|
ĐĂ CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ !
Nhật Tiến
LTS.- Nhà văn Phan Lạc Tiếp, một thành
viên ṇng cốt của Ủy ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển ( Boat People
S.O.S Committee) dự tính trong năm 2005 sẽ cho ấn hành một cuốn sách do
ông biên soạn nhằm tổng kết những công việc do Ủy Ban đă từng vận động
cho thuyền nhân từ năm 1980 cho đến khi Ủy Ban chấm dứt nhiệm vụ. Cuốn
sách mang tựa đề VỚT NGƯỜI BIỂN ĐÔNG, sẽ do Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển
(trụ sở ở miền Đông Hoa Kỳ )ø ấn hành. Trong tiến tŕnh biên soạn, tác
giả có mời nhà văn Nhật Tiến tham gia một bài viết v́ ông cũng là một
thành viên của Ủy Ban, hơn thế nữa, c̣n là một trong những nhân chứng đă
trở thành nguyên nhân để Ủy Ban được thành lập. Bài viết của nhà văn
Nhật Tiến đáng lẽ chỉ ra mắt độc giả khi cuốn VỚT NGƯỜI BIỂN ĐÔNG được
phát hành, nhưng trong thời điểm hiện tại, cộng đồng VN đang sôi nổi
tranh đấu chống lại vụ nhà cầm quyền Cộng Sản áp lực hai chính phủ Nam
Dương và Mă Lai phá bỏ những tấm bia tưởng niệm thuyền nhân ở Pulau
Bidong và Galang; v́ vậy, với sự chấp thuận của hai nhà văn Phan Lạc
Tiếp, Nhật Tiến và với sự đồng ư trong tinh thần hợp tác chia sẻ của nhà
văn Trương Anh Thụy đại diện Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển, ṭa soạn xin
đăng tải bài viết ấy ngay trong số này, như một phần đóng góp vào những
nỗ lực đấu tranh mà cộng đồng VN hiện đang thực hiện.
Cho đến bây giờ, vào thời điểm 2005, con
số vừa tṛn để có thể nói là hai mươi lăm năm nh́n lại, tôi chỉ
coi thảm kịch trên đảo Kra trong vịnh Thái Lan là một khúc phim cũ ṃn
đă bị khoả lấp bởi sức sống vươn lên mạnh mẽ của thuyền nhân tỵ nạn và
bởi thời gian bao giờ cũng làm tăng lên sự phai nhoà của trí nhớ.
Nhưng không lẽ một thảm kịch như thế,
trong đó đă chất chứa không biết bao nhiêu nỗi đau thương, nghẹn ngào,
cũng như đă chôn vùi biết bao nhiêu cái chết đớn đau tức tủi của những
con người vô tội lại không c̣n được nhắc đến?
Nếu mà như thế th́ lịch sử đâu có lư do để tồn tại? Và nếu thế hệ mai
sau muốn t́m lại dấu chân của các bậc cha anh, họ sẽ lấy ǵ để mà soi
rọi ? Rồi thêm nữa, nhà cầm quyền CS trong nhiều năm đă từng gây nên
nguyên nhân sâu xa của thảm kịch thuyền nhân, gián tiếp xô đẩy hàng
triệu con người ra biển cả chẳng lẽ lại được phủi tay, vỗ trắng trách
nhiệm?
Chỉ mới nêu ra ngần ấy câu hỏi đă thấy dù là thuyền nhân hay chưa từng
là thuyền nhân, cũng không ai muốn để cho những thảm kịch đă xẩy ra ở
biển Đông phải chịu số phận chôn vùi trong lớp bụi quên lăng của thời
gian.
Cho nên việc ôn lại những đau thương của thuyền nhân tỵ nạn trong muôn
ngàn nỗi đau thương của bao nhiêu con người khác nữa kể từ sau biến cố
30-4-1975 sẽ chẳng phải là việc khơi lại hận thù, nhưng là chuyện cần
thiết phải làm. Làm để dựng lại một mảnh gương lịch sử cho đời sau, để
ǵn giữ những chứng tích trước công lư ngơ hầu sau này trả lại công bằng
cho mọi thành phần dân tộc trong ngày phán xét của lịch sử. Và thêm nữa,
một mai, khi b́nh minh ló dạng trên quê hương, những tượng đài gian dối,
những danh nhân biển sắt đầu đường bất xứng, những tên tuổi được ca ngợi
một cách xảo trá trong sách vở mà trong nước đă in ...tất cả sẽ nhờ
những công việc nhắc nhở này mà được sắp xếp lại. Tính chất vàng thau
không thể v́ nhu cầu chính trị nhất thời hay riêng tư mà lẫn lộn trong
những trang sử của dân tộc v́ chúng ta chỉ có thể trân trọng gửi lại cho
con cháu những trang sử ghi chép sự thật mà thôi !
Trong những ư nghĩ như thế, tôi hoàn toàn tán đồng và khích lệ các cựu
thành viên của Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S
Committee) biên soạn và ấn hành cuốn sách mà bạn đọc đang cầm trên tay.
Về phần cá nhân, tôi xin đóng góp bài viết nhỏ này trong cương vị của
một trong những nhân chứng đă trở thành nguyên nhân để Uỷ Ban nói trên
được thành lập.
Sau 30-4-1975, tôi không có cơ hội đi
thoát và đă ở lại Việt Nam.
Trong hơn 4 năm trời ṛng ră, tôi đă chứng kiến hay đă trải qua khá đầy
đủ những hệ lụy của một con người sống trong cái mô h́nh xă hội do những
người Cộng Sản tạo dựng nên. Đấy là một xă hội hoàn toàn mất tự do, đầy
dẫy những bất công phi lư và toàn bộ guồng máy điều hành đất nước đă
được đặt trong tay những con người ngu muội, thiển cận, nh́n đâu cũng
thấy kẻ thù và sẵn sàng áp đặt mọi thứ luật lệ bất công lên đầu các tầng
lớp quần chúng để dễ dàng trấn áp.
Cho nên cùng với hàng triệu con người VN khác, tôi đă xuống thuyền đi
t́m Tự do !
Nhà văn Phan Lạc Tiếp, vốn là một sĩ quan Hải Quân, đă từng ra khơi ở
Thái B́nh Dương, khi nhắc đến biển, ông không khỏi đưa ra những h́nh ảnh
hăi hùng: "Có những đêm trời biển đen đặc liền nhau như một miếng thạch,
sóng gió ầm ầm, con tàu dài trên trăm thước, có thể chở cả trăm chiếc xe
GMC, khi tàu cỡi trên ngọn sóng, rồi bất th́nh ĺnh rơi thơm xuống trũng
sóng, hẫng đi, toàn thân tàu rùng rùng chuyển ḿnh như có thể găy ra làm
đôi. Khi mũi tàu chúi xuống, lái tàu bị hổng trên không, con tàu chơi
vơi, bánh lái nhẹ tênh, mũi tàu chao đi, mất hướng trong mấy phút. Những
phút như thế, dù đă dự trù, chằng buộc, vẫn không thiếu những đồ vật rơi
đổ. Đôi khi dầu lộn nước, máy tắt, đèn tắt. Cả tàu tối om trong năm bảy
phút. Dù biết mọi sự sẽ được sửa chữa, b́nh thường, nhưng không phải
những người trên tàu không lo sợ. V́ thế tôi nghĩ rằng chỉ những người
không hiểu ǵ về biển mới dám liều đi như thế. "
Thế mà chúng tôi đă ra đi, không phải bằng con tầu dài trên trăm thước
chứa nổi cả hàng trăm xe vận tải, mà trên những con thuyền mỏng manh dài
không quá hai chục thước, chật ních người, chỉ ngồi bó gối cũng đă hết
chỗ.
Và cũng đă có nhiều người ra đi trong t́nh trạng như thế, không chỉ một
lần mà ba, bốn lần, thậm chí cả trên chục lần.
Không phải là họ không biết những hiểm nguy đang chờ đón họ ở ngoài khơi
mù mịt. Nhưng họ chỉ có một tâm niệm duy nhất là trốn chạy khỏi cái xứ
sở, cái quê hương của chính họ vốn đang nằm trong ṿng kiềm toả của chế
độ CS.
Thế mới biết, khi đem lên bàn cân, chế độ toàn trị của Cộng sản c̣n
khủng khiếp hơn nhiều. Bởi v́ đi ra biển, người ta có thể chết trong
khoảnh khắc, nhưng ở lại đất nước trong thời điểm đó, con người chỉ thấy
cái tương lai sống lầm than và cái chết ṃn mỏi kéo dài suốt cả một đời
người.
Và đúng như đă có thể dự đoán trước,
đoàn người chúng tôi ra đi vào ngày 19 tháng 10 năm 1979 đă gặp và chịu
đựng rất nhiều thảm hoạ. Bốn lần bị cướp biển lục soát lấy hết
mọi vật dụng quư giá, 21 ngày ṃn mỏi bị lôi kéo vào đảo Kra trong Vịnh
Thái Lan sống đầy đoạ trong đói khát, tủi nhục, thường xuyên bị hành hạ
cho đến khi được Cao Ủy Ty Nạn Liên Hiệp Quốc cứu ra.
Tôi không bao giờ quên cái buổi tối hôm 18-11-1979, ngày đầu tiên sau
khi chúng tôi được đưa trở lại đất liền bằng con tầu do ông Theodore
Schweitzer, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tại Thái Lan thuê ra đón chúng tôi từ đảo
Kra về tỉnh Songkhla, miền Nam Thái Lan.
Tôi đă ngồi bó gối dưới ánh sáng của ngọn đèn néon mờ mờ toả xuống hàng
hiên phía sau trạm cảnh sát Quận Pakphanang, ḷng ngổn ngang trăm mối v́
không biết rồi đây tương lai ḿnh sẽ đi về đâu. Dù cơ thể đă suy yếu sau
nhiều ngày gian khổ nhưng đầu óc tôi vẫn c̣n khá tỉnh táo để có thể nhớ
lại những ǵ đă xẩy ra sau 10 ngày lênh đênh trên biển và trong 21 ngày
sống trong ṿng kiềm toả của đám hải tặc lui tới trên đảo Kra. Biết bao
nhiêu nỗi niềm cảm xúc đă trào dâng trong ḷng, nhưng trên tất cả hầu
như vẫn là một sự hối thúc mạnh mẽ, thúc đẩy tôi phải t́m mọi cách thông
báo chuyến đi hăi hùng của ḿnh cho thân nhân, cho bạn bè và đồng bào
trong nước được hay, v́ vào thời điểm đó đang c̣n rất nhiều người chuẩn
bị ra đi. Đồng thời tôi cũng muốn đánh động lương tâm thế giới để những
thảm kịch cướp bóc, hăm hiếp trên biển cả phải chấm dứt hay ít ra cũng
có cơ may giảm thiểu.
Dưới ánh sáng chập chờn và trong cái mái hiên lộng gió ấy, tôi đă viết
bài tường thuật: " Hành Tŕnh Đi T́m Tự Do Qua Ngả Thái Lan" mà sau này
nó đă được công bố rộng răi trên nhiều cơ sở báo chí, truyền thông và
cũng đă được Uỷ ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển cho in trong cuốn Hải
Tặc Trong Vịnh Thái Lan ấn hành năm 1981.
Bài viết đă có trong tay, nhưng phổ biến nó th́ phải kể tới sự hỗ trợ
đầu tiên của những người bạn mà tôi rất thân quư: Nhà văn Lê Tất Điều và
nhà văn Phan Lạc Tiếp. Họ chính là cái phao đầu tiên mà tôi bám víu để
thực hiện được điều ḿnh muốn làm, bởi nếu không có sự tiếp tay tận t́nh
của họ, tôi chẳng thể một ḿnh cáng đáng v́ sau vài ngày tạm trú ở trạm
cảnh sát, chúng tôi đă được đưa vào nhập trại tỵ nạn SongKhla, tài sản
của tôi khi đó chỉ có một chiếc quần đùi đă rách mướp, một cái áo nỉ cộc
tay và một đôi dép cao su một bên nhựa mầu xanh, một bên nhựa mầu đỏ, cả
hai bên đều đă đổi mầu bạc phếch do tôi đă lượm được đâu đó ở ven rừng
quanh đảo Kra, như vậy th́ làm sao tôi có phương tiện để giao dịch với
thế giới bên ngoài. Cái áo nỉ cộc tay cũng là thứ tôi lượm được trên đảo
mà nhân đây tôi xin phép được viết thêm đôi ḍng để làm sáng lại một thứ
t́nh cảm tốt đẹp mà tôi gọi là t́nh người.
Hồi mới bị kéo vào đảo Kra, tôi c̣n mặc một cái áo len rất dầy, rất ấm,
và nhờ nó, tôi đă trải qua được những đêm ngủ gần băi biển, chẳng có mái
che trên đầu, mỗi đêm trời mưa hai ba trận, phải chạy vào gốc cây rừng
ẩn trú trong khi gió lộng thổi rào rào quất vào mặt những hạt mưa lạnh
buốt. Thế rồi có một hôm tôi bị một thằng hải tặc nh́n thấy cái áo len
c̣n tươm tất, nó liền bắt tôi lột ra để cho nó lấy mang đi. Những ngày
sau đó, tôi lạnh run những lúc đêm về, nhưng may mắn sao, vào một lần đi
quanh đảo, tôi bắt gặp cái áo nỉ cộc tay của ai đó vứt ngay trên bờ cỏ.
Tôi đă lượm lên và mặc nó suốt những ngày c̣n lại trên đảo và cả hàng
tháng trời sau khi nhập trại Songkhla, cho măi tới lúc có tiền của thân
nhân tiếp tế, tôi mới mua được cái áo ấm khác thay thế. Và cho tới khi
đó, một vị phụ nữ đi cùng ghe đă tới gặp tôi. Bà cho biết cái áo nỉ ấy
là của bà, bị hải tặc lấy đi, nhưng sau chắc mặc không vừa nó vứt đi và
v́ thế tôi lượm được, nhưng không rơ là áo của ai. Những ngày sống trên
đảo, vị chủ nhân của cái áo ấy đă nh́n thấy tôi mặc, nhưng thấy tôi ốm
yếu, trời lại lạnh, nên bà lẳng lặng nhường cho tôi mặc. Nay mọi sự đă
ổn định, bà xin lại chiếc áo để giữ làm kỷ niệm. Tôi đă ứa nước mắt trả
lại cho bà, và những ngày sau, tôi vẫn c̣n khóc được mỗi khi nghĩ đến
tấm ḷng nhường nhịn chia sẻ của bà, đă dành cho tôi ở trong cái hoàn
cảnh mà ai nấy đều đói, lạnh và yếu đau hết.
T́nh người quả là thứ quư giá biết bao và không một thứ vật chất nào có
thể so sánh được. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hoạn nạn, nó lại là một thứ
hiếm hoi, cái không hiếm hoi dễ gặp th́ lại là sự dửng dưng, tàn nhẫn
như thái độ của toán lính hải quân Thái Lan đối với chúng tôi, chỉ một
ngày sau khi chúng tôi bị kéo vào đảo Kra.
Đấy là toán tuần tiễu của hải quân Thái đi trên chiếc tiểu đĩnh mang số
hiệu 15, xuất hiện ở ngay ngoài khơi đảo Kra vào đúng một ngày sau khi
chúng tôi đặt chân lên đảo. Họ đă dùng xuồng cập đảo để gặp chúng tôi,
hỏi han ghi chép đủ điều và sau cùng hứa hẹn sẽ quay trở lại trước khi
bỏ đi. Nhưng họ không bao giờ trở lại hết. Họ cũng chẳng màng đến việc
thông báo cho Cao Uỷ Tỵ Nạn ở Thái biết có sự hiện diện của 81 thuyền
nhân trên đảo Kra. Một sự tàn nhẫn và lạnh lùng đến độ khó hiểu!
Trong đoàn người đi cùng thuyền với tôi c̣n có cặp vợ chồng kư giả Dương
Phục và Vũ Thanh Thủy. Phục làm phóng viên của đài Phát Thanh Quân Đội.
Thuỷ làm ở đài Tiếng Nói Tự Do. Họ có nhiều đầu mối giao tiếp với các kư
giả ngoại quốc, đặc biệt là ở Pháp. V́ thế, sau khi toán hải quân Thái
Lan đă nuốt lời hứa, chúng tôi đành phải t́m một phương cách khác. Một
lá thư kư tên chung Vũ Thanh Thuỷ và Nhật Tiến viết cho ông Felix Bolo,
Chánh văn pḥng đại diện Pháp Tấn Xă ở Bangkok đă được gửi tay mang đi,
qua một ngư phủ có mặt trên một trong khoảng trên 50 con tầu hải tặc bu
quanh đảo. Nội dung lá thư ấy viết bằng tiếng Pháp, tạm dịch như sau;
Kính gửi :
Ông Felix Bolo, Chánh văn pḥng
Pháp Tấn Xă (AFP)
Bangkok - Thái Lan
Chúng tôi kư tên dưới đây là VŨ THANH
THỦY phóng viên Đài Tiếng Nói Tự Do (VOF) Việt Nam, và NHẬT TIẾN, nhà
văn miền Nam Việt Nam, Phó chủ tịch Trung Tâm Văn Bút VN, Hội viên Hội
Văn Bút Quốc Tế (P.E.N Club International), thuộc nhóm 81 người tỵ nạn (có
20 trẻ em và 25 phụ nữ) rời VN đi t́m tự do, trôi giạt trên biển 10 ngày
và tới đảo Kra trong vịnh Thái Lan (cách quận Pakphanang khoảng 6 giờ
tầu chạy) từ hôm 29 tháng 10 năm 1979.
Hôm nay, ngày 13 tháng 11, tức đă là
ngày thứ 15 chúng tôi sống trên đảo này trong điều kiện khủng khiếp,
khốn cùng: không thực phẩm, không thuốc men, tất cả những phụ nữ đều
phải trốn tránh ở trên núi hay trong rừng v́ sợ hăi bọn hải tặc Thái Lan.
Cái chết v́ sự đói khát, lạnh lẽo và sự bạo hành đă đe dọa chúng tôi
từng ngày (đứa con gái của Vũ Thanh Thủy mới sinh được có 4 tháng).
Xin hăy giúp chúng tôi.
Xin hăy thông báo càng sớm càng tốt tin
tức của chúng tôi tới tất cả các hăng thông tấn, tới Trung Tâm Văn Bút
Thái Lan, luôn cả Hội Hồng Thập Tự Quốc tế.
Xin đừng để chúng tôi chết trên đảo này
trong sự bị bỏ rơi và khốn cùng.
Xin thành thật cám ơn ông.
Xin gửi lời chào thân hữu của chúng tôi
tới ông JEAN CLAUDE POMONTI (báo Le Monde) và tới cô MARIE JOANIDIS.
Viết tại đảo
Kra ngày 13 tháng 11 năm 1979
VŨ THANH
THỦY - NHẬT TIẾN
Lá thư được gửi đi trong tâm trạng đợi chờ đằng đẵng, nhưng cũng chẳng
bao giờ chúng tôi có được hồi âm. Có thể nó đă bị vứt bỏ ngay giữa biển
khơi nên không tới tay người nhận, ḷng tin tưởng của chúng tôi về t́nh
người, vào khi đó, cũng v́ thế mà phai nhạt dần.
Nhập trại tỵ nạn Songkhla được ít ngày, ngoài thư từ thông báo cho nhà
tôi c̣n ở VN ( Đỗ Phương Khanh vượt biển tháng 4-1980, tạm trú ở Pulau
Tengah-Mă Lai), tôi đă liên lạc và báo tin về chuyến đi hăi hùng của
ḿnh cho một người bạn rất thân thiết mà tôi có địa chỉ, đó là nhà văn
Lê Tất Điều, người đă và hiện đang c̣n định cư ở San Diego. May mắn thay,
cùng cư ngụ ở một nơi với Lê Tất Điều c̣n có nhà văn Phan Lạc Tiếp, một
người bạn học cũ của vợ chồng chúng tôi thời c̣n cắp sách ở Hà Nội mà
sau 1975, chúng tôi không có địa chỉ liên lạc. Nhờ nỗ lực mau chóng và
chứa chan t́nh cảm chia sẻ, các anh Lê Tất Điều và Phan Lạc Tiếp đă phổ
biến rất rộng răi bài tường thuật " Hành Tŕnh Đi T́m Tự Do Qua Ngả Thái
Lan", đặc biệt là trên tờ Người Việt Cali của kư giả Đỗ Ngọc Yến, tờ
Việt Nam Hải Ngoại của Đinh Thạch Bích, Tờ Đất Mới của Vũ Đức Vinh, tờ
Văn Nghệ Tiền Phong của Nguyễn Thanh Hoàng, tờ Ngày Nay của Lê Hồng
Long, tất cả ở Hoa Kỳ, tờ Quê Mẹ của Vơ Văn Ái ở Paris, Pháp quốc, tờ
Độc lập của Vũ Ngọc Yên ở Tây Đức, tờ Chuông Sài G̣n của Nguyễn Vy Tuư ở
Úc Châu, cùng nhiều báo Việt ngữ rải rác khắp nơi trên thế giới nữa.
Nhưng điều may mắn hơn nữa, ở San Diego, ngoài Lê Tất Điều và Phan Lạc
Tiếp cư ngụ, c̣n có đông đảo đồng hương với nhiều nhân vật có uy tín, có
tên tuổi, như Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, hoạ sĩ Văn Mộch, luật sư Đinh
Thạch Bích, dược sĩ Lê Phục Thuỷ, ông Nguyễn văn Nghi..v.v..và đặc biệt,
có cả một tấm ḷng hết sức nhiệt thành và tha thiết với người Việt Nam,
đó là dịch giả người Hoa Kỳ, anh James Banerian nữa. Chính những nhân
vật này cùng các nhân sĩ khác trong cộng đồng VN ở San Diego đă mau
chóng thành lập một tổ chức đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của chúng tôi.
Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S Committee) chính
thức ra đời ngày 27 tháng 2 - 1980 với những hoạt động rất tích cực và
hữu hiệu, mà qua đó các bản cáo trạng gửi đi từ hộp thư dành riêng cho
trại tỵ nạn : P.O Box 3 Songkhla Thái Lan, kư tên Nhật Tiến - Dương Phục
- Vũ Thanh Thuỷ đă được phổ biến rộng răi, rồi những kháng thư thống
thiết đă được Ủy Ban soạn thảo và gửi tới nhiều tổ chức cũng như nhân
vật quốc tế, kể cả Quốc Vương và Hoàng Hậu Thái và đặc biệt là những vận
động của Uỷ Ban (cùng với tiếng nói của tờ Quê Mẹ ở Paris và nhiều tờ
báo Việt ngữ khác ở hải ngoại) mà nhiều con tầu Vớt Người Biển Đông như
Ile de Lumière, Cap Anamur, Médecins Sans Frontière... đă liên tục ra
khơi.
Sự đáp ứng sốt sắng cùng những sự bầy tỏ chia sẻ những đớn đau mà chúng
tôi đă phải chịu đựng của các đồng hương hải ngọai thực sự đă an ủi và
làm ấm ḷng chúng tôi, những thuyền nhân sống sót cư ngụ tại các trại tỵ
nạn ở Đông Nam Á, rất nhiều. Mỗi lần có đợt báo mới (Việt ngữ) vào tới
trại, ḷng chúng tôi rưng rưng không cầm được nước mắt khi được đọc
những bản tin tường thuật các cuộc họp mặt, các cuộc mít tinh, các cuộc
xuống đường ồn ào của đồng hương trên khắp thế giới mà nội dung chỉ nhằm
mục đích đấu tranh cho thuyền nhân tỵ nạn. Nhiều cáo trạng của chúng tôi
đă được đọc lại trong các buổi tổ chức này. Và đồøng bào khắp nơi đă
khóc cùng với chúng tôi qua những giọt nước mắt xót thương trước những
thảm nạn có một không hai trong nửa sau của Thế kỷ Hai Mươi này. Nói vài
lời tri ơn về những công cuộc này, tôi nghĩ là chưa đủ nhưng cũng có thể
là thừa. V́ đă chung một ḍng máu Việt, ai mà không thấu hiểu ư nghĩa
của câu: " Một con ngựa đau, cả tầu không ăn cỏ" .
Những con ngựa đau ấy đă có một thời kỳ làm nhân chứng tố cáo mạnh mẽ
trước dư luận thế giới, đặc biệt là trước chính phủ và nhân dân Thái.
Tôi c̣n nhớ một ngày trong tháng 4 năm 1980, vào buổi trưa lúc mọi người
trong trại đang dùng bữa th́ tên tôi đă được gọi trên loa toàn trại để
gọi ra tŕnh diện tại trạm cảnh sát Thái.
Th́ ra chính phủ Thái đă cử một Trung Tá cảnh sát lặn lội từ Bangkok về
Songkhla ở phía Nam, cách xa hàng ngàn cây số để điều tra hư thực về
những bản cáo trạng mà chúng tôi đă công bố. Nào vụ giam giữ 154 thuyền
nhân trên đảo Kra với nhiều nạn nhân bị xô xuống biển (tổng cộng có 5
con tầu vượt biên bị hải tặc kéo vào đảo trong lúc chúng tôi đang ở đó,
trong số này có 1 thuyền chỉ c̣n sống sót đúng duy nhất có một người sau
khi cả thuyền bị hải tặc xô xuống ở ngoài khơi cách bờ hàng trăm thước),
nào vụ một thiếu nữ trốn tránh trong bụi rậm bị hải tặc tưới dầu phóng
hoả xua ra khiến cho cô bị cháy hết cả một mảng lưng hàng mấy tháng liền
không nằm ngủ trong tư thế b́nh thường, nào vụ một ông già bị 4 tên hải
tặc trên đảo giữ chân, giữ tay và dùng tourne-vis đục một nửa hàm răng
trên để lấy đi mấy chiếc răng vàng...v.v...
Viên Trung tá cảnh sát Thái Lan mở hồ sơ chất vấn tôi đến đâu, tôi đều
gọi được nhân chứng trong trại ra trực tiếp xác nhận đến đó. Cuối cùng
thay v́ vẫn c̣n giữ thái độ giận dữ v́ chúng tôi đă " bôi nhọ danh dự
dân tộc Thái" mà ông ta có lúc ban đầu, sau khi nh́n rơ sự thực, chính
ông cũng đă phải rút khăn tay lau nước mắt v́ xót thương cho những hoàn
cảnh quá phũ phàng mà thuyền nhân VN đă phải chịu đựng.
Như trên tôi đă tŕnh bầy, thảm kịch trên đảo Kra trong vịnh Thái Lan
chỉ là một khúc phim cũ và đă bị khoả lấp bởi sức sống vươn lên mạnh mẽ
của thuyền nhân tỵ nạn và cũng bởi thời gian bao giờ cũng làm tăng lên
sự phai nhoà của trí nhớ.
Sự nhắc lại những đau thương của thuyền nhân tỵ nạn trong muôn ngàn nỗi
đau thương của bao nhiêu con người khác nữa kể từ sau biến cố 30-4-1975
là công việc dựng lại một mảnh gương lịch sử để cho các đời sau nh́n lại.
Nó cũng là một thứ chứng tích sống động trước công lư để sự xét xử sau
này, từ đó sẽ trả lại công bằng cho mọi thành phần dân tộc.
Hẳn cũng v́ những lư do đó mà trong tháng Ba năm nay (2005), hơn một
trăm cựu thuyền nhân từ nhiều nơi trên thế giới đă đến Mă Lai và Nam
Dương trong cùng một chuyến đi để thăm viếng mồ chôn những thuyền nhân
xấu số và thiết lập ở mỗi nơi một tấm bia tưởng niệm.
Thế mà chỉ trong ṿng không đầy 2 tháng
sau, nhà nước CS Việt Nam đă áp lực chính phủ hai nước này huỷ bỏ hai
tấm bia đó, đến nỗi tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một khuôn mặt trí thức
đấu tranh cho tự do dân chủ hiện c̣n đang sống ở trong nước đă phải thốt
lên trong một cuộc phỏng vấn do phóng viên Đinh Quang Anh Thái thực hiện
trên đài Little Saigon Radio ở Nam Cali qua điện thoại :
" Nếu thật sự có việc nhà cầm quyền Hà
Nội đă áp lực với hai chính phủ Mă Lai và Nam Dương đập phá bia tưởng
niệm, tức là miếu thờ của thuyền nhân Việt Nam ở Bidong và Galang, th́
đó là một hành động ngu xuẩn và tàn bạo không thể tưởng tượng được."
Vào thời điểm tôi viết bài này, tấm bia ở Galang, Nam Dương đă bị đục bỏ
đi rồi, c̣n tấm bia ở Pulau Bidong, Mă Lai th́ đang ở trong ṿng vận
động hay tranh căi, chưa biết số phận của nó sẽ ra sao.
Nhưng sự việc đă cho thấy nhà nước
Cộng sản VN dù đang kêu gào mở cửa, đổi mới, nhưng họ vẫn tiếp tục xuyên
tạc hay bôi xoá lịch sử.
Những tấm bia cụ thể có thể bị những
âm mưu chính trị đục bỏ nhưng ai có thể xoá được tấm bia đă ghi sâu
trong ḷng của những người Việt Nam tỵ nạn?
Thế th́ cái tṛ ngu xuẩn đ̣i phá bỏ những tấm bia lưu niệm ở Pulau
Bidong và Galang chỉ một lần nữa khẳng định thêm cái chính nghĩa mà
thuyền nhân đă mang theo khi họ liều chết ra khơi.
Ngoài những lư do kể trên, tôi cũng mong mỏi bài viết này, tuy nhỏ bé
nhưng cũng đủ thay cho một nén hương ḷng, thắp lên để tưởng niệm biết
bao nhiêu con người đă vùi thây oan khốc trên biển cả, trong rừng sâu,
trên đường họ trốn chạy một chế độ tàn bạo đang ở vào một thời kỳ mông
muội nhất so với cộng đồng nhân loại.
Garden Grove, California ngày 1 tháng
7 năm 2005.
NHẬT TIẾN
|