ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN MỘT :

SỰ HẤP DẪN CỦA NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG.


CHƯƠNG II

ƯỚC MƠ CÓ NHỮNG CÁI THAY THẾ

7

          Có một khác biệt nền tảng giữa sự hấp dẫn của một phong trào quần chúng và của một tổ chức thực tiễn. Tổ chức thực tiễn cung ứng những cơ hội cho việc tiến thân, và sự hấp dẫn của nó chủ yếu là tư lợi. Trái lại, một phong trào quần chúng – nhất là trong giai đoạn năng động và có tính phục hưng của nó – không hấp dẫn đối với những ai chú tâm đến việc nâng đỡ và thăng tiến một bản ngă yêu dấu, nhưng [hấp dẫn] đối với những ai khao khát thoát khỏi một bản ngă vô dụng. Một phong trào quần chúng lôi cuốn dân chúng đi theo, không phải bởi v́ nó có thể thỏa măn ước mơ tiến thân, mà bởi v́ nó có thể thỏa măn niềm đam mê về “sự quên ḿnh.”

_____

Self-renunciation. Chú ư: Chữ “quên ḿnh” ở đây không phải là sự quên ḿnh vị tha; nó có nghĩa tiêu cực: “muốn quên đi cái tôi bị hỏng, hoặc bất lực, xấu xa, vô dụng của ḿnh.” Về sau, ta sẽ rơ hơn.

 

Những người thấy đời ḿnh [như là] bị hỏng một cách vô phương cứu chữa, không thể t́m thấy một mục đích xứng đáng trong việc tiến thân. Viễn ảnh về một sự nghiệp cá nhân không thể thúc đẩy họ làm một nỗ lực to lớn; nó cũng không thể gợi dậy trong họ niềm tin và sự tận tụy toàn tâm toàn trí. Họ nh́n tư lợi như là một cái ǵ đó đồi bại và xấu xa, một cái ǵ đó dơ bẩn và không may mắn. Bất cứ cái ǵ được thực hiện dưới sự hướng dẫn của bản ngă, đối với họ, có vẻ như bị thất bại một cách tiền định. Tất cả những ǵ mà có gốc rễ và những lư do trong bản ngă, đều không thể tốt lành và cao thượng. Niềm khao khát sâu kín của họ, là có một cuộc sống mới, một sự tái sinh. Hoặc, nếu không thành công trong việc này, th́ họ khao khát một cơ hội thủ đắc những yếu tố mới của ḷng tự hào, sự tự tin, niềm hy vọng – một cảm thức về mục đích và giá trị, bằng việc tự đồng hóa ḿnh với một “sự nghiệp thần thánh.” Một phong trào quần chúng năng động cung ứng cho họ những cơ hội cho cả hai. Nếu họ gia nhập phong trào như những “kẻ tân ṭng” toàn phần, th́ họ được tái sinh, có một cuộc sống mới trong một tổ chức có kỷ luật chặt chẽ; hoặc, nếu là những cảm t́nh viên, th́ họ t́m thấy những yếu tố của ḷng tự hào, niềm tự tin và mục đích, bằng cách tự đồng hóa với những nỗ lực, những thành tựu và những viễn ảnh của phong trào.

Đối với những kẻ phẫn chí, th́ một phong trào quần chúng cung ứng những cái thay thế, hoặc cho toàn bộ bản ngă, hoặc cho những yếu tố mà khiến cho đời dễ chịu đựng, và những cái mà họ không thể khơi dậy từ những tài nguyên cá nhân của ḿnh.

Đúng là, trong số những phần tử trung kiên đầu tiên của một phong trào quần chúng, cũng có những “kẻ phiêu lưu,” họ gia nhập với hy vọng rằng, phong trào sẽ cho họ một cú hích vào cái “bánh xe vận mệnh” của họ, và đưa họ đến danh vọng và quyền lực. Về mặt khác, th́ một mức độ của sự tận tụy “vô ngă,” đôi khi được biểu lộ bởi những kẻ gia nhập những công ty, những đảng chính trị “chính thống,” và những tổ chức thực tiễn khác. Tuy nhiên, sự kiện vẫn là, một mối quan tâm thực tiễn không thể kéo dài, trừ phi nó có thể hấp dẫn, và thỏa măn tư lợi; trái lại, cái khí thế và sự tăng trưởng của một phong trào đang lên, tùy thuộc vào cái năng lực của nó trong việc kích thích và thỏa măn niềm đam mê đối với “sự quên đi chính ḿnh.” Khi một phong trào quần chúng bắt đầu thu hút những người vốn quan tâm đến sự nghiệp cá nhân của họ, th́ nó là một dấu hiệu cho thấy rằng, nó đă qua giai đoạn mănh liệt của nó; rằng nó không c̣n dấn ḿnh vào việc “định h́nh” một thế giới mới, mà chỉ quan tâm đến việc sở hữu và duy tŕ hiện tại. Lúc đó, nó thôi không c̣n là một phong trào và trở thành một xí nghiệp [enterprise]. Theo Hitler, th́ nếu một phong trào càng có nhiều “chức vụ và vị trí để phân phát, nó sẽ càng lôi cuốn những phần tử thấp kém, và cuối cùng, những “kẻ cơ hội về chính trị” này quá tràn ngập một đảng thành công, trong một số lượng quá to lớn, đến nỗi mà, những chiến sĩ trung thực [honest] của những ngày trước đây, đă không c̣n nhận ra cái phong trào cũ nữa… Khi việc này xảy ra, th́ “cái sứ mệnh” nguyên thủy của một phong trào đă bị kết liễu.” (1)

Bản chất của cái thay thế toàn phần được cung cấp bởi “sự chuyển đổi” sẽ được thảo luận trong những chương về sự hy sinh và hành động hợp quần trong phần III. Ở đây, chúng ta sẽ đề cập đến những cái thay thế từng phần.

______

Conversion: Sự chuyển đổi; sự tân ṭng. Đi từ động từ “to convert,” có nghĩa là “chuyển đổi.” Trong cuốn sách này, th́ “chuyển đổi” có 2 nghĩa chính: 1. Sự cải đạo: chuyển đổi từ một đạo này sang một đạo khác. Kẻ mới cải đạo, gọi là kẻ “tân ṭng.” 2. Chuyển đổi từ một tổ chức, một đảng nào đó, sang một tổ chức, một đảng khác.

 

8

Niềm tin vào một “sự nghiệp thần thánh,” ở một mức độ đáng kể, là một cái thay thế cho niềm tin vào chính ḿnh, mà đă bị đánh mất.

 

9

Một người càng ít có lư do chính đáng trong việc khẳng định sự xuất chúng của cái bản ngă của chính ḿnh, th́ anh ta càng sẵn sàng khẳng định toàn bộ sự xuất chúng của dân tộc ḿnh, tôn giáo ḿnh, sắc tộc ḿnh, hay “sự nghiệp thần thánh” của ḿnh.

 

10

Có khả năng là, một người chú tâm đến công việc của riêng ḿnh, khi nó xứng đáng được chú tâm. Khi nó không xứng đáng, th́ người ấy gạt bỏ những vụ việc vô nghĩa của ḿnh ra khỏi đầu óc, bằng cách chú tâm đến công việc của những người khác.
Việc chú tâm đến công việc của những người khác tự biểu hiện ra trong sự đàm tiếu, sự ṭ ṃ tọc mạch và việc chơ mũi vào chuyện của người khác; và nó cũng biểu lộ ra trong sự quan tâm “hăng say” đối với những vụ việc của cộng đồng, của dân tộc, và của sắc tộc ḿnh. Trong việc chạy khỏi chính ḿnh, chúng ta hoặc “rơi xuống” trên vai người láng giềng của ta, hoặc “bay vào” cổ họng anh ta.

 

11

Cái xác tín cháy bỏng rằng, chúng ta có một bổn phận thiêng liêng đối với những người khác, thường là một cách buộc chặt cái bản ngă đang chết đuối của chúng ta vào một cái bè đang trôi qua. Cái có vẻ như là việc giúp đỡ người khác, thường là việc níu vào một cái phao để cứu mạng sống thân yêu [của chính ḿnh]. Nếu bị lấy mất những bổn phận của ta, th́ đời ta trở thành nhỏ bé và vô nghĩa. Không nghi ngờ ǵ, trong việc trao đổi một cuộc sống quy-ngă cho một cuộc sống “vô ngă,” chúng ta có thêm nhiều ḷng tự trọng. Niềm tự cao của những người “vô ngă,” – ngay cả những người thực hành sự khiêm cung lớn nhất – là vô hạn.

____

Đây là một nhận xét rất sâu sắc, mặc dù, có vẻ như “nghịch lư.” Nh́n chung, nó đúng. Tuy nhiên, không nên “vơ đũa cả nắm”: công b́nh mà nói, th́ có một số người vị tha thực sự, và có lẽ, họ là “những ngoại lệ.”

• A self-centered life

 

12

Một trong những cái hấp dẫn hùng mạnh nhất của một phong trào quần chúng, là việc nó cung ứng một cái thay thế cho niềm hy vọng cá nhân. Sự hấp dẫn này th́ đặc biệt hữu hiệu trong một xă hội thấm nhuần với ư tưởng về sự tiến bộ. Bởi v́ trong quan niệm về sự tiến bộ, th́ “ngày mai” hiện ra to lớn, và sự phẫn chí do việc không có ǵ để mong đợi, lại càng thấm thía. Hermann Rauschning nói về nước Đức thời tiền-Hitler : “cái cảm nhận rằng mọi sự đă kết thúc, là một trong những điều gây bất an tồi tệ nhất mà chúng ta gặp phải sau cuộc chiến bại đó” (2). Trong một xă hội hiện đại, th́ người ta có thể sống mà không có hy vọng, chỉ khi nào bị làm cho choáng váng và đứt hơi bởi sự bươn chải không ngừng nghỉ. Sự tuyệt vọng tạo ra bởi nạn thất nghiệp, nó đến không chỉ từ sự đe dọa của sự bần cùng, mà c̣n từ cái nh́n đột xuất về cái hư vô bao la đằng trước mặt. Những kẻ thất nghiệp dễ dàng đi theo những “kẻ bán rong” niềm hy vọng, hơn là đi theo những người phát chẩn.
Những phong trào quần chúng thường bị cáo buộc là huyễn hoặc những người đi theo chúng với niềm hy vọng về tương lai, trong khi lừa gạt họ, tước mất của họ sự hưởng thụ trong hiện tại. Thế nhưng, đối với những kẻ phẫn chí, th́ hiện tại đă bị hỏng một cách vô phương cứu chữa. Những tiện nghi và những lạc thú không thể làm cho nó [hiện tại] lành lặn trở lại. Không có sự hài ḷng hay sự an ủi thực sự nào có thể nổi lên trong tâm trí họ, ngoài niềm hy vọng. (3)

 

13

Khi những tư lợi cá nhân của chúng ta và những viễn ảnh [tương lai] dường như không xứng đáng cho ta theo đuổi, th́ chúng ta hết sức cần một cái ǵ đó tách biệt khỏi chúng ta để theo đuổi. Mọi h́nh thức tận tụy, ḷng trung thành và sự quên đi chính ḿnh, trong yếu tính, là một sự bám víu tuyệt vọng vào một cái ǵ đó mà có thể đem lại giá trị và ư nghĩa cho cuộc đời bị hỏng, vô dụng của chúng ta. Do vậy, việc ôm gh́ một cái thay thế, sẽ tất yếu là mănh liệt và cực đoan. Niềm tự tin của chúng ta vào chính ḿnh, nó có thể có mức độ; nhưng niềm tin mà chúng ta có vào dân tộc ta, tôn giáo ta, hay “sự nghiệp thần thánh” của ta, th́ phải cực đoan và không khoan nhượng. Một cái thay thế được đón nhận trong sự ôn ḥa, th́ không thể thay thế và xóa bỏ cái bản ngă mà chúng ta muốn quên. Chúng ta không thể chắc rằng, chúng ta có một cái ǵ đó xứng đáng để theo đuổi, trừ phi chúng ta sẵn sàng chết cho nó. Sự sẵn sàng chết này là bằng chứng đối với chính chúng ta và những kẻ khác rằng, cái mà chúng ta đă phải nhận lấy như là một cái thay thế cho một lựa chọn đầu tiên – đă bị hỏng và bị bỏ lỡ không thể văn hồi – th́ quả thực là cái tốt nhất mà đă từng có.

 

========

(1). Adolph Hitler, Mein Kampf (Boston: Houghton Mi􀁁in
Company, 1943), p. 105.
(2). Hermann Rauschning, The Conservative Revolution (New
York: G. P. Putnam’s Sons, 1941), p. 189.
(3). Thomas Gray, Letters, Vol. I, p. 137. Quoted by Gamaliel
Bradford, Bare Souls (New York: Harper & Brothers, 1924), p. 71.


 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 1, Chương 3


 

art2all.net