ĐỖ TƯ NGHĨA

 

THẾ GIỚI TÔI ĐANG SỐNG

 

CHƯƠNG IV

SỨC MẠNH CỦA XÚC GIÁC

 
          Vài tháng trước đây, trong một nhật báo – loan tin việc xuất bản Tạp chí Matilda Ziegler cho người mù – xuất hiện đoạn văn này: “Nhiều bài thơ và truyện ngắn hẳn sẽ bị loại bỏ, bởi v́ chúng đề cập đến thị giác. Sự ám chỉ về ánh trăng, cầu vồng, ánh sao, những đám mây và phong cảnh đẹp không thể được đăng tải, bởi v́ chúng sẽ gia tăng cảm thức về sự bất hạnh và khuyết tật của người mù.”

Có nghĩa là, tôi không được phép nói về những dinh thự và những khu vườn đẹp, bởi v́ tôi nghèo. Tôi không được phép đọc về Paris, bởi v́ tôi không thể viếng thăm nó. Tôi không thể mơ về thiên đàng, bởi v́ có thể là tôi sẽ không bao giờ lên tới đó.

Thế nhưng, một tinh thần mạo hiểm thúc bách tôi sử dụng những từ chỉ h́nh ảnh và âm thanh, mà ư nghĩa của chúng, tôi chỉ có thể phỏng đoán từ phương pháp loại suy và trí tưởng tượng. Đối với tôi, th́ tṛ chơi “nguy hiểm” này là một nửa sự thích thú, sự vui đùa, của đời sống hằng ngày. Khuôn mặt tôi bừng sáng lên khi tôi đọc về cái huy hoàng mà chỉ có con mắt mới có thể khảo sát. Sự ám chỉ về ánh trăng và những đám mây không làm gia tăng cảm thức về sự bất hạnh của tôi: chúng mang linh hồn tôi vượt lên cái thực tiễn chật hẹp của sự bất hạnh.

Những nhà phê b́nh thích thú bảo cho chúng tôi [những người mù] biết những ǵ mà chúng tôi không thể làm. Họ cho rằng, sự mù và điếc cắt đứt chúng tôi hoàn toàn khỏi những điều mà những người b́nh thường tận hưởng, và do vậy, họ khẳng định rằng, chúng tôi không có quyền nói về cái đẹp, bầu trời, núi non, bài ca của chim, và những màu sắc. Họ tuyên bố rằng, chính những cảm giác mà chúng tôi có từ xúc giác, th́ “có tính gián tiếp,” như thể là những người bạn của chúng tôi cảm nhận mặt trời giúp chúng tôi! Họ phủ nhận một cách tiên thiên những ǵ mà họ đă không thấy và tôi cảm thấy. Một vài nhà hoài nghi táo bạo đă đi quá xa, thậm chí, họ c̣n phủ nhận cả sự hiện hữu của tôi. Do vậy, để có thể biết rằng ḿnh hiện hữu, tôi phải dùng đến phương pháp của Descartes “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu.”

Như thế, tôi được xác lập trên b́nh diện siêu h́nh học, và tôi ném lên những kẻ ngờ vực cái gánh nặng của việc chứng minh sự phi hiện hữu của tôi. Những điều được phát hiện về tâm trí th́ rất ít ỏi; do vậy, cũng khó mà xác định là người ta có thể biết hay không thể biết cái ǵ ! Tôi thừa nhận rằng, có vô vàn những điều kỳ diệu trong vũ trụ hữu h́nh mà tôi không thể đoán biết được. Cũng tương tự, hỡi nhà phê b́nh tự tin, có vô vàn cảm giác tôi “cảm nhận” được, mà các vị không ngờ tới.

Tạo Hóa ban cho con mắt một sức mạnh quư giá của thị giác, và trong cách tương tự, nó ban cho toàn bộ cơ thể cái sức mạnh quư giá của sự “cảm nhận.” Đôi khi, dường như chính cái bản thể của xác thịt tôi có nhiều con mắt đang nh́n một cách tùy ư lên một thế giới được tạo ra mọi ngày. Sự im lặng và bóng tối mà được cho là đang giam nhốt tôi, mở cánh cửa của tôi một cách hiếu khách nhất trước vô số cảm giác – những cảm giác có tính thông báo, cảnh cáo và tiêu khiển. Với 3 vị hướng đạo đáng tin cậy: xúc giác, khứu giác và vị giác, tôi làm nhiều cuộc du ngoạn vào trong cái biên giới của kinh nghiệm, vốn hiện ra trong thành phố Ánh Sáng. Thiên nhiên tự thích nghi với sự cần thiết của mọi người. Nếu con mắt bị tàn phế, đến nỗi nó không thấy khuôn mặt phong phú của ngày, th́ xúc giác trở nên sắc bén hơn và có tính biện biệt hơn. Thiên nhiên tiến hành xuyên qua sự thực tập, để tăng cường những giác quan c̣n lại. V́ lư do này, người mù thường nghe dễ dàng và rơ ràng hơn những người khác. Khứu giác trở thành hầu như một quan năng mới, để xuyên thấu cái rối ren và sự mơ hồ của sự vật. Như thế, theo một định luật bất biến, những giác quan hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau.

Tôi không thể nói, chúng ta thấy tốt nhất với bàn tay hay con mắt [16]. Tôi chỉ biết rằng, cái thế giới mà tôi “thấy” với những ngón tay tôi th́ sinh động, hồng hào, và thỏa đáng. Xúc giác mang đến cho người mù nhiều sự chắc chắn mà những đồng loại may mắn của họ bị thiếu, bởi v́ xúc giác của những người đó không được trau dồi.

Khi họ [người sáng mắt] nh́n những sự vật, th́ họ thọc tay vào trong túi. Chắc chắn, đây là một lư do tại sao kiến thức của họ thường hay quá mơ hồ, thiếu chính xác, và vô ích. Cũng rất có thể, rằng kiến thức của chúng ta về những hiện tượng ở ngoài tầm với của bàn tay, th́ đều bất toàn ngang nhau. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta thấy chúng xuyên qua một làn sương vàng óng của trí tưởng tượng.

Tuy nhiên, không có ǵ mơ hồ hay không chắc chắn về những cái mà chúng ta có thể sờ vào. Thông qua xúc giác, tôi biết những khuôn mặt của bạn bè, sự đa dạng vô giới hạn của những đường thẳng và đường cong, mọi bề mặt, cái phong phú của đất, những h́nh thể tinh tế của những bông hoa, những h́nh dáng tráng lệ của những cái cây, và trường hoạt động của những cơn gió lớn. Bên cạnh những vật thể, những bề mặt, và sự thay đổi của bầu không khí, tôi tri giác vô số những rung động. Tôi thu thập nhiều kiến thức về mọi sự việc hằng ngày từ những chấn động và rung chuyển mà tôi cảm nhận được, khắp nơi trong nhà.

Tôi phát hiện ra rằng, những bước chân thay đổi một cách sờ mó được tùy theo tuổi tác, giới tính, và cách đi đứng của đương sự. Không thể nhầm tiếng lộp bộp nơi bước chân của một đứa trẻ với bước chân của một người trưởng thành. Bước chân của một người trẻ, mạnh mẽ và tự do, khác với bước chân nặng nề, khoan thai của một người trung niên, và bước chân của một người già, mà hai bàn chân kéo lê dọc theo sàn nhà, hay đập lên sàn một cách chậm răi, ngập ngừng. Trên một sàn nhà trống không, một cô gái bước đi với một tiết nhịp nhanh, uyển chuyển, th́ hoàn toàn khác biệt với bước chân nghiêm nghị hơn của một phụ nữ đứng tuổi. Tôi đă cười lớn khi nghe tiếng cót két của đôi giày mới và tiếng rổn rảng của một cô hầu gái mập mạp đang tŕnh diễn một màn khiêu vũ vui nhộn trong nhà bếp. Một hôm, trong pḥng ăn của một khách sạn, một sự bất ḥa điệu chụp bắt sự chú ư của tôi. Tôi ngồi im và “lắng nghe” với hai bàn chân tôi. Tôi “thấy” rằng hai người hầu bàn đang đi lui đi tới, nhưng không cùng một dáng điệu. Một ban nhạc đang chơi, và tôi có thể cảm nhận những làn sóng âm thanh dọc theo sàn nhà. Một người hầu bàn bước đi ăn nhịp với tiếng nhạc, duyên dáng và nhẹ nhàng, trong khi người kia phớt lờ âm nhạc và lao vụt từ bàn này sang bàn nọ theo tiếng đập của sự bất ḥa điệu nào đó trong chính tâm trí ḿnh. Những bước chân của họ gợi tôi nhớ đến một con ngựa chiến đầy khí thế được thắng yên cương chung với một con ngựa kéo xe b́nh thường.

Thường khi, những bước chân bộc lộ, ở mức độ nào đó, tính cách và tâm trạng của đương sự. Tôi cảm nhận trong chúng sự quả quyết và sự lưỡng lự, sự vội vă và sự cân nhắc, sự linh hoạt và sự lười biếng, sự mệt mỏi, sự hờ hững, sự rụt rè, sự giận dữ, và nỗi sầu muộn. Tôi ư thức nhiều nhất về những tâm trạng và những nét tính cách này trong những người mà tôi quen biết.

Những bước chân thường xuyên bị đứt quăng bởi những rung chuyển và những cú giật mạnh nào đó, đến nỗi tôi biết khi nào người ta quỳ gối, đá, lắc một cái ǵ đó, ngồi xuống, hay đứng lên.

Như thế, tôi theo dơi, tới mức độ nào đó, những hành động của những người xung quanh tôi và những thay đổi trong những tư thế của họ. Ngay bây giờ, tiếng lộp bộp nhẹ và dày của những bàn chân trần, có tấm đệm, và một rung chuyển nhẹ bảo tôi rằng, con chó của tôi đă nhảy lên ghế để nh́n ra cửa sổ. Tuy nhiên, tôi không cho phép nó muốn đi đâu th́ đi, mà không có sự giám sát; bởi v́, thỉnh thoảng tôi cảm nhận cùng sự chuyển động đó, và “thấy” nó, không phải trên ghế, mà lại ngồi tót trên sofa.

Khi những người thợ mộc làm việc trong nhà hay trong nhà để xe tải kế bên, tôi biết – qua sự rung động nghiêng, lên và xuống, có khía răng cưa, và sự chấn động rung rung của cú đánh này trên cú đánh kia – rằng ông ta đang cưa hay đập búa. Nếu tôi không đủ gần, th́ một rung động nào đó, chạy lui chạy tới dọc theo một bề mặt bằng gỗ, mang đến cho tôi cái thông tin rằng, ông ta đang sử dụng một cái bào.

Một tiếng vỗ nhẹ trên tấm thảm nói cho tôi biết rằng, một cơn gió nhẹ đă thổi những giấy tờ của tôi bay khỏi cái bàn. Một tiếng “bịch” tṛn, là một tín hiệu rằng, một cây bút ch́ đă lăn xuống sàn. Nếu một cuốn sách rơi xuống, nó gây ra một tiếng “sạt” nhẹ. Một tiếng “cốp” trên bao lơn chân cầu thang, báo tin rằng, bữa ăn tối đă sẵn sàng. Nhiều trong số những rung động này bị xóa đi khi ở ngoài trời. Trên một bồn cỏ hay con đường, tôi chỉ có thể cảm nhận tiếng chạy, giẫm chân, và tiếng ầm ầm của những cái bánh xe.

Bằng cách đặt bàn tay ḿnh lên đôi môi hay cổ họng một ai đó, tôi thu nhận nhiều rung động đặc biệt, và thuyết minh chúng : tiếng cười khúc khích của một bé trai, tiếng “ối chà” ngạc nhiên của một người đàn ông, tiếng “hừm” của sự bực bội hay bối rối, tiếng rên của sự đau đớn, một tiếng thét, một tiếng th́ thầm, một tiếng sột soạt, một tiếng nức nở, một sự nghẹn ngào, và một tiếng thở dốc. Những âm thanh của những con vật, dù không lời, cũng nói nhiều điều với tôi – tiếng rừ rừ của con mèo, tiếng meo meo của nó, tiếng gầm gừ giận dữ, giật giật, đầy phiền trách của nó; tiếng gâu gâu của con chó, biểu lộ sự cảnh báo hay sự đón chào vui sướng, tiếng kêu ăng ẳng của tuyệt vọng, và tiếng ngáy thoả măn của nó; tiếng rống của con ḅ cái; tiếng chí chóe của một con khỉ; tiếng khịt mũi của một con ngựa; tiếng gầm của con sư tử, và tiếng rống khủng khiếp của con cọp. Có lẽ tôi phải nói thêm, với những nhà phê b́nh và những kẻ ngờ vực – những người mà có thể suy ngẫm về bài tiểu luận này – rằng, với chính hai bàn tay, tôi đă cảm thấy mọi âm thanh này.

Từ thuở ấu thơ cho đến hiện nay, tôi đă tranh thủ mọi cơ hội để viếng thăm vườn bách thú, những sở thú nhỏ, và gánh xiếc; và mọi con vật, trừ con cọp, đă “nói” vào bàn tay tôi. Tôi đă chỉ sờ con cọp trong một viện bảo tàng, nơi mà nó là một chú cừu non vô hại. Tuy nhiên, tôi đă “nghe” nó nói bằng cách đặt tay tôi trên những song sắt cái chuồng của nó. Tôi đă sờ vài con sư tử bằng xương bằng thịt, và cảm nhận chúng rống “một cách vương giả,” giống như một thác nước chảy qua những tảng đá.

Tôi biết cái tiếng “tơm” của chất lỏng trong một cái b́nh. Do vậy, nếu tôi làm đổ sữa của tôi, th́ tôi không thể viện cớ là không biết. Tôi cũng quen thuộc với tiếng “bốp” của một cái nút chai, tiếng “lụp bụp” của một ngọn lửa, tiếng tích tắc của cái đồng hồ treo tường, tiếng lắc lư của một cối xay gió, sự lên xuống của cái bơm, sự tăng tốc của cái ṿi phun nước, tiếng vỗ nhẹ của cơn gió nhẹ lên cửa lớn và cửa sổ, và nhiều cái rung động khác, không kể hết.

Có những rung động thuộc về xúc giác mà không thuộc về sự xúc chạm của làn da. Chúng xuyên thấu da, những dây thần kinh, xương, giống như sự đau đớn, hơi nóng, và cái lạnh.

Tiếng đập của một cái trống đập mạnh vào tôi, xuyên suốt từ ngực tới bả vai. Tiếng ầm ầm của xe lửa, cây cầu, và tiếng nghiến của máy móc vẫn lưu lại ấn tượng trên tôi rất lâu, sau khi cái nguyên nhân của nó đă bị bỏ lại đằng sau. Nếu sự rung động và chuyển động kết hợp trong xúc giác của tôi trong một thời gian, th́ mặt đất dường như chạy ra xa trong khi tôi đứng im. 

Khi tôi bước xuống xe lửa, cái sân ga xoay ṿng xung quanh, và tôi thấy khó bước đi một cách vững chăi. Mọi nguyên tử của cơ thể tôi là một máy chấn nghiệm [17]. Nhưng những cảm giác của tôi không phải là không thể sai lầm. Có lần, những ngón tay tôi vươn ra, và gặp một cái ǵ đó giống như da thú, nhảy lui tới, tự gom ḿnh lại với nhau như thể nhảy lên, và hành động giống như một con thú. Tôi ngừng một khoảnh khắc để đề pḥng. Tôi sờ nó lại, kỹ hơn, và thấy nó là một cái áo khoác bằng da thú đang phất phơ và đập phành phạch trong gió. Đối với tôi, cũng như với bạn, trái đất có vẻ bất động, và mặt trời có vẻ di chuyển; bởi v́ những tia nắng của buổi chiều rút lui dần khi chúng chạm vào mặt tôi, cho đến khi không khí trở nên mát mẻ.

Từ điều này, tôi hiểu, như thế nào mà cái bờ có vẻ như rút lui khi bạn đi thuyền ra xa khỏi nó. Do vậy, tôi không cảm thấy chút nghi ngờ nào khi bạn nói rằng, những đường thẳng song song có vẻ như đồng quy, mặt đất và bầu trời gặp nhau. Những giác quan ít ỏi của tôi, từ lâu, đă phát lộ cho tôi những bất toàn và sự lừa dối của chúng.

Những giác quan không chỉ lừa dối, mà vô số cách dùng trong ngôn ngữ của chúng ta chỉ định rằng, những người có đủ 5 giác quan thấy khó mà giữ cho những chức năng của chúng tách biệt rạch ṛi. Tôi hiểu rằng chúng ta “nghe” những quan điểm, “thấy” những giọng điệu, “nếm” âm nhạc. Tôi được nói cho biết rằng, những giọng nói có màu sắc. Xúc giác, mà tôi cho là một vấn đề của tri giác tinh tế, hóa ra là vấn đề về “nếm.” [18] Xét theo nghĩa rộng của nó, th́ từ “taste” [nếm] dường như là cái quan trọng nhất trong mọi giác quan. “Nếm” [thị hiếu] chi phối những quy ước lớn và nhỏ của cuộc sống. Chắc chắn, ngôn ngữ của những giác quan th́ đầy những mâu thuẫn, và các đồng loại của tôi – những người có đủ 5 giác quan – th́ chắc chắn không “thoải mái” trong chúng hơn tôi. Vậy th́, há chẳng phải, là tôi có thể được tha thứ, nếu bản tường tŕnh này về những cảm giác của tôi thiếu sự chính xác ?

_____

[16] Các nhà khoa học cần lưu ư điểm này, bởi v́, người ta thường mặc nhiên cho rằng, thị giác có tầm quan trọng lớn hơn xúc giác

[17] Vibroscope.

[18] Taste: (động từ): Nếm. Taste: (danh từ): vị giác; thị hiếu.

 

 

Xem tiếp CHƯƠNG V

art2all.net