|
Khái niệm về Bản Sắc Văn Hóa Huế
Huế đẹp, Huế thơ
Huế mơ, Huế mộng
Huế… tộng bộng hai đầu!
Bên cạnh một sự diễn đạt và mô tả “nghiêm chỉnh” cái dáng vẻ
thơ mộng đáng yêu của Huế, bỗng có một một ư nghĩ mang đầy
hài tính “ngẵng” (nghịch ngợm) hay “ba lơn” (đùa cợt) rất
tửng tửng… kiểu Huế để nhận xét về Huế.
Thế nhưng đứng về mặt nhân văn thuần túy th́ sự diễn đạt cái
đẹp, cái thơ… chưa nói được một cá tính độc đáo nào về Huế
cả. Bởi v́ không riêng Huế mà Hà Nội, Sài G̣n, Nha Trang, Đà
Lạt, Cần Thơ và nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, thậm chí
những thành phố khác khắp nơi trên thế giới cũng có thể có
những nét chung chung “đẹp và thơ” như thế chứ chẳng riêng
ǵ Huế. Vậy mà bằng một cách nói b́nh dân rất họat kê, dấy
lên từ ư thức hay tiềm thức, cái… “tộng bộng hai đầu” lại
nói lên được một trong những nét độc đáo của bản sắc văn hóa
Huế. “Tộng bộng hai đầu” v́ (1) nếp sống chắt chiu nhưng cầu
kỳ và trang nhă trong cái nghèo của Huế; (2) hiếu khách và
hiếu học: Huế mở rộng tấm ḷng, mở rộng trí óc, mở rộng cửa
nhà, phường xóm để đón bạn bè, đón sĩ tử, đón tư tưởng Đông
Tây Từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc; (3) Huế rất khép kín
trong điệu sống (sợ khen chê, sợ vạch áo cho người xem lưng)
nhưng lại rất nhạy cảm và nhạy bén đối diện, chắt lọc mà lại
dễ dàng thỏa hiệp với cái mới, cái lạ, cái khác biệt trong
đời sống.
Là một dải đất hẹp như cái ṿng eo nằm giữa hai miền đất
nước, nếu Huế không “tộng bộng hai đầu” để đón nhận và giữ
được thế quân b́nh giữa nhiều lực kéo từ khác nhau đến đối
kháng, Huế hôm nay có thoát khỏi số phận của Châu Ô, châu Rí
một thời của Chiêm Quốc hay không?!
Khi nói về văn hóa, những học giả cổ điển sính chữ thích tầm
nguyên hay dành một khái niềm quá bao quát và lớn lao cho
h́nh tượng văn hóa như: Văn hóa Tiền sử, văn hóa Trung cổ,
văn hóa Ấn Hà, văn hóa Đông Sơn… Nhưng càng về sau nầy, khi
mức độ chuyên môn hóa càng cao th́ khái niệm văn hóa càng
được giới hạn trong những phạm vi cụ thể và rơ ràng hơn. Một
lọat các nhà nghiên cứu văn hóa thời danh cuối thế kỷ 20 đă
xem văn hóa như là “Lối nghĩ, lối sống của một nhóm người
trong một khung cảnh xă hội nào đó.” Phải chăng, sự tinh tế
và phong phú của tri thức nhân lọai đă giúp người ta không
cảm thấy hụt hẫng khi nói đến những mảng văn hóa độc đáo mà
một thế hệ đă quen với “định đề văn hóa” không thể nào chấp
nhận được. Ví dụ như văn hóa Nghị trường, văn hóa Chính
khách, Văn hóa Hippy, văn hoá Jazz, văn hóa Rap, văn hóa Cơm
bụi, văn hoá Tây ba-lô… và vô số khái niệm văn hóa trong
nhiều khung cảnh và lĩnh vực chuyên biệt.
Trong một bối cảnh nhân văn mang tính toàn cầu và quy ước
như thế, sự hiện diện của một h́nh thái văn hóa địa phương
như văn hóa Huế, văn hóa Sài G̣n, văn hóa Hà Nội trong bối
cảnh văn hóa Việt Nam, văn hoá Á Châu… sẽ không c̣n là một
vấn đề “khả hữu, có chăng” nữa mà là một thực tại tất yếu.
Như thế, vấn đề c̣n lại là xác định, là nhận diện cho được
những tính chất riêng biệt và độc đáo của mỗi cụm, mỗi nhóm,
mỗi vùng và mỗi miền văn hóa.
Đôi nét điển h́nh trong Bản sắc văn hóa
Huế.
Để xác định đôi nét tiêu về bản sắc (identity1) của văn hóa
Huế, trước hết thử đặt một cái nh́n khái quát về Huế2. Huế
là ai, Huế ở đâu, Huế có cái ǵ đáng nói?
Vào thế kỷ XIII, sông Thạch Hăn (Quảng Trị) từ thượng nguồn
đổ ra Cửa Việt là biên giới thiên nhiên của hai nước Đại
Việt và Chiêm Thành. Có nhiều giai đoạn chiến tranh và ḥa
b́nh xảy ra giữa hai nước Việt và Chiêm. Lực lượng Chiêm
Thành lúc bấy giờ do vua Chiêm là Chế Mân thống lĩnh. Chế
Mân tức Thái tử Bổ Đích (Harijit) là con của quốc vương
Indravarman. V́ vua cha đă quá già yếu , Chế Mân lên kế vị.
Mối giao hảo giữa hai nước Việt – Chiêm được cải thiện v́
lực lượng quân sự của cả hai nước đă mấy lần phối hợp chống
họa xâm lăng từ phía Bắc của quân Nguyên tràn xuống xâm lăng.
Năm1301, vua Trần Nhân Tôn nhường ngôi lại cho con là Trần
Anh Tôn
và trong lần viếng thăm Chiêm Thành, thái thượng hoàng Trần
Nhân Tôn đă gặp Chế Mân. Vua Trần Nhân Tôn, rất có thể v́
cảm phục sự anh tuấn của chế Mân trong cuộc chiến chống quân
Nguyên, đă hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Năm
1306, Chế Mân sai sứ giả mang châu báu, vàng bạc ra kinh đô
Đại Việt xin cưới công chúa Huyền Trân nhưng vua Trần Anh
Tông cùng triều thần do dự không chịu gả. Sau đó Chế Mân lại
xin dâng đất hai châu Ô và châu Ríù làm sính lễ nên nhà Trần
lúc bấy giờ mới chấp thuận lời cầu hôn. Mùa Hè năm 1306, vua
Anh Tôn tổ chức một phái đoàn đưa tiễn công chúa Huyền Trân
về Chiêm Quốc. Đến cửa biển Ô Long, tức là cửa biển Thuận An
bây giờ, vua cho đổi tên là Tư Dung (tức là dung mạo đẹp đẽ,
đoan trang của người con gái) . Từ thời điểm này Huế chính
thức nhập vào giang sơn Việt Nam. Nhưng cuộc t́nh Việt Chiêm
của Chế Mân và Huyền Trân không kéo dài được lâu. Chỉ một
năm sau, 1307, Chế Mân chết. Theo nghi thức cổ truyền của
Chiêm Thành th́ hoàng hậu cũng phải lên dàn hỏa để thiêu
sống theo vua. Vua Trần Anh Tôn đă cho Trần Khắc Chung,
tương truyền làø người t́nh cũ của công chúa Huyền Trân ,
đem vệ binh vào kinh đô Chiêm Thành, dùng mưu kế cứu được
công chúa đưa về Bắc. Sau đó Huyền Trân đă đi tu giữa tuổi
thanh xuân cho hết cả quảng đời c̣n lại.
Năm 1558 giữa lúc cuộc chiến tranh Lê – Mạc xảy ra, triều
đ́nh nhà Lê lâm vào cảnh thoái trào: Chúa chiếm quyền vua.
Sau khi Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết chết, người em là
Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa để giữ ḿnh và
nuôi chí lớn. Nguyễn Hoàng mở mang khai khẩn xứ Đàng Trong
thành một giang sơn riêng. Các chúa Nguyễn thay nhau trị v́
xứ Đàng Trong từ đó cho đến khi Nguyễn Aùnh thắng cuộc binh
đao tranh hùng với Tây Sơn ṛng ră 20 năm và lên làm vua lấy
hiệu là Gia Long (1802-1820).
Hai châu Ô và Lư c̣n được mang tên là Thuận châu và Hóa châu,
từ đó có tên là Thuận Hóa về sau cũng vốn là đất đai tranh
chấp giữa hai dân tộc Chiêm Việt do những chạm trán và thù
hận giữa hai bên. Nguyễn Hoàng đă biến đất từ phía nam Đèo
Ngang trở vào, mà căn cứ địa là Huế, thành một nơi "vạn đại
dung thân". Lúc đầu các chúa Nguyễn đóng đô ở Ái Tử (1558-
1570), sau dời sang ở Trà Bát (1570- 1600), rồi Dinh Cát
(1600- 1687), Phước yên (1626- 1636). Từ năm 1636 đến 1687,
phủ chúa Nguyễn đặt ở Kim Long rồi sau đó dời về Phú Xuân.
Từ năm 1653, giáo sĩ Đắc-Lộ đă dùng từ “Kẻ Huế” để nói về
nơi đặt thủ phủ của các chúa Nguyễn. Tất cả công tŕnh xây
dựng Đàng Trong của các chúa Nguyễn khởi đi từ Huế.
Tiền thân của Huế là Thuận Hóa - Phú Xuân. “Huế” là cách đọc
trại ra từ chữ “Hóa”. Tuy thành Phú Xuân được xây dựng từ
khi chúa Nguyễn Phúc Khoát vừa mới lên nối ngôi năm 1738,
nhưng hơn một nửa thế kỷ lọan lạc, thay ngôi đổi chủ liên
miên, văn hóa chưa có điều kiện định h́nh.
Năm 1802 Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn lên làm vua lấy hiệu
là Gia Long, chọn Huế làm kinh đô. Giai đọan nầy chính là
thời kỳ Huế được xây dựng thành một kinh đô bề thế với nhiều
công tŕnh kiến trúc tráng lệ, mang tính dân tộc và nghệ
thuật cao. Gần 150 năm trị v́ với 13 đời vua của triều
Nguyễn, Huế trở thành đất “thần kinh văn vật” trong khung
cảnh thiên nhiên sông núi hữu t́nh.
Từ phía Tây bán cầu, sau một ngày của múi giờ sáng tối, nh́n
về Việt Nam, ngó về Huế có thấy Huế rơ hơn khi c̣n ở trong
Huế hay không?
Về mặt di dân và ngụ cư, Huế cũng có nét hao hao giống Mỹ.
Người Huế và người Mỹ đều không phải là người bản địa mà là
dân di cư và nhập cư. Người Huế từ Đàng Ngoài theo chân chúa
Nguyễn vào Nam, đẩy người Chiêm Thành ra khỏi đất gốc của
ho.ï Cũng vậy, người da trắng từ châu Aâu vượt đại dương vào
châu Mỹ, đẩy người da đỏ vào rừng sâu. Quá tŕnh khai phá
đất mới cũng đồng thời với quá tŕnh xây dựng một bản sắc
văn hóa mới. Cái khác giữa hai bối cảnh của Ta và Người là
đất cũ Chiêm Thành là dăi đất hẹp, núi ăn ra tận biển trong
cảnh thiên nhiên non xanh nước biếc; trong khi châu Mỹ là
vùng đất vạm vỡ bạt ngàn. Người Chàm thiên về ca múa với
những điệu Hời buồn năo nuột, lặng lẽ rút lui dần trước sự
xâm lấn của lớp người mới đến; trong lúc người Da Đỏ thiên
về chiến đấu với tiếng tù và xung trận của tù trưởng, chỉ
rút lui khi thua trận trên chiến trường đă ngập tràn máu lệ.
Chính bối cảnh lịch sử và xă hội thời “dựng nước” đóng vai
tṛ quyết định cho bản sắc văn hóa về sau nầy.
Khác với bản năng xông xáo với tinh thần quyết đấu của người
Mỹ ứng phó quyết liệt với người da đỏ tại châu Mỹ, lớp người
Huế tiền phong đối diện với một thế giới Chiêm Thành huyền
bí. Cái thua và cái thắng; cái được và cái mất không tính
theo những giá trị rạch ṛi quy ước đầy lư tính. Do đó, từ
bản chất, văn hoá Huế tiềm tàng giá trị phi vật thể. Người
Huế mang nét trầm lặng, u buồn và hoài cổ. Nét buồn của Huế
dịu và trầm như thoáng hương xưa khơi lên từ ḷng đất chôn
dấu những ḥai niệm và toát ra từ thiên nhiên kỳ tú trong
sương khói. Cái buồn trong cung cách sống cũng như trong cảm
nhận nghệ thuật của Huế “buồn” nhưng không “trệ”, nghĩa là
nét phù trầm của tâm hồn không đồng nghĩa với sự đau thương
và tuyệt vọng của người theo cỗ xe tang như một số tác giả
đă nh́n Huế.
Trong nghệ thuật và cảm quan th́ Huế vương mang nét lắng
đọng và u trầm như vậy, nhưng trong đời thường th́ người Huế
lại rất xông xáo và thực tế. Nh́n vào bức tranh hiện thực
của những người Huế đang ở quê nhà hay lập nghiệp xa quê,
nhất là người Huế di tản ra nước ngoài sau năm 1975, th́ sẽ
thấy rơ ràng tinh thần vừa lạc quan, hài hước (theo cái
ngẵng và cái ba lơn truyền đời của Huế), vừa chịu thương
chịu khó “ham việc tiếc công” của con nhà nghèo cố vươn lên
hơn là h́nh ảnh: “Người Huế buồn trong lúc thế gian vui…”
quá ảm đạm và bi quan như một nhà văn rất yêu Huế từng lên
tiếng quan ngại về một trạng thái “Tâm Lư Huế” đau thương vô
hạn kỳ v́ phải gánh chịu tai trời ách nước triền miên của
người xứ Huế!
Lịch sử h́nh thành văn hóa Huế đi song song với lịch sử
“Chín Chúa mười ba Vua” kéo dài từ 1558 đến 1945 của Nguyễn
Triều. Suốt 387 năm để h́nh thành một nền văn hóa cung đ́nh
Triều Nguyễn, kết hợp với văn hóa dân gian mà tạo thành văn
hóa Huế. Bản sắc của nền văn hóa Huế mang đậm nét văn hóa
cung đ́nh và văn hóa đại chúng b́nh dân Việt Nam. Bởi thế,
trong cái xuề x̣a “tộng bộng hai đầu” của Huế lại ẩn chứa vẻ
kín đáo thâm cung và nét trang đài và quư phái của cung đ́nh.
Bản chất cung đ́nh và lề thói b́nh dân không bao giờ hoà hợp
và trộn lẫn nhau nên Huế thiếu một sự “trung b́nh cộng” như
trắng trộn đỏ thành mầu hồng. Chính đây là nguồn gốc sâu xa
của một trạng thái tâm lư mâu thuẫn đi t́m cái không bao giờ
có của Huế. Tâm lư Huế là nghèo mà sang, vui mà vẫn man mác
buồn, sống hiện tại mà vẫn thiết tha về quá khứ nên hiện
tượng “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” rất phổ biến trong tâm
t́nh người Huế.
Một danh xưng đề nghị sửa lại : Danh xưng “THỪA THIÊN
HUẾ”
Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và xă hội của Thừa Thiên–Huế rất
khác với Quảng Nam–Đà Nẵng và Sài G̣n–Gia Định. Trong quá
tŕnh lịch sử kể từ thời khởi thủy của Huế th́ Huế đồng
nghĩa với Thuận Hóa nên trong Huế đă có Thừa Thiên. Ngược
lại, trong Đà Nẵng không có Quảng Nam và trong Gia Định
không có Sài G̣n. Do đó, việc xóa bỏ sự phân định và phân
biệt danh xưng “Thừa Thiên-Huế” như là hai địa bàn riêng
biệt để chỉ c̣n lạiï một danh xưng thống nhất: “Huế” cho dăi
đất từ đèo Hải Vân ra đến sông Mỹ Chánh là một việc làm vừa
hợp lư về mặt lịch sử và văn hóa; vừa hợp t́nh về mặt tâm lư
và t́nh cảm.
Về phương diện địa dư và hành chánh, Huế là thị xă của tỉnh
Thừa Thiên. Thừa Thiên có 8 quận (hay huyện): Phong Điền,
Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới,
Nam Đông. Có Thể chia Thừa Thiên ra làm 3 vùng văn hóa chính:
Văn hóa nông nghiệp, văn hóa ngư nghiệp và văn hóa nương rẫy.
Từ cách sống, cách ăn, cách mặc, cách nói, cách vui chơi hội
hè đ́nh đám th́ cả ba vùng văn hóa Thừa Thiên có rất nhiều
điểm chung, điển h́nh cho tính đại chúng của nền văn hoá
làng xă Việt Nam.
Nếu chỉ đứng về mặt địa lư và cấu trúc thuần túy th́ sự xác
định biên giới của Huế phải đi từ nhỏ đến lớn: Đại Nội là
giang sơn riêng của vua và triều đ́nh gồm Hoàng thành và Tử
cấm thành. Thành Nội là phần đất nằm trong phạm vi Kinh
thành Huế bốn mặt thành giới hạn bởi cửa Đông Ba, cửa Chánh
Tây, cửa Thượng Tứ, cửa Ngăn, cửa Hữu, cửa An Hoà… và cộng
thêm dăi đất hẹp bao quanh Thành Nội mỗi bề từ 4 đến 7 cây
số thường được xem là Thành Phố Huế. Từ cửa Ngọ Môn được coi
như là trung tâm thành phố Huế, chỉ cần đi bộ khoảng một giờ
đồng hồ tối đa là có thể đến một trong các “cột mốc” cuối
cùng của Thành Phố Huế như: An Hoà, Bao Vinh, Băi Dâu, Đập
Đá, An Cựu, An Lăng, Long Thọ, Văn Thánh. Qua khỏi lằn ranh
nầy là địa bàn thuộc về làng xă, quận huyện Thừa Thiên.
Người ở trong nội vi của thành Phố Huế thường tự coi ḿnh là
người Huế, c̣n người ở các vùng ngoài Huế là dân ruộng, dân
biển, dân phường. Hay thậm chí là “dân nhà quê”! Ngược lại
th́ người làng quanh Huế cũng tự coi ḿnh là “dân Quê” để
phân biệt với người ở Huế là “dân Phố”, dân Dinh”!
Với người ngoài Huế th́ Thừa Thiên hay Huế đều là Huế. Trong
lĩnh vực địa lư và chính trị nội bộ địa phương th́ có Thừa
Thiên và Huế nhưng trong lĩnh vực nhân văn và nhân chủng th́
không có sự phân biệt gữa Thừa Thiên và Huế. Trên bản đồ chỉ
thấy Hà Nội, Huế, Sài G̣n. Biên giới nhân văn của Huế được
xác định rằng: Đông giáp Biển Đông, Tây giáp Trường Sơn, Bắc
giáp sông Mỹ Chánh, Nam giáp đèo Hải Vân. Không có người nào
là người Thừa Thiên và cũng không có văn hóa nào là văn hóa
Thừa Thiên mà chỉ có NGƯỜI HUẾ và VĂN HOÁ HUẾ. Người Huế ở
thành phố hay ở các quận huyện đều tự nhận diện ḿnh là
NGƯỜI HUẾ – Có thể thêm chi tiết phụ là người Huế ở vùng nào
– chứ không một người Huế nào nói với một người xứ khác rằng:
“Tôi là người Thừa Thiên”. Cũng thế, khi ra nước ngoài,
người Việt tự nhận diện ḿnh là “người Việt Nam” chứ không
ai đi nói với một người Mỹ, người Nga rằng: “Tôi là người
làng Hương Cần”; hay “Tôi là người Huế” cả!
Trong quá khứ đă thành nếp cũ, về mặt tâm lư, sự phân biệt
Thừa Thiên và Huế, vô h́nh chung đồng nghĩa với sự phân biệt
“Nhà Quê” và Thành Phố. Sự phân biệt nầy là một cách nói
khác của khái niệm “quê mùa lạc hậu” đối với “phốâ phường
văn minh”!
Do hoàn cảnh lịch sử có sự xung đột gay gắt và do nhu cầu
chiến thuật và chiến lược, sự phân ranh Thừa Thiên và Huế
được thiết lập v́ lư do hành chánh, quân sự nội tại của nó.
Cũng như v́ đời sống kinh tế khó khăn, mạng lưới giáo dục
hạn chế, môi trường truyền thông lạc hậu, ngăn cách nên sự
phân biệt QUÊ và TỈNH đă tồn tại trong suốt một chiều dài –
khá dài – của lịch sử.
Tuy nhiên, trên thực tế th́ xương sống và linh hồn của “văn
minh” và văn hóa Huế lại nằm ở địa bàn Thừa Thiên. Sông
Hương, con sông như mái tóc mây của Huế, từ nguồn đến biển
quấn quít với Thừa Thiên, chỉ có một đọan rất ngắn chảy qua
ḷng thành phố Huế. Sông Bồ, sông Truồi, núi Kim Phụng, núi
Thiên Thai, núi Truồi, đèo Hải Vân, biển Cảnh Dương, cửa Tư
Dung, phá Tam Giang, đồi Thiên An, đồi Vọng Cảnh… là cảnh
quang thiên nhiên làm nên xứ Huế cũng đều ở địa bàn Thừa
Thiên. Cho đến lăng tẩm, đền đài, chùa chiền làm nền móng
nhân văn và làm phong phú cho vẻ đẹp của Huế cũng thuộc về
Thừa Thiên. Những món ăn tạo nên phong vị độc đáo nhất của
Huế, những nghề nghiệp tạo nên phong thái kinh tế riêng bịêt
của Huế cũng ở các làng quanh Huế. Và cốt lơi là con người
xứ Huế, ngoại trừ ḍng dơi vua chúa nhà Nguyễn Phúc tự nhận
chánh quán của ḿnh là “Gia Miêu, Ngoại Trang, Thanh Hoá”c̣n
hầu như tất cả dân cư trong thành phố Huế đều có chánh quán
của ḿnh là các làng xă Thừa Thiên.
Nói tóm lại là sẽ không có một Huế thật sự là xứ Huế bây giờ
nếu Huế chỉ là thị xă hành chánh, Huế đứng độc lập hay tách
rời Huế với Thừa Thiên. Cho nên, cái danh xưng “kép” THỪA
THIÊN HUẾ có vẻ như không nói lên được một h́nh ảnh của toàn
cảnh xứ Huế rất gợi h́nh và gợi t́nh non nước đúng nghĩa,
đáng yêu.
Hội Huế
Sau gần 30 năm người Việt thật sự ra khỏi cái “rốn” của ḿnh
để đến định cư tại một nước khác, tiếp cận với nhiều giống
dân khác trên thế giới, người ta mới có dịp nhận ra ḿnh rơ
hơn là khi c̣n ở quê nhà… nhất mẹ nh́ con! Với một nền văn
hóa truyền thống nông nghiệp và làng xă quây quần sau lũy
tre xanh và trong phạm vi ruộng đồng, kinh rạch quê ḿnh,
ngay người Việt sinh sống truyền đời trên vùng đất nầy cũng
rất ít có cơ hội tiếp xúc với vùng kia. Rất nhiều người Việt
trên ba vùng Bắc, Trung, Nam chờ măi đến khi định cư tại một
địa phương nào đó xa xứ mới có cơ hội lần đầu tiên gặp người
khác miền, khác xứ.
Nhận ra ḿnh, nhận ra người, t́m đến nhau như một chỗ dựa
tinh thần là động lực đầu tiên của quá tŕnh lập hội. Hội
đoàn là một chỗ dựa t́nh cảm của những người cùng hoàn cảnh
xuất thân, cùng chia sẻ một môi trường tương tự về văn hóa
và ngôn ngữ. Cho nên suốt 30 năm qua, trong khung cảnh tự do
lập hội ở các nước ngoài, các đoàn thể người Việt đă trải
qua một mùa “bội thu” về số lượng các hội đoàn đă xuất hiện.
Và cũng v́ “bội thu” nên cũng rất dễ dàng “lạm phát”. Bên
cạnh những hội đoàn có đầy đủ tư cách pháp lư và nhân sự th́
cũng đă có nhiều đoàn thể “tưng bừng khai trương và âm thầm
đóng cửa” .
Các hội đoàn liên quan đến Huế cũng không tránh ra khỏi trào
lưu chung vào thời kỳ đầu mới định cư tại nước ngoài. Tuy
nhiên, với thời gian đi qua, sự gạn lọc tự nhiên đă đă giữ
lại những hội nhóm có thực chất, có thực lực và xóa tên dần
những hội đoàn có danh mà không có thực.
Theo Bùi Đ́nh Thiện trong Ủy Ban Liên Lạc Đồng Hương Huế tại
Hải Ngoại th́ hiện nay những Hội Đoàn liên quan đến Huế ở
nước ngoài có lịch sử hoạt động từ 10 đến 20 năm theo con số
ước định là: Mỹ (27), Canada (8), Úùc Châu (11), Aâu Châu
(10), răi rác các nơi khác (9). Con số các nhóm Nhớ Huế hay
Hội Huế ở trong nước cũng hiện diện trong nhiều thành phố
lớn. Mặc dầu con số tự nó chỉ là sự biểu hiện mang một ư
nghĩa tương đối. Tuy vậy, nó cũng nói lên được rằng, trong
lịch sử xa quê, người Huế khắp nơi vẫn không quên cội nguồn
và vẫn tha thiết hướng về quê mẹ.
Nói đến tinh thần nầy, một tác giả Khuyết Danh đă viết trong
báo Tuổi Trẻ xuất bản tại quê nhà, rằng:
“Người Huế thường phản ứng chậm. Vẻ bề ngoài và hành động
không hô ứng tiếp liền nhau. Hay nói cách khác, giác quan
tiếp nhận cảm giác và nội tâm cứ hành hai nhịp khác nhau và
giữa hai nhịp đó là một khoảng dành cho nụ cười, tiếng dạ
thưa, sự e dè, cân nhắc. Đó là một loại "phản ứng hẹn giờ",
nhưng một khi phản ứng phát ra, nó có tính cách dứt khoát,
không văn hồi. Đó là nét tinh Huế mà người ta gọi là "thâm
trầm", "thâm thúy".
Người dân Ô Lư chất chứa trong tâm khảm ḿnh một món nợ tinh
thần đời đời với công chúa Huyền Trân ngày xưa đă vùi quên
tuổi thanh xuân của ḿnh mưu cầu hạnh phúc cho người khác.
Đó là một sự lưu đày biệt xứ nhưng tự nguyện và vị tha.
Người ta bảo đất Thừa Thiên này vừa là vườn ươm vừa là bệ
phóng nhân tài, cũng có nghĩa nơi đây vừa là địa điểm đào
tạo, rèn luyện con người vừa là môi trường thiên nhiên hun
đúc bồi dưỡng tư chất cho tuổi thanh niên, lập nghiệp để rồi
sau đó đàn chim rời tổ bay xa.
Người con của Huế cảm thấy khó ḷng rời xa bàn thờ tổ tiên
hoặc cơi nhà vườn của ḿnh. Tuy nhiên vẫn có cảm nghĩ chưa
bỏ nhà ra đi vẫn chưa viên thành vận số của ḿnh. Và một khi
xa xứ, bắt đầu nảy nở trong tâm thức kẻ ly hương một loại
t́nh cảm mới: t́nh cảm hoài hương. Loại t́nh cảm này có tính
cách siêu h́nh, thâm sâu như t́nh con với mẹ, nó âm ỉ như
mạch ngầm, như than hồng vùi dưới tàn tro. Xin đừng xem đó
là một thứ t́nh cảm nhi nữ thường t́nh, ủy mị. Nó vừa giúp
con người không quên nguyên quán của ḿnh, vừa thôi thúc con
người sống chẳng phải cho bản thân, mà cho một vận hội chung,
có tính vị tha, hướng thượng. Trong nhận thức ấy, con người
lưu vong gầy dựng hội đoàn, tập thể ái hữu hướng vọng về quê
hương, xem đó như những ốc đảo t́nh cảm giữa đời sống mênh
mông.”
Các hội đoàn người Huế tại Hải Ngoại có khuynh hướng kết hợp
hai mặt văn hóa và tương trợ song song mạnh hơn là chỉ có
tinh thần thân hữu thuần túy.
Về mặt văn hóa, những hội Huế châu Âu có ưu thế về mặt nghệ
thuật và âm nhạc Huế. Trong nhiều năm qua. Những làn điệu
dân ca và âm nhạc Huế, cung đ́nh cũng như dân dă đă được
tŕnh tấu nhiều nơi trên thế giới. Điển h́nh của âm nhạc Huế
được mang ra giới thiệu ở nước ngoài là các thể loại sau đây:
Ḥ Mái Nh́, Ḥ Mái Đẩy, Ḥ Bài Thai, Ḥ Giă Gạo... Ca Huế
với những giai điệu: Lưu Thủy, Hồ Quảng, Xuân Phong, Điểu
Ngữ, Nam Xuân, Tư Mă Tương Như, Tiên Nữ Tống Lưu Nguyễn, Tự
Trào, Tự Thán, Trường Thán… Một số bài cổ như Lưu Thủy, Hành
Vân và một số các điệu khác như Nam Ai, Nam B́nh, Cổ Bản, Tứ
Đại Cảnh v.v...
Riêng người Huế tại Mỹ th́ lại tỏ ra rất năng nỗ về mặt sách
báo “Nhớ Huế”. Ngoài những đặc san Mùa Xuân hay Mùa Hè mà
bất cứ Hội Huêá nào cũng có hàng năm th́ mấy chục năm qua,
những tờ báo thường kỳ chuyên đề về Huế cứ đều đặn xuất bản
với những đề tài nghiên cứu, khảo luận, hồi kư, sáng tác về
Huế tưởng như không bao giờ đứt đọan như Tuyển Tập Nhớ Huế
của Vơ Văn Tùng (Cali), Tiếng Sông Hương (ở Washington DC
của Lê Chí Thảo, ở Dallas Texas của Nguyễn Cúc), Tuyển Tập
Phượng Vỹ (ở Houston của Tôn Nữ Quế Hương, ở Toronto Canada
của Y La L.K. Ngọc Quỳnh) v.v...
Về phương diện tiếng nói điạ phương và trong lĩnh vực ngữ
học, hầu như chưa có một địa phương nào trên đất nước Việt
Nam và một vùng đất nhỏ nào trên thế giới lại có một cách
nói riêng vừa thanh nhă mà cũng lại vừa có nhiều tiếng đệm
“luyến láy” hơiâ thô do ảnh hưởng tiếng Chiêm Thành – Mường
- (Mô, tê, tề, răng, rứa, ri, ni, ń, nớ, nợ, hè… )ø cùng sự
biến thể phụ âm đầu (nh = d; d = đ; v = b; gi = tr…) nguyên
âm giữa (anh = eng; uông = on; ong = on… ) và phụï âm cuối (
t = c; ng = n…) như Huế. Và theo bước đầu sưu khảo đang c̣n
hạn chế của người viết bài nầy th́ cũng chưa có một vùng đất
có địa bàn địa lư nào nhỏ bé ngang tầm xứ Huế trên thế giới
nầy lại có một “kho liễm” từ ngữ và khái niệm đứng riêng
trong toàn bộ ngôn ngữ của một nước đạt mức độ phong phú có
thể lập thành một cuốn từ điển riêng như tiếng Huế. Tác phẩm
Từ Điển Tiếng Huế của Bác sĩ Bùi Minh Đức xuất bản tại Việt
Nam lần đầu năm 2001 dày gần 600 trang và xuất bản lần thứ
hai năm 2004 dày 1.100 trang là một sự đóng góp quan trọng
vào kho tàng văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa Huế nói
riêng.
Ngày 11-12-1993, Quần Thể Di Tích Huế đă được tổ chức Liên
Hiệp Quốc UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hoá Thế Giới với sự
xác định bằng văn bản: “Ghi tên vào danh mục nầy là công
nhận giá trị ṭan cầu đặc biệt của một tài sản văn hóa hoặc
thiên nhiên để được bảo vệ v́ lợi ích của nhân loại.”
Ngày 11-7-2004, khi UNESCO công bố 28 danh mục của 28 di sản
“Phi Vật Thể” của các quốc gia và liên quốc gia trên ṭan
thế giới, Nhă Nhạc Cung Đ́nh Huế được công nhận là “Di Sản
Phi Vật Thể” của nhân loại.
Văn hóa Huế mang một dáng vẻ riêng trong ḷng văn hóa dân
tộc bằng cả hai giá trị vật thể và phi vật thể. Bởi vậy, một
hội đoàn liên quan đến Huế trước hết phải là một hội đoàn
mang đậm tính văn hóa bên cạnh các nhu cầu chung chung khác
mà bất cứ tổ chức sinh họat hội đoàn nào cũng có như thân
hữu, tương tế, sinh hoạt, tiêu khiển…
Nói đến văn hóa là nói đến một thực thể bao gồm ba mặt:
Truyền thống, con người và lối sống. Chính cái mới, cái lạ,
cái khác, cái độc đáo trội bật trong ba mặt nầy là chất liệu
điển h́nh xây dựng bản sắc của văn hóa. Martin Almond trong
loạt bài nhan đề The Vanishing Arctic (Bắc Cực Mù Khơi), nói
về bản sắc văn hóa độc đáo của giống người Eskimo xứ tuyết
vùng Bắc cực, nhận xét rằng: “ Một nền văn hóa thiếu bản sắc
cũng giống như một đồng tuyết vùng bắc cực vắng bóng những
ṿm trốn tuyết kỳ lạ của người Eskimo. Những biển tuyết một
màu trắng mênh mông nối nhau kéo dài đến vô tận, biết đâu và
t́m đâu ra dấu vết của truyền thống, con người và lối sống…
Văn hóa cần phải có những cột mốc của tư tưởng, những nét
độc đáo riêng biệt của đời sống. Nếu không đồ sộ như Kim Tự
Tháp của Ai Cập th́ ít nhất cũng mang những mày vẻ riêng,
tuy nhỏ nhoi và khiêm tốn nhưng xác định được những nét kiến
trúc điển h́nh ưu việt giống như những nóc nhà ṿm của người
Eskimo trên biển tuyết…”
Đất nước Việt Nam có ba miền Bắc Trung Nam. Mỗi miền và mỗi
điạ phương đều có một bản sắc văn hóa riêng. Văn hóa là câu
chuyện truyền đời tính bằng thế kỷ. Từng thời đại, từng
khuynh hướng và từng công tŕnh nghiên cứu có một cách nh́n
riêng về bản sắc văn hóa. Hà Nội, Huế, Sài G̣n… trong cái
chung của truyền thống văn hóa dân tộc, vẫn có từng nét
riêng.
Khi nói đến Huế, người ta thường tự hỏi, cái ǵ là “Chất Huế”.
Chất liệu tinh thần và vật thể nào đă làm cho một dải đất
hẹp nhất trong ba miền đất nước như Huế trở thành một sự níu
kéo dằng dặc và thiết tha đối với người ra đi, một ḍng sống
êm đềm với người ở lại và một cảm hứng đầy ư vị với người
mới đến.
Trần Kiêm Đoàn
|