|
Sau hai cuộc Đại chiến thế giới, có lẽ cuộc chiến tranh Việt
Nam là cuộc chiến trên một đất nước mang ư nghĩa bi hùng và
băo liệt nhất trong chiến sử địa cầu. Phóng Viên L.A Times,
Daniel Ruthforth phải kêu lên: "Ôi! Trời đất. Mức độ hy sinh
và sự tàn phá của cuộc chiến tranh này đủ làm cho đá núi và
biển xanh chảy máu. Làm sao lương tâm con người lại có thể
thản nhiên im lặng khi cuộc chiến chưa tàn."
Với sự nhạy cảm như một bản năng thiên phú, không biết người
nghệ sĩ là chứng nhân của cuộc chiến, hay cuộc chiến là
chứng nhân cho sự thành bại trong quá tŕnh sáng tạo của
người nghệ sĩ.
Đối với nhiều người Việt trưởng thành trong thế hệ chiền
tranh Việt Nam, ba “chứng nhân” đă để lại trong ḷng người
dấu ấn về cuộc Chiến Tranh Việt Nam sâu đậm nhất bằng tác
phẩm nghệ thuật của họ là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công
Sơn. Mỗi nhạc sĩ có riêng một phong cách sáng tạo và đặc
biệt có riêng một phong cách sống. Tuy nhiên so với hai nhạc
sĩ đàn anh như Văn Cao và Phạm Duy, Trịnh Công Sơn vẫn
thường được coi là một tài hoa không người thay thế v́ cái
ma lực độc sáng trong ca từ của anh.
Trịnh Công Sơn đă chọn “Một cơi đi về” trong một “chiều Chủ
Nhật buồn... nằm trong căn gác đ́u hiu – bệnh viện Chợ Rẫy”
ngày 1- 4 - 2001 vừa qua.
Suốt những năm dài ở Huế, tôi đă gặp Trịnh Công Sơn khá
thường xuyên trong các giảng đường Đại học và trong các buổi
“hát cho quê hương”. Anh thường xuất hiện với chiếc đàn
guitar thùng. Dáng thư sinh với vầng trán rộng, cặp kính cận
gọng đậm không đủ làm giảm đi vẻ suy tư, khắc khổ của anh.
Trịnh Công Sơn có giọng hát thô, buồn nhưng rất gợi cảm và
xác quyết. Anh hát nhạc t́nh của anh không hay, nhưng hát
“Ca khúc da vàng” th́ lại tạo được sự lôi cuốn lạ lùng. Tôi
cũng gặp anh đều đều trong các quán cà phê, các quán nhậu
b́nh dân nhẹ nhàng kiểu... Huế. Thế nhưng – có đáng ngạc
nhiên lắm không – tôi vẫn bắt tay “Chào anh Sơn!” mà vẫn
chưa “gặp” anh lần nào v́ chưa bao giờ có dịp nói chuyện với
anh cả. Bởi vậy, khi viết những ḍng nầy về Trịnh Công Sơn
tôi không bị ám ảnh bởi cảm xúc quá gần của t́nh bè bạn, hay
quá xa của một người đứng bên kia biển để hoặc là ôm choàng
nói chuyện "nằm gác cẳng lên nhau tâm sự "; hoặc tán hươu
tán vượn bâng quơ về những vụn mây trời.
Cùng với cuộc chiến diễn ra ngày một ác liệt khắp nước và
khói lửa bom đạn vây bủa từ rừng đến biển xung quanh, Huế
như một ốc đảo giữa vùng tâm băo c̣n ôm lấy ḍng sông, chiếc
cầu và những con đường áo trắng! Thế hệ chiến tranh Việt Nam
của chúng tôi lớn lên trong ṿng lẩn quẩn của định mệnh.
Người thân, bạn bè hôm nay c̣n, ngày mai mất, đứa ở lại, kẻ
ra đi. Rồi 63, 66, 68, 72, 75..., những cột mốc thời gian
không đếm bằng năm tháng mà tính bằng mạng sống của cả một
thế hệ. Năm tôi học lớp Đệ Lục trường Hàm Nghi, trong buổi
họp mặt chia tay nghỉ Hè, Cô giáo hướng dẫn, cô Hoắc Hương,
hát bài “Ướt Mi” của một tác giả “lạ hoắc”. Sau nầy tôi mới
biết đó là bản nhạc đầu tiên của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn,
xuất hiện năm 1959 ở Sài g̣n. Giáo sư âm nhạc của tôi năm đó
là nhạc sĩ Văn Giảng, tác giả của Xuất Quân, Lục Quân Việt
Nam... (c̣n có tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương).
Thầy khen bản Ướt Mi là một bản nhạc hay v́ có giai điệu lạ
và lời rất thơ. Nếu biết tác giả dạo đó chỉ mới 20 tuổi mà
đă “ướt mi” để “sầu nhân thế” th́ có lẽ người ta sẽ liên
tưởng ngay đến ngón đàn nhỏ máu của Thúy Kiều ở lứa tuổi
trăng tṛn trong một đêm xưa...
Thế rồi, tôi lớn lên từ giữa ḷng xứ Huế. Nhạc Trịnh Công
Sơn như một nhật kư về Huế trong chiến tranh. Những ngày từ
làng lên Huế học, tôi vẫn nghe mơ hồ “Lời buồn thánh” có
“tiếng hát xanh xao của bạn bè. Trời mưa không dứt...”. Chao
ôi! Những cơn mưa Huế “răng” mà buồn da diết. Tôi mường
tượng đó là nỗi “buồn thánh”, mặc dầu cho đến phút này, tôi
vẫn chưa hiểu nỗi “buồn thánh” là buồn như thế nào cả (!)
Rồi những đêm khuya khoắt tôi có thể nghe, thấy và cảm nhận
được tiếng “Đại bác đêm đêm gởi về thành phố, người phu quét
đường dừng chổi đứng nghe...”. Có lần đi về phía Phủ Cam,
nơi gần nhà Trịnh Công Sơn trú ngụ, tôi c̣n nghe văng vẳng
tiếng cười the thé của chị Mùi, người điên: “Tôi có người
yêu chết trận A Sao!” Và sau những cơn mưa dầm triền miên
của Huế, có "nắng hàng cau và nắng hàng me" mới thấy được "hàng
cây thắp nến lên hai hàng" trong mầu nắng hay là mầu mắt em.
Đâu cũng thấy thấp thoáng âm hưởng nhạc Trịnh Công Sơn quanh
những nẽo đường xứ Huế.
H́nh như t́nh yêu sướt mướt, lăng mạn kiểu Tố Tâm - Đạm Thủy
của Hoàng Ngọc Phách… rất chi là Huế cũng phơn phớt một chút
hồng của “Hạ trắng, Mưa hồng…”, hoặc thoáng một nụ hương
xanh của “Diễm xưa”, hay pha một chút triết lư “Tôi ru em
ngủ”...từ ngày có nhạc Trịnh Công Sơn.
Nhạc Trịnh Công Sơn không có một bài nào dành riêng cho Huế
mà nghe ra như một lời “kinh Huế” v́ nhạc điệu có cả sự day
dứt, đ̣i đọan, sâu lắng và trầm tư của cả điệu Nam Ai Nam
B́nh buồn thương nuối tiếc. Khi th́ uốn lượn xa vắng như
điệu ḥ mái nh́, mái đẩy. Lúc hào sảng, quư phái như Tứ Đại
Cảnh. Nhưng cũng có lúc dập dồn như điệu ḥ giă gạo, ḥ nện,
ḥ hô.
Trước khi là một nhạc sĩ, Trịnh Công Sơn đă là một thi sĩ.
Mỗi lời nhạc của anh là một bài thơ, thơ đúng nghĩa với
thanh sắc thi ca. Người ta không biết anh dùng nhạc để chở
thơ hay dùng thơ để viết nhạc. Nếu tách riêng nhạc và lời
th́ hơn 600 bản nhạc của Trịnh Công Sơn đă chuyên chở những
bài thơ hay về quê hương, chiến tranh, con người, thân phận,
ước mơ, t́nh nước, t́nh đời, t́nh bạn và t́nh yêu.
“Nhạc-thơ” của Trịnh Công Sơn có nét trang đài, lăng tử và
sâu lắng, hư ảo một cách lạ lùng. Cái bóng mơ hồ nhưng lại
sừng sững trong ḍng nhạc của anh vẫn là ḍng sông tư tưởng
về triết lư cuộc đời miên viễn chảy. Sự phi lư của chiến
tranh, nỗi bi đát về thân phận làm người và sự ch́m nỗi trôi
về hư vô của kiếp người đă đưa thế giới nhạc của anh đứng
tựa ở một phương trời rất lạ.
Nhạc t́nh của Trịnh Công Sơn không mang nội dung của những
chuyện t́nh thật sự mà chỉ là cách biểu hiện một khuynh
hướng t́nh yêu. Cuộc t́nh của anh cũng khởi đi từ những cảm
xúc, đam mê, nhớ nhung và hoài niệm từ phía bờ bản ngă bên
nầy nhưng lại không bao giờ ghé đến “vườn địa đàng” ở bến
bên kia mà từ từ tan loăng như sương khói giữa chừng nên măi
măi cũng chỉ có “em” và “tôi” mà không bao giờ có “em” và “anh”.
Phải chăng v́ anh muốn t́nh yêu chỉ là xanh mà không bao giờ
“chín”? Trịnh Công Sơn đă quả quyết trong bài tự giới thiệu
về nhạc của ḿnh trong CD Gọi Tên Bốn Mùa: “Không có tiếng
nói nào trẻ trung hơn t́nh yêu. Không có điều bí ẩn nào sâu
xa hơn số phận...”
Trong thế giới “nhạc ngữ” của Trịnh Công Sơn th́ nỗi buồn
không có tên và t́nh yêu không có tuổi. Triết lư trong
“thơ-nhạc” của anh không uốn éo bay lượn cao xa mà rất gần
gũi và dễ cảm nhận hơn là lư luận: “Đi đâu loanh quanh cho
đời mơi mệt…Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt”. Có lẽ v́
vậy mà nhạc Trịnh Công Sơn được đón nhận từ một em bé quê
nơi thôn cùng xóm vắng, chú thanh niên lang thang trên đường
phố đến bậc cao niên, hàng thức giả.
Suốt 42 năm kể từ khi ḍng nhạc Trịnh Công Sơn ra đời, tân
nhạc Việt Nam từ đại lộ Tiền chiến có khuynh hướng rẽ dần
qua một con đường khác. Nét trữ t́nh, lăng mạn, mượt mà của
cảm xúc thuần túy trước chiến tranh từng bước chuyển biến
qua một cảm xúc mới khi nghệ sĩ và nghệ thuật đối diện với
thực tế chiến tranh đang diễn ra.
Những cảm xúc mới trong nhạc Trịnh Công Sơn có một sức cuốn
hút nằm ra ngoài những những phạm trù lư luận: Thông thường,
người ta thích những h́nh ảnh và khái niệm ḿnh hiểu rơ đă
đành, nhưng vẫn có sự lạ lùng là không ít người yêu thích
nhạc Trịnh Công Sơn có khi không hiểu hay hiểu rất giới hạn
nội dung của từ, của câu và của cả bản nhạc (Cũng xin nói
nhỏ là trong số những người đôi khi không hiểu mà vẫn yêu
thích nhiều ḍng nhạc của họ Trịnh có luôn cả người đang
viết những ḍng nầy!) Như thế, có chăng tính ảo thuật, huyền
hoặc, mặc khải... trong những ḍng thơ phổ nhạc của Trịnh
Công Sơn?
Cũng như cái “duyên” mặn mà trên một khuôn mặt đẹp, nghệ
thuật có những nét độc sáng kỳ diệu riêng mà chỉ có những
nghệ sĩ tài hoa mới nắm bắt được từ hư vô để tạo nên nét
“thần” của tác phẩm. Như khái niệm “thi trung hữu thần”,
trong thơ mà vắng bóng những nét “thần” th́ bài thơ cũng chỉ
là mớ chữ nghĩa là đà không đủ sức lay động tâm hồn người
đọc. Trong nghệ thuật cổ điển Trung Hoa, ấn tượng “khai
quang điểm nhản” thường được dùng để h́nh tượng hóa đường
bay vi vút, lung linh, bùng vỡ... tận mù khơi của nghệ thuật.
Tôi nghĩ là Trịnh Công Sơn đă tạo ra được những nét “nhạc mà
thơ” tài hoa như thế.
Nếu trong hội họa có những “gam”màu kỳ diệu, trong âm nhạc
có những giai điệu dập dồn bứt phá cả tiếng gọi của thiên
nhiên, th́ trong thi ca phải cần có những h́nh dung từ lay
động tận gốc rễ bản chất khách quan, lạnh lùng và thầm lặng
của vũ trụ. Tư tưởng như một ḍng lũ tinh khôi cuồn cuộn
chảy vào và chảy quanh khắp thực tại của cuộc đời để hấp thụ
và tỏa chiết chất men kỳ lạ và hơi ấm của cuộc đời. Ḍng lũ
đó sẽ thành sóng nước lung linh nhờ vẻ đẹp huyền ảo của màu
sắc, cảm quan, dáng vẻ, nồng độ khi thật khi hư mà người
nghệ sĩ đă chắt lọc và trau chuốt để tạo dựng đưa vào tác
phẩm. Aristote nói một cách xác tín: “Nghệ thuật nhất định
phải là vấn đề của tạo dựng chứ không phải là vấn đề của
hành động” (Art must be a matter of making, not of acting.)
Trịnh Công Sơn đă đan kết cả nhạc và thơ vào trong thế giới
sáng tạo bằng tất cả tinh lực nghệ sĩ của ḿnh. Tôi có thể
thấy điều đó khi nghe tin anh qua đời, tôi hát khe khẽ một
ḿnh trên xe bài “ướt mi” từ 42 năm trước của anh mà vẫn
nghe được sự rung động xôn xao của thời học lớp đệ lục
trường Hàm Nghi trên xứ Huế.
Như cây cầu Trường Tiền bắt qua ḍng sông Hương đă thành tâm
ảnh trong ḷng người xa Huế, tôi đang nói đến nhạc Trịnh
Công Sơn từ phía bên nầy biển mà cứ ngỡ như đang nh́n từ một
Huế xưa. Tùy theo từng góc độ, mỗi người sẽ nh́n Trịnh Công
Sơn một cách khác nhau trong cuộc đời thường, tuỳ theo lăng
kính “tâm ảnh” của kinh nghiệm sống chính ḿnh. Nhưng trong
nghệ thuật thuần túy, tất mọi người sẽ rất công bằng để biết
ḿnh có rung động hay không trước một công tŕnh sáng tạo.
Ước chi mai kia, nếu tôi có về Huế lại, một quá khứ khổ nhục,
đau buồn, bạo tàn và phản trắc đă bị ném xuống ḍng sông
Hương và trôi ra biển. Mặt nước của những ḍng sông quê
hương sẽ liền lặn trở lại. Tôi sẽ quên đi “T́nh ca người mất
trí” mà chỉ c̣n nhớ lại Diễm Xưa, Hạ Trắng, Mưa Hồng..., dư
âm một thời lăng đăng như ca dao, của Trịnh Công Sơn.
Trần Kiêm Đoàn
Background : TCS
Nguồn :
www.tcs-forum.org
art2all.net
Trang Trần Kiêm Đoàn
|