|
Hành tŕnh đi t́m tự do bằng tàu thuyền qua ngả Thái Lan
Nhật Tiến Đào thoát khỏi quê hương đang bị Cộng sản cai trị để t́m về một xứ sở tự do, đó là điều mà hầu hết những người Việt Nam hiện nay đều mơ ước. Trước chúng tôi và cả sau chúng tôi nữa sẽ c̣n nhiều đoàn người tiến ra biển Đông, bằng tàu thuyền, đem chính mạng sống của ḿnh thách đố với muôn vàn hiểm nguy một phần sống, chín phần chết. Có những đoàn người đă thành công rực rỡ, nay đă sống yên ổn ở một đất nước tự do, nhưng cũng có không thiếu ǵ những đoàn người đă chết dũng cảm trong âm thầm và tức tủi giữa sóng gió ngoài biển Đông. Chúng tôi đă tích lũy những kinh nghiệm sống của người đi trước để chuẩn bị cho chuyến đi của chính ḿnh, và chúng tôi cũng mong mỏi rằng cuộc hành tŕnh gian khổ của chúng tôi sẽ đem lại cho những người đi sau một số kinh nghiệm mới. Chính v́ tinh thần liên đới đó mà chúng tôi tường thuật lại chuyến đi của ḿnh, đồng thời chúng tôi cũng mong mỏi rằng những đau thương mà chúng tôi phải chịu đựng trên con đường đi t́m tự do sẽ góp phần làm rạng rỡ thêm ư nghĩa cao quư của hai chữ TỰ DO. Đoàn chúng tôi gồm 81 người, bao gồm những nhóm nhỏ của nhiều gia đ́nh chưa từng quen biết nhau, và chúng tôi chỉ thực sự gắn bó với nhau kể từ khi cùng nhau chia xẻ những biến cố đau thương mà chúng tôi đă trải qua trong cuộc hành tŕnh. Kiểm điểm lại, thành phần của chúng tôi khá phức tạp: Có những người thuộc giới văn nghệ sĩ như nhà văn, kư giả, phóng viên báo chí, đạo diễn ngành vô tuyến truyền h́nh, có những người thuộc giới khoa học kỹ thuật như giáo sư đại học, kỹ sư nông lâm, kỹ sư hóa học, chuyên viên ngành vô tuyến viễn thông, huấn luyện viên ngành sửa chữa cơ khí máy bay, cũng có cả thầy tu, ni cô, các sĩ quan từ cấp Úy đến cấp Tá đào thoát khỏi trại cải tạo của Cộng sản, nhưng thành phần đông nhất cũng vẫn là các anh chị em sinh viên thuộc đủ mọi phân khoa đại học Sàig̣n nằm trong hạn tuổi nghĩa vụ quân sự của nhà nước Cộng sản. Chúng tôi rời Việt Nam vào ngày 19-10-1979 xuất phát từ Vũng Tàu, dự định tiến về hướng Mă Lai với hy vọng được tàu bè của các nước tự do cứu vớt. Nhưng chỉ mới ra khơi được gần một ngày th́ biển động dữ dội. Tự liệu con thuyền mỏng manh 14 thước của chúng tôi không thể chịu nổi sóng gió to lớn, chúng tôi bắt buộc phải đổi hướng đi xuôi dọc theo bờ biển Việt Nam với chủ đích sẵn sàng chấp nhận số phận trở lại Việt Nam khi nào con thuyền không c̣n hy vọng đi xa. Quả nhiên, qua sang ngày thứ ba th́ thuyền của chúng tôi bị chết máy, b́nh điện lại hư không thể cho máy nổ được trở lại. Thế là chúng tôi đành bó tay mặc cho sóng gió đưa đi qua mũi Cà Mâu và sau đó đẩy chúng tôi ngày càng xa hải phận Việt Nam. Kể từ đó chúng tôi mất định hướng, không chấm nổi toạ độ con thuyền, đành phó mặc cho sóng gió đưa đi. Tám ngày lênh đênh trôi giạt, dù ở trên thuyền đói ăn, thiếu uống trầm trọng (có người phải đi tiểu rồi uống), nhưng chúng tôi vẫn phải duy tŕ nhiệm vụ chia phiên tát nước bằng lon hộp cầm tay, 24 giờ trên 24 giờ để đối phó với t́nh trạng nước vào thường xuyên trong các khoang thuyền. Đêm đêm, chúng tôi cũng c̣n chia phiên gác lửa đốt lên làm hiệu với hy vọng tàu bè lưu thông trên biển nh́n thấy mà cứu vớt. Tiếc thay chúng tôi đă gặp 7, 8 con tàu đi qua trước mắt, nhưng không một tàu nào quan tâm tới dấu hiệu báo nguy khẩn cấp của chúng tôi. Cho tới ngày thứ 10 của cuộc hành tŕnh th́ chúng tôi gặp một tàu đánh cá, khi đó chúng tôi mới biết là ḿnh đă trôi giạt vào vịnh Thái Lan. Những ngư phủ trên tàu này đă mở một cuộc lục soát đầu tiên trên con tàu của chúng tôi, tịch thu tất cả đồ nữ trang, đồng hồ và một số quần áo mà họ ưng ư. Sau đó họ sửa chữa máy móc, cho mượn b́nh điện để nổ máy và chỉ tọa độ cho chúng tôi đi vào đất liền. Nghe tiếng máy nổ ṛn ră trở lại trên thuyền, chúng tôi vô cùng phấn khởi và vui mừng. Nhưng niềm vui chẳng kéo dài được bao lâu, ngay 5 giờ chiều của ngày hôm sau chúng tôi lại bị hai tàu đánh cá khác kè sát, những ngư phủ lại nhảy qua lục soát chúng tôi thêm 2 lần nữa, đồ đạc quần áo c̣n lại đều bị tước đoạt. Tuy mất mát đủ thứ nhưng chúng tôi vẫn khấp khởi mừng thầm bởi v́ cho tới khi đó những phụ nữ trên thuyền của chúng tôi chưa có ai bị xâm phạm. H́nh như v́ không cướp bóc được vật ǵ quư giá, những ngư phủ trên một trong hai tàu đă tức giận muốn húc ch́m con thuyền của chúng tôi. Toàn bộ phụ nữ và trẻ em trên thuyền phải kéo nhau lên hết trên mui quỳ lạy họ liên hồi, do đó con thuyền mong manh của chúng tôi chỉ bị húc văng xuống biển nguyên một cái mái che ở trên cùng dùng làm chỗ cho tài công quan sát, đặt hải bàn để lèo lái con thuyền. Cuối cùng một chiếc tàu đánh cá bỏ đi, c̣n một cái nữa đă ḍng giây qua thuyền của chúng tôi để kéo vào hoang đảo Kra nơi cách địa phận quận Pakpanang thuộc tỉnh Nakornsri thamaraj chừng 5, 6 giờ tàu chạy. Trời lúc đó đă tối hẳn, chủ tàu cho đốt đèn lên, lùa chúng tôi qua hết bên tàu của họ, rồi sau đó lại tuần tự kêu từng người trong nhóm chúng tôi ra để lục soát tỉ mỉ một lần nữa với mục đích t́m vàng hay dollars cất dấu. Mọi người sau khi bị khám xong được đưa trở lại thuyền cũ, cứ thế cho đến hết. Cuối cùng chúng tôi được họ kéo thuyền cho cập sát vào đảo để đổ bộ lên, c̣n con thuyền th́ họ ḍng qua một băi khác để tháo máy móc mang đi.
Toàn thể chúng tôi ai nấy đều vui mừng khi được đặt chân lên
đất liền dù chỉ là một cái đảo hoang. Cơn sợ hăi v́ đắm thuyền giữa
biển cả kéo dài từng giờ, từng phút triền miên trong tám ngày đêm
liên tiếp bây giờ kể như đă chấm dứt. Chúng tôi nằm lăn trên băi
biển đầy sỏi đá san hô, ḷng nhẹ nhàng như vừa cất được một gánh
nặng, sau đó ai nấy đều ngủ được một giấc an lành nhất kể từ ngày ra
đi. Sau đêm đau thương và kinh hoàng đó, chúng tôi bắt buộc phải tổ chức cho phụ nữ đi trốn theo lời căn dặn của những người Việt Nam tới trước. Có nhóm phụ nữ lẻn vào rừng sâu nằm yên chịu trận với mưa gió lạnh lẽo suốt ngày đêm giữa những bụi rậm um tùm đầy rắn rết và bọ cạp, những con bọ cạp chỉ chích nhẹ một ṿi là bắp thịt sưng vù lên và nhức buốt lên tới óc. Cũng có nhóm trèo lên núi cao chênh vênh, vách đá trơn trợt để chui vào những bụi cây um tùm, trong số này đă có những người bị trượt ngă xây xát khắp ḿnh mẩy, nhưng rất may không có ai bị rớt xuống băi biển qua vách đá dựng đứng ở cả hàng trăm thước bề sâu. Nhiều phụ nữ khác chui nhủi vào những mỏm đá ngoài bờ biển ngâm chân suốt ngày đêm trong nước mặn, lúc nào lưng cũng phải khom xuống v́ trần đá thấp. Cho đến nay, chúng tôi vẫn không thể hiểu được làm thế nào mà những phụ nữ yếu đuối như thế lại có thể chịu trận trong những điều kiện thảm thương đó trong suốt 18 ngày liền c̣n lại trên đảo. Chỉ biết tối hôm cuối cùng được cứu ra, hầu hết bị ngất xỉu và phải mất một thời gian khá lâu mới cử động lại được như b́nh thường. Nếu như thảm kịch đó kéo dài thêm một thời gian ngắn nữa, chắc chắn sẽ có người bại liệt.
Công việc tiếp tế cháo loăng (khẩu phần cho một người mỗi
bữa là một chén nhỏ) cho đám phụ nữ đi trốn đều do đàn ông thanh
niên phụ trách. Nhưng biện pháp đi trốn như vậy không phải là nơi
nào cũng an toàn. Những ngư phủ Thái lan quanh vùng hầu như đều rất
thông thạo địa thế ở trên đảo v́ thế trong những ngày kế tiếp họ thi
nhau đi lùng sục cả ban ngày lẫn ban đêm. Nhiều ổ trốn tránh đă bị
phát hiện và những phụ nữ đă bị lôi ra đánh đập và chịu đựng những
cuộc hăm hiếp tập thể có khi lên đến cả chục tên cùng một lúc. Nhiều
tên có máu bạo dâm đă vừa hành lạc vừa đánh đập phụ nữa đến ngất
xỉu, có người bị chúng đấm liên hồi vào bụng đến nỗi bây giờ hăy c̣n
bị chấn thương. Trong t́nh cảnh hăi hùng đó, chúng tôi phải thay đổi
chỗ ẩn núp cho phụ nữ luôn luôn bằng cách đưa họ vào rừng sâu hơn,
leo trên núi cao hơn, công việc tiếp tế hàng ngày v́ thế mỗi lúc mợt
cam go hơn, có một chỗ xa nhất chúng tôi đă phải vừa đi vừa về mất
hết nửa. Nhưng sự vất vả đó không thấm thía ǵ so với những nỗi gian
truân mà các phụ nữ phải chịu đựng khi đi trốn. Đói, lạnh, mưa gió
có khi rả rích suốt đêm, quần áo ướt đẫm hàng tuần lễ không một lúc
nào khô tráo, đă thế nỗi lo sợ bị cướp phát hiện, nỗi kinh hoàng về
đêm nghe tiếng sột soạt trong bụi, có thế rắn, rết, cũng có thể là
những đám chuột rừng đông nhung nhúc thường hay ḅ ra từng đàn đi
lục lọi đồ ăn ở khắp mọi nơi. Kinh khủng nhất là những con rết trên
núi cao, con nào con nấy to gần bằng cái đũa cả để ghế cơm hàng
ngày. Chỉ cần nghĩ đến thôi cũng đă đủ rợn người, vậy mà những phụ
nữa của chúng tôi đă thực sự nằm giữa rừng sâu trong bóng tối âm
thầm lạnh lẽo với đủ loại sinh vật kinh tởm bao quanh, sẵn sàng tấn
công bất cứ lúc nào. Trong khi số phận đàn bà phải chịu trăm cay
ngh́n đắng như thế th́ đàn ông, con trai cũng không tránh được những
nỗi hiểm nguy. Hàng đêm chúng tôi không bao giờ được ngủ yên một
giấc cho tới sáng, có khi là trời thường xuyên đổ mưa 3, 4 trận,
phải chạy đi t́m gốc cây ẩn núp (chúng tôi ngủ ngoài trời) nhưng
điều đó không đáng kể bằng sự thường xuyên chúng tôi bị những toán
cướp soi đèn vào mặt mấy lần mỗi đêm để lùng t́m phụ nữ. Có những
người bị chúng lôi ra đánh đập để tra khảo bắt chỉ chỗ trốn của phụ
nữ, cũng có người đă bị chúng xiết cổ bằng dây thừng đến rướm máu để
bắt cung khai kẻ nào c̣n cất dấu vàng hay đô la. Thê thảm nhất là
một trường hợp v́ muốn bảo vệ tiết hạnh cho người thân, có người đă
bị chúng dùng búa ŕu bổ vào đầu đến bể trán rồi xô xuống vách đá
ngoài bờ biển, nhưng rất may không chết. Một ông già mang mấy chiếc
răng vàng ở hàm trên đă bị chúng dùng dao nậy ra lấy vàng, đau đớn
đến ngất xỉu. Nói chung trong suốt khoảng thời gian c̣n lại sống
trên đảo không một ngày nào chúng tôi không phải trải qua những cơn
kinh sợ hăi hùng cả ngày lẫn đêm. Bởi v́ tàu đánh cá th́ đông, toán
này đi toán khác tới, nhất là những hôm biển động họ đậu đen nghẹt
quanh lối vào băi biển ở trên đảo. Có những lần chúng tôi đếm được
trên dưới 40, 50 chiếc. Tất nhiên không phải là tàu nào cũng đưa ngư
phủ vào đất liền quấy nhiễu. Nhưng chỉ cần một vài tàu thôi cũng đủ
gieo rắc cho chúng tôi biết bao tủi nhục, kinh hoàng. Trong cơn
tuyệt vọng cùng cực đó, chúng tôi chỉ c̣n biết cầu nguyện và chờ
trông con tàu hải quân bữa trước trở lại cứu vớt chúng tôi ra khỏi
địa ngục hăi hùng. Nhưng càng trông càng đỏ mắt, trong thâm tâm
chúng tôi, nỗi tuyệt vọng bị bỏ rơi trên hoang đảo bắt đầu nhen nhúm
và ngày càng trở nên rơ ràng sâu đậm hơn. Chúng tôi bắt đầu cảm thấy
thấm thía cái ư nghĩa chua xót và hăi hùng của cuộc sống không có
ngày mai với số lương thực ngày càng cạn dần và cơn mỏi mệt, ră rời
v́ vẫn phải thường trực đối phó với những sự sách nhiễu, lùng sục
của các ngư phủ cả ngày lẫn đêm. Cũng trong ngày 15-11, chúng tôi phát hiện một trực thăng bay qua đảo. Mọi người xô ra vẫy gọi, nhưng tiếc thay họ đă bay xa. T́nh thế tưởng như không c̣n hy vọng ǵ th́ hai hôm sau họ trở lại, đổ xuống băi biển cho chúng tôi gạo, cá khô và thuốc men. Chúng tôi mừng rỡ như những người được tái sinh. Thế giới bên ngoài đă biết đến chúng tôi. Chúng tôi đă không bị hoàn toàn bỏ rơi trong những nỗi gian khổ, nhục nhằn, kéo dài từng ngày, từng giờ, nhất là về phía các phụ nữ, chúng tôi thấy rơ họ đă kiệt sức sau bao nhiêu ngày đêm bị hành hạ và trốn chui trốn nhủi trong những điều kiện hết sức hăi hùng và thê thảm. Việc chúng tôi được tiếp tế, các ngư phủ Thái Lan đều nh́n thấy rơ. Chúng tôi hy vọng rằng họ đă biết chúng tôi được thế giới bên ngoài bảo trợ th́ mọi hành động man rợ của họ sẽ chấm dứt. Nhưng đó chỉ là điều chúng tôi suy luận, trong thực tế th́ trái lại, có những toán ngư phủ mới đến, lại sùng sục dữ dằn hơn bao giờ hết. Họ lục lọi để kiếm chác thêm ít quần áo đă xơ xác của chúng tôi, lấy đi từng cái áo mưa rách, từng cái áo len của trẻ con, và phụ nữ nào mệt mỏi quá không đủ sức đi trốn nữa phải ḅ về th́ lại bị tiếp tục hăm hiếp. Có người bị cả ngày lẫn đêm. Nhưng điạ ngục kinh hoàng đó chỉ kéo dài thêm đúng một ngày nữa là chấm dứt. Buổi chiều ngày 18-11 nhóm người tiếp tế cho chúng tôi bằng trực thăng hôm trước nay trở lại bằng một tàu tuần của Hải quân. Chúng tôi được biết đó là cơ quan HCR của Liên Hiệp Quốc ở Thái Lan do ông Theodore G. Schweitzer III là đại diện. Ông Schweitzer cặp đảo của chúng tôi cùng với một bác sĩ mang theo dụng cụ y khoa và thuốc men. Trong lúc các người bệnh được đưa lại băng bó, chích thuốc, th́ chúng tôi đưa ông Schweitzer đi thăm một số địa điểm ẩn náu của phụ nữ, có người nghe tin được cứu đă tự động ra về. Có người trốn dưới hang sâu phải chờ chúng tôi tới kéo lên. Chính ông Theodore Schweitzer đă chứng kiến cái cảnh chúng tôi lôi từng phụ nữ từ khe đá lên mặt đất. Ai nấy nh́n thấy ánh sáng mặt trời đều ngất xỉu đến nỗi chính ông Theodore Schweitzer cũng phải xúc động quay đi không dám nh́n. Ống kính máy ảnh của ông đă thu được nhiều tài liệu quư giá: Cảnh kéo phụ nữ từ dưới khe đá sâu, cảnh một nơi ẩn náu của phụ nữ giữa một bụi cây rậm rạp, giữa rừng sâu, cảnh một bụi cây bị ngư phủ Thái tưới dầu đốt cháy xém mà lần đó đă làm phỏng nửa mảng lưng của một thiếu nữ trong nhóm chúng tôi, cảnh nấm mồ thô sơ phủ bằng đá san hô không có được một tấm mộ bia, và biết bao nhiêu khuôn mặt hốc hác, sợ hăi kinh hoàng khác đă được thu vào ống kính. Trước t́nh cảnh cùng cực của chúng tôi, ông Schweitzer đă an ủi, khích lệ chúng tôi rất nhiều, ông tuyên bố mọi sự hăi hùng từ nay sẽ chấm dứt. Chúng tôi vô cùng xúc động và nhân đấy, nhân danh nhóm tổng số 157 người của 4 tàu tỵ nạn được cứu khỏi đảo Kra ngày 18-11-1979 chúng tôi xin ngỏ lời tri ân ông Theodore Schweitzer và toàn thể nhân viên trong phái đoàn LHQ đă theo ông tới đảo. Sự tận tâm và sốt sắng của quư vị đă thể hiện một cách cao quư tinh thần của bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của quư vị, những việc mà quư vị đă làm được cho chúng tôi kể từ ngày mà chúng tôi được phát hiện, đă là những việc hữu hiệu, nhanh chóng và cần thiết nhất, chúng tôi nghĩ rằng dù có ai sốt sắng và tận tụy cách mấy cũng khó có thể hành động được hữu hiệu hơn như thế. Hiện nay chúng tôi đang ở tại quận Pakpanang, chờ làm thủ tục trước khi được đưa về trại tỵ nạn Việt nam ở Songkhla. Trong thời gian chờ đợi này, chúng tôi không quản ngại bất cứ v́ lư do ǵ, đă mạnh dạn lên tiếng tố cáo trước pháp luật của nhà nước Thái Lan, trước cơ quan HCR của Liên Hiệp Quốc về những sự chà đạp man rợ của một số ngư phủ Thái Lan đă dành cho chúng tôi, nhất là đối với các phụ nữ trong suốt 21 ngày chúng tôi sống trên đảo Kra. Đau thương nào rồi cũng trôi qua, thời gian sẽ là liều thuốc xoa dịu mọi nỗi tủi nhục và đau buồn. Chúng tôi rất muốn áp dụng lời dạy của Phật Thích Ca là oán chỉ nên cởi chứ không nên thắt. Nhưng ở đây vấn đề không phải thuộc khía cạnh của triết lư về đời sống mà là vấn đề an toàn của những người tỵ nạn Việt nam đi sau chúng tôi sẽ c̣n dịp trôi dạt theo lộ tŕnh mà chúng tôi đă đi qua. Chúng tôi hy vọng rằng sự tố cáo của chúng tôi trước lương tâm và dư luận thế giới về chuyến đi hăi hùng này sẽ làm cho chính phủ Thái Lan lưu tâm hơn nữa về t́nh trạng hăm hiếp và cướp bóc mà theo đồn đăi th́ nhiều ngày nay đă xẩy ra, nhưng bây giờ mới có nhân chứng cụ thể. Chúng tôi hy vọng răng sự tố cáo của chúng tôi sẽ tạo cơ hội cho các cơ quan có thẩm quyền quốc tế như HCR của Liên Hiệp Quốc, Hội Hồng Thập Tự quốc tế, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền quốc tế t́m được những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ nhân phẩm và tính mạng của những người tỵ nạn đi sau không c̣n bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát như chúng tôi nữa. Và sau cùng, chúng tôi cũng hy vọng rằng sự tố cáo của chúng tôi sẽ tạo được dư luận ảnh hưởng đến bạn bè thân nhân c̣n ở Việt Nam hay đă ra ngoại quốc, để mọi người cùng bảo nhau thận trọng hơn nữa trong lộ tŕnh đi t́m tự do qua ngă Thái Lan, tốt hơn hết là nên t́m con đường khác và trong trường hợp không thể đừng th́ không bao giờ nên mang theo phụ nữ. Tự do là điều vô cùng cao quư. Cuộc hành tŕnh t́m về tự do nào cũng phải trả giá. Chúng tôi mong mỏi với những kinh nghiệm bằng máu và nước mắt của chúng tôi khi được phổ biến tới những người đi sau th́ cái giá nếu họ có phải trả cũng sẽ không phải là cái giá quá đắt.
Pakpanang ngày 24 tháng 11 năm 1979 |