng lâu càng bỏ phế, tông môn ngày càng hư hỏng. Hạng người như thế th́ không chịu chăn.
 

Mười hạng người kể trên tuy gọi là xuất gia mà chưa bỏ hẳn việc đời: Mang lấy thân nam tử nhưng không có cái chí của bậc trượng phu, V́ thế Tổ Quy Sơn (22) dạy :’ Tiếc thay một đời luống qua, gặp việc th́ quay vào vách’. Suốt ngày cứ lăng xăng, tối lại th́ mê mệt, ngă xuống chẳng biết chôn ở đâu. Họ ngồi trong ngục tối, không đạt được yếu ch́ ‘ tức sự tức lư’, mà cứ niệm suông câu phá bịnh, phá chấp. Người trí th́ sâu xa biết bao nhiêu, kẻ ngu th́ chỉ bắt chước bề ngoài mà cứ mong thành tựu việc lớn một cách nhanh chóng th́ thực khó vậy.
 

V́ thế, tôi nay xin quảng dẫn tấm ḷng thâm sâu của chư Phật, chư tổ mà tŕnh bày rỏ ràng đại ư của sai lầm trước, cùng nhau nhận lấy sắc chỉ từ bi của bậc Giác Vương (23), không để hư cái trí của ḿnh, không phụ tứ ân (24), cùng bước vào cửa giải thoát, cùng tiến trên con đựng thực hành thành tựu của đức Phật, làm viên măn trí Bồ-đề. chận lối tà , mở đường trí, làm vững gốc tín mà nhổ gai thấp, vượt khỏi bên khổ của ba cơi, (25), nhập vào biển nguyện của Phổ-Hiền, (26), vượt khỏi sự phiêu đảng của pháp ǵới, tiến lên thành lớn Niết-bàn.
 

Ngưỡng mong chư Phật, chứng cho ḷng thành nhỏ nhặt này, mong được phổ biến, nay kính dâng tập sách. Tr 26.


---------------
(17) Pháp Thân: Thân chân thật của Phật, tức lá pháp tính hay lư thể tuyệt đối
(18) Sắc uẩn, thọ uẩn: Hai chi phần trong năm phần gồm thành cái gọi là con người là : sắc ( Vật chấc,h́nh tướng), thọ ( sự cảm nhận), tưởng ( sự suy nghĩ, ư) hành ( hành động) và thức.( nhận biết).
(18) Tăng kỳ-kiếp: Tức là thời gian dài, vận hành của vủ trụ.
(20) Tổ cơ: tức cái mấu chốt do sơ tổ bày ra, dể tùy theo tŕnh độ mà dạy bảo.
(21) Vượn tâm, ngựa ư: Ám chỉ tâm ư điên đăo, phóng túng không định tỉnh của chúng sinh như loài vượn, loài ngựa.
(22) Quy sơn (771-853): Pháp danh Linh Hưụ, Tổ ḍng Quy Ngưỡng, đắc pháp vơí ngài Bách Trượng , mở pháp đường ở núi Đại Quy, tỉnh Hồ Bắc, nên thường được gọi là Tổ Quy Sơn.
(23)  Giác Vương: Tức Phật, vị đă giác ngộ hoàn toàn.
(24) Tứ Ân: Bốn ơn lớn là ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn chính quyền và ơn Tam bảo.
(25) Ba Cơi: Cơi Dục, Cơi Sắc, và Cơi Vô Sắc. Tất cả chúng sanh trong ba cơi này c̣n trong ṿng luân hồi sanh tử.
(26) Phổ Hiền: Vị đại Bồ-tát tượng trưng cho đại hạnh, phát mười nguyện lớn để tu hành và cứu độ chúng sanh.

 

 

art2all.net