NHỚ HUYỀN KHÔNG

 

Rằm tháng giêng năm Ất Hợi
Nguyễn Văn Nho

 



          Tôi đă ở Huế chỉ hơn bảy năm, nhưng thỉnh thoảng, tôi vẫn nhớ về nơi ấy như một đoạn đời đẹp nhất. Lúc ấy, những phương tiện truyền thông và sinh hoạt c̣n quá hiếm hoi. Những đêm trăng, Huế ch́m trong vẻ đẹp nguyên sơ như đang dịu xoa những tâm hồn khát khao tuyệt đối. Mùa đông, tôi đạp xe trên đường đêm khuya nghe mùi vị quen thuộc của từng hàng cây sũng nước, nghe hơi thở chính ḿnh và bao nỗi niềm u uẩn bên trong. Phải rồi, chính thành phố ấy, ḍng sông ấy, chính những con đường ngoại ô liêu tịch và những người bạn thân yêu nơi ấy mà tâm hồn sung măn của họ đă góp phần đẩy mạnh ḍng suy tư tôi đến từng ngơ ngách, đă giúp tôi hiểu thêm ra từng lời cây ư cỏ, từng thân phận cuộc người… Và tôi đă say mê đọc tủ sách Phật học, Krishnamurti của cô Từ Xuân và anh Huỳnh Đăng để thấy con đường suy tư kia lại mở ra dào dạt phiêu bồng… Chính bởi Từ Xuân mà tôi quen Nguyên Đức và anh ta như một nhịp cầu nối tôi với những người bạn giang hồ thành Huế, sống ngất trào trên phong vị mộng mơ đầy suy tưởng. Họ, những nghệ sĩ âm thầm không tên tuổi, dịu dàng bên b́a rừng hay góc phố, những ngọn cỏ dại vững vàng hứng chịu từng bàn chân đầy kiêu ngạo dẫm qua ngày hai ba dạo, đă chiếm đa số trong những bằng hữu ít ỏi của tôi măi đến bây giờ…

Chúng tôi, Quảng, Phương, Lộc và tôi cùng lên Huyền Không vào một buổi chiều tháng tám. Tôi c̣n nhớ rơ, lúc ấy là rằm tháng tám năm Canh Thân. Ḷng tôi rạo rực biết bao khi sắp diện kiến những vị sư mà anh em thường nhắc đến như những bậc thầy thơ văn. Trời vừa tối khi chúng tôi đến chiếc cầu sắp rẽ vào thôn Nham Biều. Trăng bàng bạc một màu êm như sữa. Làng xóm đang ch́m trong yên tĩnh ngoại trừ tiếng côn trùng và ếch nhái. Ánh trăng mênh mông d́u dặt bên sông, trăng dệt trên đường từng bóng h́nh mờ ảo khi hàng cây nhẹ đưa theo gió. Trong ḥa âm ngan ngát của ruộng đồng và màu dịu êm trăng phủ, có ai đó trong chúng tôi thốt lên: “H́nh như con đường này là Đường Huyền Không!” Ḷng lâng lâng phấn khích, tôi ngẫu hứng ngâm nga:


“Tôi bỏ phố một chiều lên tịnh thổ
Hoàng hôn đi trong nhạc dế bờ mương
Trăng dệt lá, đường Huyền Không ảo diệu
Một đời hoang đêm sơ ngộ ngỡ ngàng”


Rồi chúng tôi đến nơi, vườn chùa đơn sơ như bao khu vườn khác, tiếng cầu kinh vang vọng đến hiên ngoài, ḷng tôi như lạc vào một cơi miền thanh thoát vô biên.


Giờ công phu tối đă xong, sư Giới Đức chuyện tṛ cùng chúng tôi trong chánh điện. Ngày ấy, đó chỉ là một gian nhà thờ tộc nhỏ bé đơn sơ. Nhưng h́nh ảnh Đức Phật từ ḥa và nếp sinh hoạt khiêm cung của chư tăng đă làm tăng thêm vẻ trang nghiêm cho ngôi từ đường. Sư nằm trên chiếc vơng đu đưa khi tôi được giới thiệu. Sư Pháp Tông th́ vẫn lặng lẽ đọc sách trong pḥng. Chúng tôi chuyện tṛ và đọc thơ. Phương điên th́ lúc nào cũng ngâm thơ nhiều nhất. Thỉnh thoảng, tôi im lặng nh́n ra bên ngoài. Càng lên cao trăng càng sáng tỏ. Tôi bắt gặp một lần h́nh bóng cô Liễu Như ngang qua, dáng cô mảnh mai và im lặng, một vẻ đẹp thật dịu dàng và giản dị như cây cau, vạt sắn trước sân giữa màu trăng thanh thoát.

Sau cái đêm diệu vời ấy, thỉnh thoảng tôi lên Huyền Không chơi, lúc một ḿnh, lúc cùng bè bạn. Dạo ấy, ngoài chúng tôi ra, gần như ít ai lên thăm viếng. Giờ đây tôi vẫn c̣n nhớ giọng ngâm thơ hào sảng của anh Hoàng Hạc trên Huyền Không vào những đêm trăng. Quư Sư sống thật thanh đạm, ngày hai buổi rau dưa. Có những ngày tôi lên nằm đọc Huyền Không văn bút và nhiều sách Phật học khác, c̣n chư Sư th́ cần mẫn cuốc xới trong vườn. Khu vườn ngày càng thêm vẻ đẹp với nhiều hoa cỏ, phong lan. Năm 1981, khi thực tập viết chương tŕnh bằng ngôn ngữ Fortran 4 tại trung tâm tính toán IBM Sài G̣n, tôi được gặp Sư Viên Minh trong Kỳ Viên Tự, người là Sư huynh khả kính của chư tăng Huyền Không, v́ nhiệm vụ giáo hội phải lên đường vào Nam. Nhưng đến năm 1986 thầy tṛ chúng tôi mới được dịp ngồi tâm sự. Và trong cái đêm đáng nhớ đó, người đă đặt cho tôi một pháp danh đầy quyến rũ: Lăng Triều Phong.

Lăng Triều Phong, vẻ đẹp của thủy triều không ràng buộc. Tôi yêu làm sao ba tiếng đó. Tôi đă sống ngất trào trên dặm đường sông nước, từng đồi núi truông khe. Tôi cúi đầu suy tư trong những chiều thôn dă, tôi lắng nghe ḷng ḿnh và âm thanh vi diệu của đất trời, trên những hoàng hôn hải đảo hay rừng núi ban mai… C̣n rơi rớt lại trong tôi và vài bằng hữu từng vần thơ điệu nhạc phảng phất lan tỏa nhẹ nhàng trong sương khói:


Đường thơ, lối nhạc phù b́nh
Hoa Sa-La nở thâm t́nh mênh mông…


Và c̣n lại trong tôi cả một quăng đời diệu vợi để âm thầm chiêm nghiệm vẻ ngọt ngào của từng ngọn cỏ lay bay, niềm đau thương của từng ngơ ngách sinh tồn. Cho dẫu rằng tôi đă dở dang trên mọi con đường nhân gian quy ước, cho dẫu tôi vẫn sống tầm thường ḅ qua chạy lại như con kiến nhỏ trong bầy đoàn đông đúc của ḿnh, tôi vẫn hằng cảm tạ từng sáng lên chiều xuống một thuở rong rêu… Giờ đây, thỉnh thoảng tôi lại trở về một ḿnh dẫm qua những con đường ngoại ô thành Huế, mang mang nhớ đến Từ Xuân người bạn đă vĩnh biệt cuộc đời, và trở lại Huyền Không như một Quê hương vừa xa vừa gần trong vùng suy tưởng… Thú vị làm sao khi một lần được dạo cùng Sư Pháp Tông bên bờ sông Bạch Yến lúc trời đă quá nửa khuya, tôi lại được dịp lắng nghe Tiếng Hát Ḍng Sông Đêm như ngày nào mộng mị. Lúc đó, khi cúi xuống lặng im bên bờ sông hoang vắng, những câu thơ vô t́nh ngày xưa của Sư đă tái hiện trong tôi như một tất định sinh tồn:


Tôi cúi xuống vốc đầy tay một bụm nước
Bàn tay đầy nước lại đổ về không…


Đà Nẵng, đêm rằm tháng giêng năm Ất Hợi
Nguyễn Văn Nho.
 

 

chân trần

art2all.net