Nghe kể chuyện vượt biển, vượt biên


 

[Đọc sách "Chuyện Kể Hành Tŕnh Biển Đông, Tuyển tập I" của nhiều tác giả. 483 trang. Xuất bản năm 2003]

Tác giả Bùi Văn Phú từng làm việc tại các trại tị nạn Đông Nam Á trong thập niên 1980.

Trong bài đầu tiên của loạt bài viết cho BBC nhân 30 năm kết thúc chiến tranh, tác giả chiêm nghiệm về thân phận của những thuyền nhân Việt Nam.

Ba mươi năm sau cuộc chiến, cả triệu người Việt đă bỏ nước ra đi, từ đợt di tản tháng 4 năm 1975, rồi chuyện vượt biên, chuyện đoàn tụ gia đ́nh (O.D.P.), con lai, tù cải tạo (H.O.), đến diện thuyền nhân hồi hương (R.O.V.R.) sau này, tất cả đều trải qua nhiều lo sợ bất định không biết giấc mơ được rời khỏi Việt Nam có sẽ suông sẻ hay không. Chỉ khi đă đến được nơi định cư th́ hành tŕnh đó mới coi như kết thúc.

Con đường vượt biên, kéo dài hai thập niên sau 1975, có đông người ra đi nhất và cũng là con đường gian nan nhất. Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ước lượng một phần ba số người vượt biển, khoảng vài trăm ngh́n, đă không đến được bến bờ.

Qua nhiều chuyện kể trong "Hành Tŕnh Biển Đông", những người rời Việt Nam ra đi t́m tự do bằng đường biển, đường bộ, hay bằng cả hai cách, đều biết rơ trong quyết định ra đi của ḿnh th́ may mắn sống c̣n chỉ có một phần ba.

Câu nói: "Một là con nuôi má, hai là má nuôi con, ba là con nuôi cá" được người vượt biển suy ngẫm trước khi ra đi và chỉ biết cầu xin Trời Phật cho số mệnh được b́nh yên.

Xác một con tàu vượt biển, năm 1987, c̣n trên băi biển đảo Pulau Bidong, Malaysia mà theo kể lại trên 300 người vượt biên trên tàu đă chết. (ảnh Bùi Văn Phú)

Xác một con tàu vượt biển, năm 1987, c̣n trên băi biển đảo Pulau Bidong, Malaysia

Rất nhiều trong số 46 chuyện kể là hoàn cảnh khốn cùng của những tàu vượt biển gặp nạn: lạc đường, chết khát, bị hải tặc cướp, hăm hiếp, có khi cả chục lần.

Câu chuyện của một con tàu ra đi từ vùng Cái Sắn, Rạch Giá vào tháng Ba năm 1977 có lẽ hăi hùng hơn cả. Tàu bị hải tặc cướp, hăm hiếp.

Khi bị tấn công lần thứ nh́, đám thanh niên nhất quyết chống lại và 62 thuyền nhân đă bị chúng giết, chỉ c̣n một người sống sót v́ bị những xác chết khác đè lên.

Cảnh người thuyền nhân duy nhất giữa đống xác người đầy máu tựa như cảnh phóng viên Cam Bốt Dith Pran lội bùn giữa những cánh đồng chết chóc đầy xương và sọ người trên đường trốn chạy bàn tay Khờ Me Đỏ trong phim "Killing Field", hay cảnh phi công Mỹ rớt máy bay, trên đường trốn thoát đă đi lạc vào một vũng lầy ngổn ngang xác người ở Bosnia-Kosovo trong phim "Behind Enemy Lines".

Có những con thuyền lạc đường, cạn thức ăn, nước uống nên người đă phải ăn thịt người để sống, mẹ phải cắt vú ḿnh lấy máu cho con bú kẻo không đứa bé chết khát. Nhiều người đă chết v́ đói khát, người thoi thóp sống lo thủy táng người chết và chỉ c̣n biết cầu xin người đă chết phù hộ. Có khi những điều khấn xin được đáp lại bằng những cơn mưa hoặc được tàu lớn cứu vớt.

Tháng Bảy năm 1979 có một tàu vượt biển bị băo đánh vỡ ra từng mảng, 350 người chỉ c̣n 14 sống sót và đă có một hài nhi ra đời giữa ḷng biển khơi trong khi người mẹ, tuổi chừng 30, đang bám víu lấy mạng sống trên một chiếc bè trôi nổi mà người đỡ đẻ lại là một nam học sinh ở tuổi 17.

Câu chuyện vượt biển này tưởng như kết thúc ở bến bờ tự do, nhưng 14 người sống sót lại được tàu đánh cá của Việt Nam vớt, đưa trở về điểm khởi hành. Không biết số mạng của đứa bé trai sinh giữa ḷng biển khơi giờ đây ra sao? C̣n sống, năm nay em đă 26 tuổi.

Bia tưởng niệm những người đă chết trên đường vượt biên dựng trong nghĩa trang trại tị nạn Galang, Indonesia, 1986. (ảnh Bùi Văn Phú)

Bia tưởng niệm những người đă chết trên đường vượt biên dựng trong nghĩa trang trại tị nạn Galang, Indonesia

Trên biển có khi tưởng như t́m được sinh lộ th́ lại đi vào cơi chết. Như chuyện của anh Sáu Hoàng, cựu sĩ quan hải quân.

Sau nhiều ngày mất phương hướng v́ tàu hỏng máy, thấy một b́nh nhựa trôi trên biển nên anh nhảy xuống vớt với hy vọng t́m được nhăn hiệu hay một dấu chỉ nào để biết tàu đang trôi dạt nơi đâu, có gần bờ bến không.

Dưới nước anh Hoàng nắm được b́nh, nhưng con tàu bỗng trôi nhanh khiến anh bơi đuổi không kịp. Nhiều người trên tàu ném hết mọi thứ có thể nổi để anh bám vào, nhưng chẳng cứu anh được. Con tàu hỏng máy đă bỏ anh lại.

Trong một chuyện kể khác, cũng là trường hợp tàu hư, lạc đường vào năm 198.

Sau nhiều ngày đói khát, tàu trôi dạt đến gần một đảo hoang, bốn thanh niên nhảy xuống bơi vào t́m xem có sự sống, thức ăn hay không. Khi họ bơi trở ra th́ con tàu lại cứ trôi xa đảo, bỏ lại bốn thanh niên.

May mắn thoát hiểm nguy trên biển, đến được đất liền nhưng cũng chẳng có cơ hội định cư. Đó là câu chuyện về chị Nguyệt một ḿnh đến được trại, ở lâu v́ không có diện định cư nên phải bán ḿnh nuôi thân, nuôi gia đ́nh c̣n ở Việt Nam. Chị mua hương bán phấn với lính Thái, mang thai, xấu hổ quá chị tự tử.

Cuộc sống trong trại tị nạn chỉ tạm bợ nhưng cũng nhiều buồn vui. Một thiếu nữ được tàu Mỹ vớt, chăm lo mọi thứ từ đồ ăn thức uống, quần áo được giặt bằng máy nên cô lạc mất chiếc nịt ngực. Khi chuyển vào trại, ra đường không có nịt ngực, thường bị nhiều chàng thanh niên ḍm ngó, chọc ghẹo khiến cô luôn e thẹn và cảm thấy sự thiếu vắng một vật đă thường mang trên người như là mất mát, thiếu thốn một cái ǵ thân thương lắm.

Khi làn sóng người vượt biển lên cao, chính phủ các nước Đông Nam Á có lệnh không cho ngư dân của họ cứu vớt thuyền nhân. Nhiều tàu bè quốc tế cũng đă làm ngơ trước tín hiệu SOS của thuyền gặp nạn. Nhưng không phải tất cả thuyền trưởng đều quay mặt đi.

Có những câu chuyện thuyền trưởng tàu Phi Luật Tân, tàu Nhật, tàu Mỹ v́ lương tâm đă cứu vớt nhiều người vượt biển được kể lại. Ngay cả khi hải tặc Thái Lan tạo kinh hoàng cũng có những ngư dân Thái cứu người vượt biển, đem họ vào bến bờ b́nh an.

Có người thương binh một chân, là cựu đai úy trong quân đội Thái, đă nhỏ nước mắt khi nh́n thấy một em bé Việt Nam chỉ c̣n da bọc xương trên tay người mẹ đang đi t́m sữa. Ông đă cho bà 20 đồng baht để bà ra chợ mua sữa cho đứa bé.

Hai thập niên trước, thảm trạng của thuyền nhân đă được ghi lại trong tập tài liệu Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan do nhà văn Nhật Tiến và kư giả Dương Phục kể.

Hai mươi năm sau, những câu chuyện đi t́m tự do được kể lại trong "Chuyện Kể Hành Tŕnh Biển Đông" bởi nhiều nhân chứng. Đây không phải là một tác phẩm văn chương mà là một chứng liệu lịch sử.

Nhiều trong số 46 bài viết là tự truyện của những tác giả không phải là người cầm bút chuyên nghiệp hay có tài năng văn chương. Họ kể lại bằng lối văn mộc mạc, chân thành. Đó là những câu chuyện có thực, rất thực.

Trong thế kỷ vừa qua thế giới đă chứng kiến nhiều vụ giết người tập thể: ḷ hơi ngạt giết người Do Thái trong các trại tập trung; Khờ Me Đỏ tàn sát người Cam Bốt; dân bộ lạc ở Rwanda, Châu Phi giết nhau; diệt chủng ở Bosnia-Kosovo. Ở những nơi này ngày nay c̣n nhiều chứng tích để lại như một nhắc nhở cho nhân loại.

Nhưng hàng trăm ngàn thuyền nhân đă bỏ ḿnh, thân xác họ ch́m sâu trong ḷng biển cả. C̣n chăng là một số h́nh ảnh của Cao Ủy Tị Nạn ghi lại những xác người, màu đỏ đen, da dính vào xương, nằm phơi trên đồi san hô giữa biển cả.

"Hành Tŕnh Biển Đông" chỉ là một phần nhỏ của thảm trạng thuyền nhân v́ c̣n nhiều những con tàu khác đă ch́m sâu trong ḷng đại dương mang theo tất cả, không để lại dấu vết, không c̣n ai sống sót mà kể lại.

Ngoài chuyện kể, giờ cũng cần có một bảo tàng viện để lưu lại chứng tích của một giai đoạn gian nan của những người vượt biên.

.....................................................................

Đăng Trần, Orange County
Bản thân tôi là thuyền-nhân và được tàu Cap Anamour (51/703) vớt & được đem tới trại tỵ nạn Palawan, Philippines (October 1981). Lúc bấy giờ, tôi chỉ được hơn 15 tuổi và có tên trong danh sách “nghĩa vụ quân sự/lao động” (v́ là thành phần co cha, chú là sĩ-quan VNCH).

Như bao mọi người Mẹ VN khác, Mẹ tôi đă đau xót, cắn răng đưa nấm-ruột của Bà đi t́m Tự-Do. Ôi, đau đớn thay cho câu “ca-dao” thời bâ’y giờ: "Một là con nuôi má, hai là má nuôi con, ba là con nuôi cá". Mặc dầu đă gần 25 năm qua, những kỷ niệm hăi hùng về những ngày vượt biển vẫn c̣n ám ảnh trong tâm khăm (kết quả là cho đến nay, tôi sợ nước và từ chối tất cả những chuyến đi “cruise” do gia-đ́nh và bè bạn tổ chức).

Tôi cũng đă bật khóc khi đọc lại cuốn tự truyện “Hành Tŕnh Biển Đông” của nhiều nhân chứng. Trong đó có một tác giả đă kể lại sự hy-sinh của người em gái (trong lúc đắm tàu) để cho cô được sống, để rồi cuối cùng chính bản thân cô phải trả giá cho sự sống này. Có chua xót nào hơn nỗi chua xót này. Cám ơn Ngụy Vũ, người đă có công gom góp và ấn bản tập sách này để cho thế giới và thế hệ con em chúng ta hiểu và trân quí hai chữ Tự Do.

Trần Minh
Tôi đă đọc và nghe các cuộc hành tŕnh vượt biển. Những chuyện thật khủng khiếp. Thật là tội nghiệp. Tôi nghe kể có những đứa bé sau khi trải qua sự khủng khiếp bị hải tặc nó câm luôn cả tuần không thốt ra một lời nào.

Trên đường đi khi chưa ra biển bị bể mánh chạy tán loạn gặp mấy tên dẫn đường rừng cầm những cây mă tấu sáng quắc lăm lăm đe doạ kẻ nào không có tiền đưa th́ ở lại trong rừng c̣n người nào có tiền đưa cho chúng chúng mới dẫn đường quay trở về không th́ cũng bỏ xác nơi rừng sâu núi thẳm.

Thế nhưng xét cho kỹ kẻ phải ở lại không phải là họ không can đảm không khao khát tự do mà là v́ những lư do khác. Ví dụ như không có vàng th́ làm sao vượt biên? Không yêu ai đó th́ làm sao mà nhắm mắt lấy để được ai đó trả tiền cho đi.? Và kẻ ở lại để đối đầu với cuộc sống ngoi lên từ những nhẫn nhục đau khổ cũng là những người vô cùng can đảm.

Rất tiếc tôi không có th́ giờ để viết tiếp câu truyện của tôi, nơi ấy tôi sẽ nói lên thân phận của những con người như thế!

Nguyễn Nhân, Texas
Tôi là thuyền nhân đến trại Palawan, Bataan Phi luật tân. Tôi đă trải qua, tai nghe, mắt thấy những cảnh tượng hăi hùng đó. Tôi cũng đă từng đấu tranh, vận động chống hồi hương thuyền nhân. Khi đọc những ḍng trên, tôi đă mũi ḷng, rỡn tóc gáy và nhớ lại cuộc hành tŕnh 25 năm trước như in trong tâm khảm cứ như là mới xảy ra hôm qua.

Tâm Đức, Đức
Tôi rất cảm thông với các vị thuyền nhân, ai đă trải qua thân phận của những thuyền nhân mới cảm thông được.