TÀ THƯ VÀ BÚT LUẬN
Trần Kiêm Đoàn
Nan-in, một thiền sư Nhật thời Minh Trị (1868-1912), ngày kia tiếp một trí giả nổi tiếng học rộng. Nan-in pha trà, ông rót trà đầy chén của khách rồi mà vẫn thản nhiên tiếp tục rót. Vị trí giả nh́n nước trà cứ liên tục chảy tràn ra ngoài, lên tiếng: "Chén đầy rồi!" Nan-in trả lời: "Cái biết thông thường ở đời cũng như chén trà kia. Trí ngài đầy cả những ư tưởng, những suy luận thuần lư riêng tư. Làm thế nào tôi có thể chỉ Thiền cho ngài, trừ phi ngài đă đổ sạch trà đă đầy tràn lâu năm trong cốc riêng sâu kín của ngài ra!"
Thiên hạ đua nhau nói chính tà. Khổ thay, tiêu chuẩn chính tà trong văn chương và triết học không rơ ràng như những công thức hay dữ kiện khoa học. Xin mượn nhan đề một bài giảng củathiền sư Nan-in để gọi tên cho bài viết khiêm tốn nầy.
Tà tâm và hư luận là một cặp phạm trù nhân quả: Nghĩ quấy th́ viết quấy và ngược lại. Nan-in cho rằng, cái tâm là chủ đạo. Chân tâm hay tà tâm của chính ḿnh là điểm phát khởi đầu tiên mà mỗi người làm chủ hành động tự biết lấy. Trong đạo Phật th́ kiến tánh - thấy được chân tâm của ḿnh - là thành Phật, hay ít nhất là tiếp cận được với tánh Phật đă có sẵn trong mỗi con người.
Những ḍng viết sau đây không phải chính luận mà cũng chẳng phải là hư luận, nên không phải tâm thư mà cũng chẳng phải tà thư. Có chăng một mục đích th́ đấy cũng chỉ đơn giản là sự chia sẻ với bằng hữu. Nhân dịp tham dự tang lễ thân mẫu của nhà văn, nhà báo Tô Ngọc tại Sacramento, người viết bài nầy được gặp và đi uống cà phê lang thang với các bạn trong giới văn bút như anh Trần Văn Ngà, chủ nhiệm báo Tiếng Vang; các anh Ngô Viết Trọng, Tôn Thất Sang, Lưu Trần Nguyễn, thầy Nguyễn Châu... Và, sau đó mới có cơ hội t́m đọc được một lọat bài của tác giả Lưu Tịnh. Nay trong dịp nghỉ lễ Thanksgiving tại Mỹ, xin viết đôi ḍng tâm sự với bạn bè...
Cách đây không lâu, có một tác giả kư tên là Lưu Tịnh viết loạt bài nhan đề: "Cái Biển Lửa Khác Giữa Ḷng Hoa Sen" đăng trên báo Tiếng Vang, phát hành tại thành phố Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Dù chưa biết Lưu Tịnh là ai, nhưng để tỏ ḷng tương kính, tôi xin được tạm gọi là "ông". Nếu có sai về giới tính th́ cũng mong tác giả miễn chấp nhất cho, v́ trong sinh hoạt mang tính tri thức, nhân tính mới là quan trọng; giới tính chỉ mới là h́nh thức "ngoại b́ phu" chẳng có ǵ đáng kể.
Trong phần đầu của bài viết nầy, tôi chỉ muốn được làm công việc của một độc giả góp ư với tác giả hơn là người thảo luận hay tranh luận v́ hai lư do:
Thứ nhất, về mặt phê b́nh và lư luận: Những dẫn giải và suy diễn làm căn bản cho nội hàm luận điểm của ông Lưu Tịnh, chung quanh vấn đề khen hay chê, ủng hộ hay chống đối, nh́n từ phía nầy hay phía khác... đối với bản thân và chuyến về thăm Việt Nam của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai được tŕnh bày trong các bài viết, hầu hết không có ǵ mới lạ. Các báo chí Việt Ngữ tại hải ngoại và các trang Website đă viết quá nhiều về đề tài nầy lâu nay. Người ủng hộ th́ cho đấy là một cuộc hành huơng gây được ảnh hưởng rất tích cực và sâu xa về đời sống tâm linh. Kẻ chống đối th́ cho đấy là một chuyến đi không đúng lúc, chỉ có lợi cho thế đương quyền đang ra tay đàn áp tự do tín ngưỡng. Tưởng không nên tốn thêm giấy mực để lập lại. Và, riêng về phần tôi cũng chẳng có nhu cầu nào đi xa hơn để ủng hộ hay chống đối cá nhân và việc làm của thầy Nhất Hạnh cả. Tôi đă bày tỏ cái nh́n riêng của ḿnh qua một số bài viết đă được phổ biến trên báo chí và môi trường truyền thông.
Ở đây, tôi chỉ muốn trưng dẫn những diễn biến cụ thể mà mọi người đều có thể theo dơi và kiểm chứng được về trường hợp "trích-dẫn-sai-nguyên-văn- và- nguyên-nghĩa" từ cuộc nói chuyện của thầy Nhất Hạnh tại Việt Nam để kết luận vị tu sĩ Phật giáo nầy là người Mác-Xít.
Kết luận thuận hay nghịch (pros or cons) về một vấn đề, một nhân vật là quyền của người nghe, cũng như người đọc. Đấy cũng là sinh họat b́nh thường và lành mạnh của nếp sống tự do trong sinh họat nhân văn. Phần sau đây, người viết chỉ làm công việc tŕnh bày sự thực một cách khách quan, trưng dẫn những tài liệu mà bất cứ ai quan tâm, chả cần mất th́ giờ cầm bút cầm nghiên thêm phiền phức, cũng có thể tự ḿnh t́m hiểu trực tiếp được.
Thứ hai, về mặt phương pháp luận, thông tin cơ bản, khía cạnh triết học của vấn đề, cũng như về ngôn ngữ Phật học và tiếng Anh: Ông Lưu Tịnh, hoặc đă v́ thiếu cẩn trọng hay v́ quá nhiệt t́nh, nóng ḷng muốn tiến đến ngay một kết luận đă có sẵn trong định kiến, nên ông đă sử dụng một "phương pháp luận" khá phổ biến ngày nay mà ngày xưa văn học dân gian thường ẩn dụ qua h́nh tượng và tâm lư người mất búa. Khi định kiến của người mất búa đă cho rằng, người hàng xóm chính là kẻ ăn cắp búa của ḿnh th́ từ đấy, mọi hành vi, cử chỉ của người bị nghi ngờ đều rặt mùi... ăn cắp (!). H́nh tượng hoài nghi đó chỉ thay đổi khi người mất búa t́m ra cái búa bị mất. Tiếc thay, trong cuộc đời thường này, ít người t́m ra búa trong quăng đời ngắn ngủi c̣n lại của ḿnh, nên thường không có người ăn cắp búa thực hữu mà chỉ có cái tâm vọng động bị định kiến ăn cắp búa ngự trị suy nghĩ và hành động mà thôi. Bởi vậy, La Fontaine đă ngụ ư, "Tầm mắt của bạn bao giờ cũng bị giới hạn trong ṿng của cái bạn đang là..." Cái bạn "đang là"ø chính là cái nghiệp của bạn mà đức Phật đă nói trong kinh Hoa Nghiêm, "Mỗi người đều cưu mang trong con người của ḿnh cái Nghiệp. Chính v́ cái nghiệp cá nhân đó mà mỗi con người có một cái nh́n khác nhau."
Nh́n nhận sự khác nhau như một tất yếu của đời sống để bạn và tôi đều tránh được cải ảo tưởng dễ dăi rằng, ḿnh sẽ "tóm" được chân lư trong cuộc tranh thắng hơn thua hay sẽ lư luận thuyết phục được ai qua dăm bài viết đơn thuần như bạn đă làm và tôi đang làm.
Trong tiểu mục "Xin Nh́n Thần Tượng Lần Cuối" của bài viết cuối cùng trong lọat bài viết về Phật giáo, các nhân vật Phật giáo kéo dài trên báo Tiếng Vang gần 3 tháng, ông Lưu Tịnh đă hoàn toàn dựa trên bài viết của Janelle Combelic nhan đề: "Thich Nhat Hanh's Triumphant Return to Vietnam" ( Chuyến trở về Việt Nam đầy thắng lợi của Thích Nhất Hạnh). Bài nầy đăng trong bản tin Tam Cá Nguyệt (Quarterly)ø số mùa Hè, 2005 của Đạo Tràng Tâm An (Peaceful Heart Sangha) tại Fort Collins, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ. Muốn liên lạc với Đạo Tràng Tâm An , xin liên lạc số điện thoại: (970) 482-2506.
Về thể loại, đây không phải là một bản tin mà là một bài viết dưới dạng kư sự. Janelle Combelic cũng không phải là một phóng viên hay một nhà văn chuyên nghiệp mà là một Phật tử người Mỹ cùng đi trong phái đoàn Làng Mai của thầy Nhất Hạnh về Việt Nam. Bà Combelic đă viết lại bản tin nầy qua lời dịch lại của thông ngôn. Để hiểu nguyên nhân v́ sao J. Combelic đă không thuật lại được một cách trung thực nội dung lời nói của thầy Nhất Hạnh, xin bạn trực tiếp liên lạc với tác giả tại số điện thọai (970) 222-5590 hay bằng Email: Jecombelic@yahoo.com.
Điều đáng ngạc nhiên đầu tiên là ông Lưu Tịnh trích dẫn một đoạn nói chừng 1 phút trong bài pháp thoại nói bằng tiếng Việt suốt 3 giờ của thầy Nhất Hạnh mà không chịu theo dơi lắng nghe hay tham khảo trực tiếp nguyên bản bằng tiếng Việt. Trong một bối cảnh thuần Việt: Viết báo tiếng Việt cho độc giả người Việt; nhận định về lời nói của một tu sĩ Việt nói chuyện bằng tiếng Việt trước cử tọa người Việt; nhưng ông Lưu Tịnh lại căn cứ hoàn toàn trên một bản văn tiếng Mỹ (!). Trong khi đọan văn tiếng Anh của Janelle Combelic viết theo lối phỏng thuật tự do (Freelance Writing) qua sự diễn dịch của một người khác. Đă thế, ông Lưu Tịnh lại không dụng công tham khảo ngoại ngữ cẩn thận nên đă tạo ra sai sót thật đáng tiếc. Trong bản tiếng Anh, nguyên văn: "Not mincing words, he told them... " Ông Lưu Tịnh lại đọc nhầm thành ra: "Not missing words, he told them..." . (Mince: Tỉa xén, thanh lọc. Miss: Thiếu, mất).
Để độc giả và các bậc thức giả có cơ hội tự ḿnh kiểm chứng một cách độc lập và khách quan đâu là sự trung thực và đâu là sự sai lạc, thông dịch, suy diễn tùy tiện giữa lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh, lời tường thuật của Janelle Combelic và lời nhận định của ông Lưu Tịnh, người viết bài nầy xin mở lại "hồ sơ" như sau:
Trước hết, để nghe lại nguyên ngôn lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh: Quư vị có thể t́m qua một trong 3 nguồn tài liệu:
1- DVD thu h́nh trực tiếp buổi thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh trước Ủy Ban về Người Việt ở Nước Ngoài, Hà Nội ngày 22 tháng 3 năm 2005.
2- Trên internet, địa chỉ: http://www.locuyen.org/quansach.html
3- Địa chỉ trực tiếp của Web Làng Mai: http://langmai.org/ChuyenDiVietNam2005/PhapThoai.htm
Mở địa chỉ trang web, t́m phần thuyết giảng ngày 22-03-2005 là quư vị có thể theo dơi từng chi tiết nhỏ đoạn ông Lưu Tịnh trích thuật. Cũng trong địa chỉ nầy, quư vị có thể theo dơi tất cả các buổi thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh trong suốt thời gian ba tháng tại Việt Nam..
Ông Lưu Tịnh đă trích một đọan 3 ḍng từ một bài viết 33 ḍng, khoảng 600 chữ của Janelle Combelic, nguyên văn đoạn trích ngắn bằng tiếng Anh như sau:
At the end of the pilgrimage, Thầy spoke to several hundred government officials and members of Communist Party in Hanoi. Not mincing words, he told them, "We are true communists." We have possessions and we take care of one another. Paradise is not in the future; it is right here and now.
Xin tạm dịch:
Cuối chuyến hành hương, Thầy đă nói chuyện với hàng trăm viên chức chính quyền và và đảng viên đảng Cộng sản tại Hà Nội. Không cần gọt dũa chữ nghĩa, thầy đă nói với họ rằng, "Chúng tôi là những người cộng sản nguyên thủy." Chúng tôi có sở hữu và chúng tôi chăm sóc lẫn nhau. Thiên đàng không ở đâu xa; nó ở ngay đây và trong hiện tại."
Bài phỏng thuật của Janelle Comberlic căn cứ trên cuộc thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh, nhan đề là" Văn Hóa và Đạo ĐứcTrong Đời Sống Tâm Linh". Đọan văn 3 ḍng tiếng Anh của Combelic mà ông Lưu Tịnh đă trích dẫn để làm xương sống chọ sự suy diễn, phân tích và kết luận chủ quan của riêng ông sau nầy là một sự sơ hở đáng ngạc nhiên. Sự tóm tắt một cách sai lạc và cụt ḿnh cụt mẩy; hụt đầu hụt đuôi của Janelle Comberlic về lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh rất dễ gây ra một sự hiểu lầm chẳng những không đúng với nguyên văn mà c̣n phản lại nội dung thực sự và chủ ư của người nói.
Trong thư gửi cho tôi ngày 09-11-2005, tác giả Janelle Combelic (địa chỉ email và số điện thoại đă ghi ở trên) đă lấy làm tiếc về bản tin mà bà ấy đă viết về buổi nói chuyện của thầy Nhất Hạnh, xin trích nguyên văn một đoạn thư có liên quan đến vấn đề nầy:
Not being Vietnamese, unfortunately I understand very little of the perceptions of the Vietnamese Community, and I apologize if my short quotation from a dharma talk caused confusion among some readers. Certainly it is not my intention to create misunderstanding, but I can see how taken out of context it might be misinterpreted.
Long excerpts from two dharma talks by Thay given in Hanoi to government and party officials are contained in the Summer 2005 issue of the Mindfulness Bell (issue 39). I encourage you to contact David Percival at dperciva@unm.edu <http://us.f819.mail.yahoo.com/ym/Compose?To=dperciva@unm.edu> and order that issue of the magazine. (for more info go to www.mindfulnessbell.org <http://www.mindfulnessbell.org>)
Xin tạm dịch:
Không phải là người Việt Nam, đáng tiếc thay, tôi hiểu rất ít về những nhận thức của cộng đồng người Việt, và tôi xin lỗi nếu phần trích dẫn ngắn của tôi từ cuộc thuyết pháp đă tạo ra sự bối rối cho một số độc giả. Chắc chắn đấy không phải là tôi cố ư tạo ra sự hiểu lầm, nhưng tôi có thể thấy được là khi đem lời trích dẫn của tôi ra khỏi khung cảnh của nó th́ có thể bị diễn dịch sai lạc như thế nào.
Những phần trích đầy đủ từ hai cuộc thuyết pháp của Thầy ở Hà Nội với chính quyền và quan chức đảng được đăng trong Bản Tin Mùa Hè 2005 báo Mindfullness Bell (số 39). Tôi khuyến khích ông nên tiếp xúc với David Percival ở địa chỉ: deperciva@unm.edu để hỏi mua tạp chí có đăng bài tường thuật. (Muốn biết thêm chi tiết xin vào trang web có địa chỉ là: www. Mindfullnessbel.org)
Để quư độc giả có dịp so sánh giữa nguyên văn và lời dịch, xin hăy nghe lại thật kỹ lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh - hoàn toàn bằng tiếng Việt Nam phổ thông - nguyên lời đoạn nầy như sau:
"Đạo tràng Làng Mai chúng tôi là một cộng đồng gồm có 250 người xuất gia và một số người tại gia. Trong chúng tôi có những người tốt nghiệp đại học, đă đi làm có lương lớn. Tuy nhiên chúng tôi đă tiếp xúc được với giáo lư đạo Phật và chúng tôi trở thành anh em trong một nhà. Chúng tôi không có ai có xe hơi riêng; không có ai có trương mục ngân hàng riêng; không có ai có điện thọai di động riêng. Tất cả chúng tôi đều sử dụng những tiện nghi đó của tu viện mà thôi. Không có ai có ǵ riêng hết. Ấy vậy mà chúng tôi sống rất hạnh phúc tại v́ chúng tôi mỗi ngày một nuôi dưỡng t́nh huynh đệ, t́nh thầy tṛ. Chúng tôi mới là những người cộng sản thứ thiệt v́ chúng tôi có ǵ riêng cho chúng tôi đâu. Nhờ có t́nh huynh đệ, t́nh thầy tṛ mà chúng tôi giúp được nhiều người và mang hạnh phúc cho những người đến với chúng tôi. Chúng tôi có rất nhiều hạnh phúc. Chúng tôi không đi t́m hạnh phúc ở trong uy quyền, ở trong sắc dục, ở trong dạnh vọng, ở trong tồn tại. Và đối với chúng tôi th́ cơi tịnh độ, cơi niết bàn đâu cần đi t́m đâu xa mà có ngay trong giây phút hiện tại..."
Với nội dung đượm mầu "tứ chúng đồng tu, tăng già hoà hợp" của tăng đoàn thời nguyên thủy, sát hợp với tinh thần Lục Ḥa của đạo Phật trên đây, thật đáng xót xa cho sự suy diễn mơ hô` - nói theo ngôn từ của Phật giáo là xuất phát từ chấp trước, ngă mạn và vô minh - khi tác giả Lưu Tịnh níu ngay từ "Paradise" tiếng Anh dịch một cách vớ vẩn của Combelic để diễn dịch và bàn theo khái niệm "Thiên đàng cộng sản". Rồi bám vào chiếc bè tự dịch và tự hiểu của chính ông để bàn về "Niết bàn", về Nirvana trong tiếng Phạn, theo cái hiểu "tiên nghiệm" của ḿnh rồi phủi tay kết luận, rằng là:
"Vấn đề từ ngữ được giải quyết xong (?!), ta thử nh́n lại xem tựu trung thầy Nhất Hạnh muốn cổ xúy những quan niệm nào. Tôi thấy rơ ràng thầy muốn đề cao hai quan niệm sau đây. Thứ nhất là quyền làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất và quan niệm thiên đàng ở ngay trên địa cầu nầy chứ không ở đâu xa lạ cả. Cả hai quan niệm trên đây đều là quan niệm mác xít chứ không phải là quan niệm Phật giáo.
Về mặt tư tưởng, thầy Nhất Hạnh là một nhà đấu tranh mác xít hơn là một nhà sư Phật giáo."
Sau khi đă theo dơi và kiểm chứng, xin dành quyền phê phán cho độc giả và các bậc thức giả v́ tôi không muốn làm một người "hướng dẫn dư luận" theo mô thức "gửi thư dán tem" của thế kỷ trước nữa. Giữa thời đại thông tin toàn cầu hóa nhanh như tốc độ ánh sáng nầy, người ta có thể tự ḿnh t́m những tin tức, số liệu và dữ kiện - mà những năm về trước phải ngồi ṃn đủng quần t́m kiếm ở thư viện - chỉ trong nháy mắt. Bởi vậy, bất cứ người cầm bút nào, dẫu cho có muốn tác động vào dư luận v́ mục đích riêng bằng lối suy diễn chủ quan và bằng kiến thức "đóng khung" của ḿnh cũng không được nữa. Dữ kiện thực tế đă tự nó nói lên, không cần người nói thế. Người cầm bút có t́m cách nói lên quan điểm của ḿnh mà sai về thông tin và dữ kiện th́ cũng là một cách vô t́nh tự đánh mất ḿnh. Đánh mất sự kính trọng cần thiết của độc giả và vô h́nh chung, tự phủ nhận lấy chiều sâu tri thức và chiều cao nhân cách của chính ḿnh.
***
Bên lề bài viết, tưởng cũng nên nh́n lại vài khái niệm triết học, tôn giáo và lịch sử đă bị hiểu lầm hay suy diễn thiếu cơ sở luận lư.
Trong phần viết về các tu sĩ Phật giáo nói chung cũng như trong tiểu mục nhận xét về một vài cá nhân tu sĩ Phật giáo như thầy Trí Quang, thầy Nhất Hạnh... , ông Lưu Tịnh đă trỏ ra không công bằng và thiếu khách quan khi "Mác xít hóa" nếp suy nghĩ của họ một cách quá dễ dăi và hời hợt. Đọc bài ông Lưu Tịnh, độc giả có cảm tưởng như tác giả cố xây dựng một luận điểm rằng, một số những người đă từng học Phật có nằm trong danh sách điểm mặt của Lưu Tịnh đều đă bị con ma duy vật biện chứng bịt mắt bắt dê, trói tay dắt đi vào mê hồn trận... cộng sản từ lâu. Nếu ông Lưu Tịnh chẳng xa lạ với tư tưởng triết học Phật giáo và Tây phương th́ sẽ dễ dàng nhận ra điều ông suy diễn là nghịch lư về cả hai mặt tư tưởng triết học và lịch sử triết học. Nghịch lư, bởi lẽ người có chút căn bản Phật học, không ai lại bị chóa mắt trước một quan điểm triết học và xă hội đă quá phổ thông từ trong quá khứ và đă dàn trăi trên cả một chiều dài lịch sử tư tưởng mấy ngh́n năm. Phương pháp biện chứng và khái niệm xă hội cộng sản của Karl Marx chỉ là sự lập lại có tính cách chắt lọc, có hệ thống và vận dụng các khái niệm triết học và xă hội đă có hơn 2000 năm trước đó. Riêng Phật giáo th́ biện chứng pháp (dialectic) đă được sử dụng từ thời Phật giáo Nguyên thủy. Biện chứng pháp Trung quán đă quy hợp những khái niệm đối nghịch trong thế giới nhị nguyên để dẫn về Trung đạo. Trong lịch sử triết học phương Tây th́ phương pháp lư luận biện chứng đă có từ thời Heraclite và trải qua trên hai ngh́n năm lịch sử của sự vận dụng biện chứng pháp với Socrate, Platon, Kant, Hegel... mới đến Marx là kẻ ăn sau chạy dọi (!). Phật giáo, mà đặc biệt là Phật giáo đại thừa, thường được ví như một con chim bay bằng đôi cánh đại bàng vượt qua biển khổ: Cánh phải là Tánh Không, cánh trái là Duy Thức. Triết học duy vật biện chứng của Marx và Engels dẫu có tinh vi hay chặt chẽ đến mức độ nào chăng nữa th́ vẫn không có chỗ đứng trên đôi cánh đại thừa.
Từ cộng sản không phải là một từ ngữ do Marx sáng chế. Từ hàng trăm ngh́n năm trước, giống người cổ sơ sống không có giai cấp kinh tế. Con người sống không có chính quyền, luật pháp hay tư hữu, cộng đồng nhân loại nguyên thủy đó được gọi là cộng sản nguyên thủy (primitive communism) hay là cộng sản thực sự (true communism). Platon, sinh năm 427 trước Tây Lịch, trong tác phẩm Cộng Hoà (Republic) đă nói đến h́nh thái cộng sản quư tộc gọi là "aristocratic communism". Khái niệm về "người cộng sản nguyên thủy" đó đă được Karl Marx và Frederick Engels tập đại thành và sử dụng trong hệ thống triết học Mác-xít và trong Tuyên Ngôn Cộng Sản (The Communist Manifesto) viết vào năm 1848. Marx chia lịch sử xă hội loài người ra làm 5 thời kỳ: Cộng sản Nguyên thủy, Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản, Cộng sản "văn minh" hay về sau nầy có người đi xa hơn cho rằng xă hội Mỹ là một xă hội "siêu cộng sản" (Supercommunism). Các bản tiếng Anh vẫn dịch người Cộng sản Nguyên thủy là: "Primitive communists hay true communists".
Trở về với bài thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh đă đề cập ở phần trên. Nếu nghe một cách nghiêm túc bài thuyết pháp nầy trong chính khung cảnh và ư nghĩa đích thực của nó th́ rơ ràng thầy Nhất Hạnh nhấn mạnh về nếp sống b́nh đẳng, ḥa đồng, an lạc, không tư hữu của tăng đoàn Làng Mai giống như người cộng sản nguyên thủy. Đấy là một sự ví von rất hợp lư khi nói về sinh hoạt của Làng Mai. Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn văn, mỗi bài viết đều nằm trong một ngữ cảnh (contextual) riêng biệt. Kéo một từ ra khỏi ngữ cảnh của nó cũng giống như kéo một nốt nhạc riêng lẻ ra khỏi ḍng nhạc, đôi khi trở thành phản nghĩa hay vô nghĩa. Chính Janelle Combelic, tác giả bài viết tiếng Anh đă khẳng định sự tách chữ, tách câu ra khỏi ngữ cảnh sẽ đưa tới sự bối rối, hiểu lầm nên càng diễn dịch càng sai lạc.
Hẳn ông Lưu Tịnh cũng thừa hiểu là Karl Marx và Fréderick Engels đặt nền tảng cho triết học duy vật biện chứng của họ như một phản ứng tri thức và tâm lư xă hội trong một bối cảnh kỹ nghệ hóa của Âu Châu. So với triết học Phật giáo th́ tiền đề triết học Mác-Ăngen-Lênin mới dừng lại ở phần Khổ Đế và Tập Đế trong Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt , Đạo). Nếu đi xa hơn nữa th́ ngă rẽ giữa hai hệ thống triết học càng lúc càng xa. Cốt lơi "diệt đế" của triết học Marx là cách giải quyết vấn đề thông qua h́nh thái "đấu tranh giai cấp". Cái đích "đạo đế" cuối cùng của một "thiên đường cộng sản" cũng chỉ là một khái niệm dự phóng mang tính triết học và nhân sinh, dừng lại trong giới hạn giải phóng cuộc sống vật chất và quan hệ đời thường. Học thuyết giải phóng của Mác-xít có chăng ở giá trị hiện sinh, không thể đem so sánh với triết lư Phật giáo. Marx chủ trương đem bạo lực cách mạng thông qua chính quyền chuyên chính vô sản nhằm trả lời và giải quyết những vấn nạn của đời sống con người. Đạo Phật chủ trương khai phá và xây dựng một nền tảng tâm linh bằng kiến giải chứ không phải bằng lư giải để làm cho chân tâm, Phật tánh đă có sẵn trong mỗi chúng sanh, mỗi con người hiển lộ. Từ đó, đạt đến trạng thái "như như tự tại" của trí tuệ bát nhă để đi đến giác ngộ và giải thoát toàn triệt. Phật giáo suy niệm và thực hành phương cách đi tới Diệt Đế và Đạo Đế bằng trí huệ, không bằng bạo lực.
Vùng đất hứa của mọi tôn giáo là nơi an nghĩ vĩnh hằng sau khi chết. Đấy là một thế giới toàn bích của an lạc và hạnh phúc tuyệt đối đời đời. Cơi hứa hẹn đó xuất hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như thiên đàng, cơi trời, niết bàn, cực lạc... Đối với Phật giáo th́ cơi niết bàn có thể rất xa xôi, nhưng cũng có thể rất gần và ở ngay chính trong ta. Chẳng có một vị thần linh tối thượng nào dắt con người vào cơi niết bàn mà chính mỗi chúng sanh tự giác để t́m về niết bàn bằng nhiều phương cách tùy theo căn cơ, duyên nghiệp của mỗi con người. Một người đến hỏi ḥa thượng Gosananda "niết bàn ở đâu?" th́ được trả lời: "Niết bàn ở tại đây, ngay trong lúc nầy. Niết bàn ở khắp mọi nơi. Nó không lư u trú tại một nơi chốn đặc biệt nào cả. Nó ở trong tâm thức. Nó chỉ được t́m thấy trong giờ phút hiện tại... " Khi ở trong trạng thái thanh tịnh, an vui, hạnh phúc tṛn đầy trong hiện tại là khi đạt đến cảnh giới niết bàn. Ông Lưu Tịnh đă cho rằng, thầy Nhất Hạnh nói đến niết bàn trong đời sống hiện tại tức là đồng nghĩa với khái niệm "Thiên đường cộng sản". Khi khẳng định điều nầy ông Lưu Tịnh đă tự giới thiệu ông là ai. Tưởng không có ǵ cần để nói thêm.
Tôi chưa biết được người nào đă từng học hỏi triết lư Phật giáo, rồi sau đó mê triết học Mác-xít. Nếu có chăng th́ đối với tôi đấy là một điều nghịch lư của ḍng tư tưởng trên đường đi t́m hạnh phúc an lạc. Suối nguồn triết học Mác-xít như một ḍng thủy lưu sôi nổi của quá tŕnh đấu tranh giai cấp. Trong khi suối nguồn triết học Phật giáo là một đại dương thái ḥa và an lạc. Mọi ḍng sông có thăng trầm dậy sóng đến mức độ nào rồi cuối cùng cũng trôi về biển cả. Biển cả tâm linh là một thế giới Tuyệt Đối (Oneness) của đời sống tinh thần tôn giáo và không tôn giáo nằm ngoài xác thân tục lụy và tạm bợ nầy.
Đến với Phật giáo hay bàn về Phật giáo, trước hết, cần lấy cái Tâm làm điểm tựa. Tôn Ngộ Không có phép thần thông nhưng lại thiếu cái tâm từ bi nên đă kiêu mạn nhảy qua Ngũ Hành Sơn và cứ tưởng rằng ḿnh đă bay xa ngh́n dặm nhưng thực ra vẫn c̣n loanh quanh trong bàn tay của Phật tổ. Phật tổ, thật ra cũng chỉ là biểu tượng của suối nguồn tâm linh trong chính mỗi con người. Nếu cứ bị trói buộc măi trong giới hạn những phạm trù của định kiến và chấp ngă th́ những chữ nghĩa, lư luận, tranh chấp rồi cũng sẽ không đến đâu cả. Về đâu?!
Trần Kiêm Đoàn
(Xin kính mời độc giả đón đọc phần thứ 2 trong loạt bài đối thoại với ông Lưu Tịnh trong Tiếng Vang số tiếp theo.)