|
Thơ Thiền #6: Vua Lư Nhân Tôn
Nhạc nền : Từng bước chân thảnh thơi Nhạc và lời : Sư cô Tịnh Thủy Tiếng hát : Hà Thanh
H́nh ảnh : Liên Như
- Hoa peony Green Lotus, tên khoa học Paeonia Lactiflora Nguồn : YouTube Liennhu
Thơ Thiền 6- Văn Học Đời Lư
Thái tử Càn Đức sinh năm 1065, lên ngôi năm 1072 sau khi vua Lư Thánh Tôn băng hà. Đó là vua Lư Nhân Tôn, vị vua thứ tư của triều nhà Lư. Thái tử Càn Đức lên ngôi năm 1072, vua là một ấu quân nên mọi việc quốc sự đều do thái sư Lư Đạo-Thành đảm trách với tư cách là một quan Phụ Chánh. Vua Lư Nhân Tôn ngự trị 55 năm (1072- 1127) với nhiều sự nghiệp đáng kể: - Nước ta mang quốc hiệu Đại Việt từ năm 1054 khi vua Lư Thánh Tôn (phụ hoàng của vua Lư Nhân Tôn) vừa mới lên ngôi. - Năm 1108 vua Lư Nhân Tôn ra lịnh đắp đê Cơ Xá dọc theo sông Hồng để ngăn ngừa ngập lụt ở kinh đô Thăng Long và trên châu thổ sông Hồng. - Nhà vua có sáng kiến giúp nông dân hợp tác bảo vệ mùa màng chống nạn trộm cắp lúa gạo và hoa màu. Kẻ trộm trâu để làm thịt bị nghiêm phạt nặng nề. Thuế điền không đáng kể. Nông dân chỉ đóng 03 thăng lúa (06 lít) cho mỗi mẫu ruộng (mẫu ta: 3,600 m2 tức lối 1/3 mẫu tây- hectare). - Về giáo dục các kỳ thi tam trường được tổ chức vào năm 1075. Năm 1076 Quốc Tử Giám được thành lập. Năm 1086 có tổ chức kỳ thi tuyển chọn những sĩ tử xuất sắc vào làm việc cho Hàn Lâm Viện đặc trách văn khố và văn thư triều đ́nh. Lê Văn Thịnh đỗ đầu trong kỳ thi 1075 làm quan đến chức thái sư (thủ tướng) nhưng v́ nghi ngờ làm phản nên bị đầy lên Thao Giang, huyện Tam Nông, Phú Thọ. Người đậu thủ khoa kỳ thi năm 1086 là Mạc Hiển Tích. - Dưới triều vua Lư Nhân Tôn, Đại Việt có nhiều chiến tích quan trọng trong việc đương đầu với nhà Tống và sự quấy phá của Chiêm Thành ở phía nam vĩ tuyến 18. Lư Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân tấn công Kin-chow (Khâm Châu) Lien-chow (Liêm Châu) và Yong-chow (Ung Châu) trong tỉnh Kwang-tung (Quảng Đông) và Kwang-si (Quảng Tây) năm 1075. Để trả đũa cuộc tấn công này quân nhà Tống tiến sâu vào nội địa Việt Nam (1076). Trước khí thế hăng say của quân Tống, Lư Thường Kiệt chấn chỉnh tinh thần quân Đại Việt bằng bốn câu thơ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Bốn câu thơ được ngân vang trong đêm thanh vắng từ một đền thờ khiến quân sĩ Đại Việt cho rằng đó là Thiên lịnh. Nhờ bốn câu thơ này mà quân Đại Việt lên tinh thần và đẩy lui quân Tống về phía bắc. Nhưng họ chiếm Quảng Nguyên trong tỉnh Cao Bằng. Người ta cho rằng vùng này có mỏ vàng nên được các quan nhà Tống đặc biệt chiếu cố. Vua Lư Nhân Tôn sai người đem voi triều cống cho Tống triều và yêu cầu nhà Tống hoàn đất Quảng Nguyên cho Đại Việt. Nhà Tống chỉ trả một phần để đổi lấy những người bị Lư Thường Kiệt và Tôn Đản bắt đem về Đại Việt khi tấn công Kin-chow, Lien-chow và Yong-chow. Năm 1084 vua sai Lê Văn Thịnh sang Trung Hoa thương thuyết với Tống triều. Đất Quảng Nguyên hoàn toàn được qui hoàn về Đại Việt. Kết quả ngoại giao này há không do vụ tấn công phủ đầu năm 1075 và chiến thắng trên sông Như Nguyệt năm 1076 mà ra?
Danh tướng phạt Tống b́nh Chiêm dưới triều vua Lư Nhân Tôn
là Lư Thường Kiệt. Năm 1104 Lư Thường Kiệt mở cuộc hành quân
chinh phạt Chiêm Thành v́ vua Chế Ma Na (Jaya Indravarman
II) lợi dụng cuộc nổi loạn của Lư Giác ở Nghệ An để chiếm
Địa Lư, Ma Linh và Bố Chánh mà vua Chế Củ (Rudravarman III)
của Chiêm Thành đă nhượng cho nhà Lư năm 1069. Lư Thường
Kiệt đánh bại quân Chiêm Thành. Chế Ma Na (Jaya Indravarman
II) nh́n nhận chủ quyền của Đại Việt trên vùng đất nằm trong
tỉnh Quảng B́nh đă nhượng cho Đại Việt từ năm 1069. _____
Liên-Như
|