Đỗ Tư Nghĩa

 

NHỮNG CÁI KHÔNG PHẢI LÀ THIỀN TẬP

Ni-sư Charlotte Joko Beck

Đỗ Tư Nghĩa dịch

 

 

Vài nét về tác giả:

[ 1917- 2011]

Sinh năm 1917, tại New Jersey. Học âm nhạc tại Nhạc viện Oberlin. Tŕnh diễn và dạy piano một thời gian. Lập gia đ́nh, có 4 đứa con; ly thân, làm thư kư, rồi trợ giảng tại một phân khoa đại học.

Bắt đầu thực tập Zen vào tuổi 40. Học đạo với Thiền sư Hakuyu Taizan Maezumi tại Los Angeles, và sau đó, với Thiền sư Hakuun Yasutani.

Năm 1983, thành lập Trung tâm Zen tại San Diego.

Ni sư luôn dạy học tṛ của ḿnh nên đối mặt với những khó khăn trong đời sống thường nhật, thay v́ trốn tránh chúng. Nhiều đệ tử của Ni sư là nhà tâm lư học, nhà tâm lư trị liệu.

Tác phẩm chính: Everyday Zen [ 1989] và Nothing Special [ 1993].

Ni sư qua đời năm 2011, thọ 94 tuổi.

[ Theo từ điển Wiki pedia, bản tiếng Anh]
 


          Nhiều người thiền tập và có những ư kiến mạnh mẽ về cái mà thiền tập là. Cái tôi muốn làm, là tŕnh bày [theo quan điểm của tôi] [1] những cái không phải là thiền tập.

1. Trước hết, thiền tập không hướng đến việc tạo ra sự thay đổi tâm lư. Nếu chúng ta thiền tập với sự thông minh, sự thay đổi tâm lư sẽ được phát sinh; tôi không nghi vấn cái đó – thật ra, nó rất tuyệt vời. Tôi chỉ muốn nói rằng, mục đích của thiền tập không phải là để tạo ra sự thay đổi như vậy.

2. Thiền tập không hướng đến việc dùng trí óc để biết cái bản chất vật lư của thực tại : vũ trụ gồm có những ǵ, hay nó hoạt động ra sao. Và một lần nữa, trong thiền tập nghiêm túc, chúng ta sẽ đạt tới kiến thức nào đó về những vấn đề như vậy. Nhưng đó không phải là cái mà thiền tập hướng tới.

3. Thiền tập không nhắm đến việc đạt tới trạng thái phỉ lạc nào đó. Nó không nhắm đến những linh ảnh. Nó không nhắm đến việc thấy những luồng ánh sáng trắng [ hoặc hồng, hoặc xanh da trời]. Tất cả những thứ này có thể xuất hiện; nếu chúng ta ngồi đủ lâu, chúng sẽ rất có thể xuất hiện. Nhưng cái đó không phải là cái mà thiền tập nhắm tới.

4. Thiền tập không nhắm tới việc thủ đắc hay phát triển những năng lực đặc biệt. Có nhiều trong số những thần thông này và tất cả chúng ta có một vài trong số chúng một cách tự nhiên; một số người có chúng ở một mức độ dư thừa. Tại Thiền Viện Los Angeles, đôi khi tôi đă có cái khả năng “hữu ích” này: thấy cái ǵ đang được phục vụ cho bữa ăn tối, cách đó hai căn nhà. Những khả năng như vậy là những cái kỳ lạ nhỏ bé, và một lần nữa, chúng không phải là cái mà thiền tập hướng tới.

5. Thiền tập không nhằm đạt tới sức mạnh cá nhân hay là joriki [2], cái sức mạnh mà được phát triển trong nhiều năm tọa thiền. Một lần nữa, joriki là một phó sản tự nhiên của thiền tọa. Và một lần nữa, nó không phải là con đường.

6. Thiền tập không nhắm đến việc có những cảm giác thú vị, hạnh phúc. Nó không nhắm đến việc cảm thấy thỏai mái, đối nghịch với việc cảm thấy khó chịu. Nó không phải là một cố gắng để là một cái ǵ đặc biệt hay để cảm thấy một cái ǵ đặc biệt. Cái sản phẩm của thiền tập hay cái điều then chốt của thiền tập, hay cái mà thiền tập nhắm tới, không phải để luôn luôn b́nh tĩnh và tự chủ. Một lần nữa, chúng ta có khuynh hướng trở nên “khá hơn nhiều” sau nhiều năm thiền tập, nhưng đó không phải là cái then chốt.

7. Thiền tập không nhắm đến một trạng thái cơ thể nào đó, mà trong đó chúng ta không bao giờ bị bệnh tật, không bao giờ bị đau đớn. Thiền tọa có khuynh hướng mang lại những lợi ích về sức khoẻ cho nhiều người, mặc dù trong quá tŕnh thiền tập, có thể có nhiều tháng, hoặc nhiều năm có những tai ương về sức khoẻ. Nhưng một lần nữa, mưu cầu sức khoẻ hoàn hảo không phải là con đường; mặc dù dần dần qua thời gian, sẽ có một tác động hữu ích trên sức khoẻ cho nhiều người. Nhưng không có bảo đảm nào cả!

8. Thiền tập không hướng tới một trạng thái toàn năng, mà trong đó một người biết tất cả về mọi sự, một trạng thái mà trong đó, một người là một thẩm quyền trên bất cứ và mọi vấn đề trần thế. Có thể có nhiều minh bạch hơn một chút trên những vấn đề như vậy, nhưng ta biết, những người thông minh, cũng thường nói và làm những điều rồ dại. Một lần nữa, sự toàn năng không phải là cái mà thiền tập hướng tới.

9. Thiền tập không nhắm đến t́nh trạng tâm linh [3], ít ra, không phải như cái từ này thường hay được hiểu. Thiền tập không nhắm tới một cái ǵ đó. Do vậy, trừ phi chúng ta thấy rằng, chúng ta không thể nhắm đến trạng thái “tâm linh,” th́ nó có thể là một mục tiêu đầy cám dỗ và tai hại.

10. Thiền tập không nhắm đến việc chú trọng tất cả mọi loại phẩm chất “tốt” và loại bỏ những tính chất được mệnh danh là “xấu.” Không có ai “tốt” hay “xấu.” Cái vùng vẫy để trở nên tốt, th́ cái đó không phải là thiền tập. Cái loại rèn luyện đó chỉ là một dạng vi tế của môn điền kinh.

Chúng ta có thể tiếp tục liệt kê hầu như vô tận. Thực tế, bất cứ ai đang thiền tập, đều có một vài trong số những ảo tưởng này đang vận hành. Tất cả chúng ta đều hy vọng thay đổi, muốn tới một nơi nào đó! Cái đó, trong tự thân nó, là cái sai lầm cơ bản. Nhưng cái việc chỉ đơn giản quán chiếu cái ham muốn này, bắt đầu làm cho nó minh bạch, và cái nền tảng của đời ta thay đổi, trong khi chúng ta làm như vậy. Chúng ta bắt đầu hiểu rằng, cái ham muốn điên cuồng của ḿnh – mong muốn trở nên tốt hơn, muốn tới một nơi nào đó – tự thân nó là một ảo tưởng, và là nguồn gốc của khổ đau.

Nếu con thuyền chất đầy hy vọng, ảo vọng, và tham vọng [được tới một nơi nào đó, trở nên tâm linh, hoàn hảo, giác ngộ] bị lật úp, th́ con thuyền trống rỗng là ǵ? Chúng ta là ai? Trong những điều kiện của đời ḿnh, chúng ta có thể đạt tới cái ǵ? Và thiền tập là ǵ?
 

Ni sư C.J. B.

[ Trích dịch từ Everyday Zen. NXB Harper, San Francisco, 1989].

_________

 

[1]  Những quan điểm của Ni sư chắc chắn sẽ gây ra nhiều tranh căi. Tuy nhiên, theo thiển ư, ta cần đọc kỹ để hiểu thật rơ những điều Ni sư muốn nói, và không vội vàng phủ nhận. Theo người dịch được biết, đây cũng là quan điểm của nhiều vị Thiền sư, chứ không chỉ của riêng Ni sư. [ ND].

[2] Joriki: Đây là một sức mạnh của sự tập trung (định), nó khiến chúng ta hành động một cách tức th́ và thỏa đáng, không cần suy nghĩ, trong những t́nh huống bất ngờ nhất. [Theo từ điển Wikipedia]

[3]  Nguyên tác: “ Practice is not about being ‘ spiritual.’ Thú thật, người dịch chỉ dịch sát nguyên văn, nhưng chưa hiểu “ t́nh trạng tâm linh” là t́nh trạng ǵ [ND].

 

chân trần

 

art2all.net