Nhân  đọc lại Tự Thú của Lev Tolstoy

Nguyễn Thế  Đăng (Tu sĩ Phật Giáo)

 

 

1. Tự thú

 

Tự  Thú là tên bản dịch tác phẩm Confession của Lev Tolstoy (1928-1910), do Đỗ Tư Nghĩa thực hiện và được Nhà xuất bản Văn Hóa Sài G̣n ấn hành năm 2007.

Confession trong bối cảnh Tây phương, có thể dịch là thú tội, xưng tội. C̣n trong bối cảnh Đông phương là sám hối. Với Phật giáo, biết hổ thẹn (tàm quư), biết lỗi lầm của ḿnh là bước đầu cho hành tŕnh nên người, thành người cao cả.

Tác phẩm được xuất bản năm 1894, khi Tolstoy 56 tuổi. Lúc đó, bá tước Tolstoy đă ở trên đỉnh cao danh vọng, có chỗ đứng chắc chắn trong văn học thế giới với những tác phẩm bất hủ như Chiến tranh và Ḥa b́nh (1869) và Anna Karenina (1877). Tinh thần nhân bản của ông đă ảnh hưởng tới Mahatma Gandhi và Martin Luther King. Có thể có một số người trong chúng ta không thích văn chương của Tolstoy, nhưng cho đến hôm nay ai cũng đều công nhận Tolstoy là một con người trung thực và nhân bản nhất đă từng có mặt trong lịch sử nhân loại. Thế nên Tự Thú của Tolstoy cũng là tự thú của mỗi chúng ta.

Tự  thú điều ǵ? Tự thú về những thành công và thất bại trong công cuộc t́m kiếm “ư nghĩa toàn diện của cuộc đời” (tr. 42). Tự thú trong “việc giải quyết sự mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, một câu trả lời cho câu hỏi về cuộc sống mà khiến người ta có thể sống – một câu trả lời như vậy th́ cần thiết và thân thiết với chúng ta” (tr.124). “Câu hỏi của tôi, cái câu hỏi đă đưa tôi tới bờ mép của sự quyên sinh khi tôi 50 tuổi, là câu hỏi đơn giản nhất trong tâm hồn mọi con người, từ một đứa trẻ ngờ nghệch cho đến những bậc cao niên khôn ngoan nhất, câu hỏi mà thiếu nó th́ không thể sống được. Câu hỏi đó là như vầy: Tại sao tôi nên sống? Có chăng một ư nghĩa trong đời tôi, cái ư nghĩa đó sẽ không bị hủy diệt bởi cái chết của tôi – cái chết tất yếu và đang tới gần?” (tr.63).

“Từ tuổi 16, tôi đă bỏ cầu nguyện, bỏ  đi nhà thờ, bỏ ăn kiêng. Tôi ngừng tin vào cái ǵ  đă được truyền dần vào tôi từ tuổi thơ, thế nhưng tôi thật sự tin vào một cái ǵ đó, mặc dù tôi không thể nói đó là cái ǵ” (tr. 22). “Cái niềm tin đích thực duy nhất mà tôi đă có, là niềm tin vào sự hoàn hảo” (tr. 23). “Cuộc sống của tôi tại châu Âu và sự quen biết của tôi với những người Châu Âu nổi tiếng và thông thái lại càng củng cố niềm tin của tôi vào cái khả năng trở nên hoàn hảo một cách tổng thể, bởi v́ tôi cũng t́m thấy nơi họ một niềm tin tương tự” (tr. 36).

“Ư nghĩa toàn diện của cuộc đời” (các trang 42, 57, 76, 77…) chính là câu hỏi của Tolstoy trong Tự thú. Sự bế tắc của ông là sự bế tắc của mọi người đang sống chung quanh ông: “Bây giờ th́ tôi thấy rơ ràng rằng không có sự khác biệt nào giữa chúng tôi và những người đang sống trong một nhà thương điên” (tr. 35). Chữ “người điên, điên rồ” được nhắc đến 4 lần (các trang 32, 33, 34, 36) chỉ trong mấy trang giấy. “Tôi đă sống như thế, hiến ḿnh cho sự điên rồ này thêm 6 năm nữa cho đến lúc kết hôn (34 tuổi)”. Và cả sự “thịnh vượng”, sự “nổi danh”: “Rất tốt, ḿnh sẽ nổi danh hơn cả Gogol, Pushkin, Shakespeare, Molière, nổi danh hơn tất cả những nhà văn trên thế giới – Rồi sao nữa? và tôi tuyệt đối không thể t́m thấy một câu trả lời nào” (tr. 47). “Lẽ ra tôi nên được xem là một người hoàn toàn hạnh phúc, khi tôi chưa đầy 50 tuổi. Tôi có một người vợ tốt, nàng yêu tôi và tôi tha thiết yêu nàng, những đứa con xinh xắn và một bất động sản lớn đang phát triển bành trướng mà tôi khỏi cần một nỗ lực nào. Hơn bao giờ hết, tôi được kính nể và ca ngợi… Tôi được hưởng một khí lực mạnh mẽ về thể xác và tinh thần… và trong cái hiện t́nh như thế, tôi đă đi tới một điểm là tôi không thể sống” (tr. 51).

“Nghệ thuật văn học?... chỉ là một sự trang trí cho cuộc sống. Khi tôi bắt đầu cảm thấy nhu cầu cần phải sống, tấm gương văn học nghệ thuật này lại trở thành hoặc là cái ṿ xé tâm hồn tôi, hoặc là nó trở nên không cần thiết, dư thừa và lố bịch” (các trang 56, 57). “Giống như người cứ chạy ṿng quanh mong ước t́m đường ra… Cái khủng khiếp của bóng tối th́ quá lớn và tôi muốn thoát khỏi nó càng nhanh càng tốt, bằng một sợi dây thừng hay một viên đạn. Chính cái cảm nhận này đang dẫn tôi về phía sự quyên sinh” (các trang 58, 59).

Ông đi t́m câu hỏi ư nghĩa sự hiện hữu của ḿnh trong cả hai lĩnh vực nghiên cứu của loài người: “Lĩnh vực của khoa học thực nghiệm và cái đầu mút của nó là toán học. Lĩnh vực kia của kiến thức là triết học tư biện và đầu mút tận cùng của nó là siêu h́nh học” (tr. 64). “Nếu chúng ta xoay hướng sang những lĩnh vực khác để cố gắng mang đến những câu trả lời cho những câu hỏi – chẳng hạn như sinh lư học, tâm lư học, sinh vật học, xă hội học – th́ chúng ta gặp phải một sự nghèo nàn đáng chú ư về tư tưởng và sự tối tăm lớn nhất… Chúng ta cũng t́m thấy sự mâu thuẫn liên miên giữa một nhà tư tưởng này với một nhà tư tưởng khác, và thậm chí, mỗi nhà tư tưởng cũng tự mâu thuẫn với chính ḿnh” (tr. 67). Ngày nay, một trăm năm sau Tolstoy, chúng ta thấy những câu hỏi căn bản ấy về ư nghĩa đời người vẫn chưa được các ngành học thuật trả lời, không những thế, câu hỏi về chính bản chất các ngành học, chẳng hạn như “vật lư học là ǵ?”, “tâm lư học là ǵ?” vẫn là những câu hỏi chưa hề chạm tới đáy.

Ông đi đến với những nhà tư tưởng lớn: Socrates, Schopenhauer, Kant, cả vua Salomon của Cựu Ước và Đức Phật. Ở đây, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa đă nhận xét đúng trong lời phụ chú: “Do thiếu điều kiện để tiếp cận với đạo Phật một cách toàn diện và thấu đáo (nửa cuối thế kỷ 19 ở Tây phương), Tolstoy đă có những nhận định phiến diện và sai lệch. Thực ra đạo Phật không bi quan và yếm thế như Tolstoy đă nghĩ” (tr. 92).

Ông trích lời của Salomon: “Hư vô của những hư vô, hư vô của những hư vô, tất cả đều là hư vô!... Tất cả là hư vô và một sự mệt mề của tâm thức… V́ càng nhiều thông thái càng nhiều sầu muộn, và kẻ nào gia tăng thông thái cũng gia tăng sầu muộn” (tr. 84). Ông tự kết luận: “Tôi đă không thể bị đánh lừa. Mọi sự đều là hư vô. Hạnh phúc thay cho kẻ nào chưa từng được sanh ra; cái chết th́ tốt hơn cuộc sống; chúng ta phải loại bỏ sự sống ra khỏi chính ḿnh” (tr. 93).

Đáp số của quá tŕnh t́m kiếm trong ư thức là: “Cùng với những trí óc kiệt xuất nhất mà nhân loại đă từng sản sinh ra, tôi đạt tới câu trả lời 0 = 0” (tr. 122). “Cho dẫu cái lư luận của chúng ta có tinh tế đến mấy chăng nữa cũng không thể t́m ra câu trả lời; nó luôn luôn đưa tới đáp số 0 = 0” (các trang 126, 127).

Quan sát chung quanh, ông thấy cuộc đời của mọi người chỉ là một cách chạy trốn: 1/ Cách chạy trốn của sự ngu dốt;  2/ Cách chạy trốn của chủ nghĩa khoái lạc; 3/ Cách chạy trốn dựa vào sức mạnh và nghị lực, 4. Cách chạy trốn của sự yếu đuối (các trang 95-99). Và ông ‘tự thú’ ḿnh thuộc về cách chạy trốn thứ tư (tr.99).

Trong hai chương cuối 15 và 16, ông từ chối cả hệ thống tôn giáo từ thuở nhỏ của ḿnh: “… sau cùng đă dẫn tôi đến chỗ từ bỏ khả tính của một mối quan hệ với Hội Thánh Chính Thống” (tr. 174). “Hội Thánh Chính Thống và những người Công giáo xem tất cả những ai không có cùng tín ngưỡng như họ là những kẻ tà đạo. Đó là cái điều tàn nhẫn nhất mà một người có thể nói với một người khác” (tr. 176). “Sự khinh thị lẫn nhau quyết liệt giữa các giáo phái Công giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành và tất cả những giáo phái c̣n lại” (tr. 177). “Và nhân danh t́nh yêu Ky-tô giáo, những người Nga đang giết những huynh đệ của họ” (tr. 183).

“Nguồn gốc của mọi sự phải c̣n bị  ẩn giấu trong cái vô hạn. Nhưng quả thật tôi muốn hiểu để tôi có thể được đưa tới Cái Không Thể Hiểu Được - tất yếu không thể hiểu được… bởi v́ tôi nhận ra những giới hạn của trí năng” (tr.188).

Phần  Lời cuối của tác phẩm này được viết sau đó 3 năm. Một giấc mộng: Ông thấy ḿnh nằm trên những sợi dây giữa hai vực thẳm chiều sâu không đáy, bên dưới và bên trên. “Cái vô hạn phía dưới gây bất an cho tôi và khiến tôi kinh hăi; cái vô hạn phía trên lôi cuốn tôi và cho tôi sức mạnh” (tr. 192). “Mọi thứ này th́ rơ ràng với tôi và tôi vui mừng và b́nh an. Rồi như thể có ai đó đang nói với tôi: ‘Hăy nhớ lấy, đừng quên nhé’. Và tôi tỉnh dậy” (tr.194).

Trong những tháng cuối đời, vào lúc mùa đông năm 1910 bắt đầu tới, Tolstoy bỏ nhà “ra đi đến một nơi vô định”. Cả nước Nga đuổi theo ông, Nga hoàng đă cử giáo chủ Ṭa Thánh Parpheni đến gặp yêu cầu ông ḥa giải với Chính Thống giáo nhưng thất bại. Ông chết ở một nhà ga nhỏ nước Nga ngày 20 tháng 11 năm 1910.

Sự  ra đi để chết của Tolstoy xem ra c̣n bi thảm khốc liệt hơn cả sự trở về để chết của Arthurd Rimbaud (1854-1891). Nếu Rimbaud là sự không nguôi ngoai quằn quại của lửa đối với cái vĩnh cửu vô hạn (bài thơ L’éternité) th́ Tolstoy là sự nung nấu đau đớn của đá trước câu hỏi của thân phận con người đối mặt với cái tuyệt đối vô hạn. Một người đă bỏ thi ca (thi ca bất lực hay ḿnh bất lực với Thi Ca?), bỏ cả tuổi trẻ để sống một cuộc đời ‘hành động’ (buôn bán vũ khí, ngà voi… ở Châu Phi) và trở về quê hương để cưa một chân và chịu phép rửa tội trước khi chết. Một người th́ bỏ gia đ́nh, bỏ trang trại, bỏ văn chương để ra đi như “chạy trốn” vào lúc cuối đời để t́m gặp ư nghĩa tối hậu của cuộc đời và thở hơi cuối cùng ở một nhà ga nước Nga trong mùa đông lạnh.

Cả  hai đều chứng minh một điều: Con người là sự truy t́m cái vô hạn, cái vĩnh cửu, một cách ư thức hay vô thức, cái nền tảng cội nguồn của cuộc đời nó mà không có cái ấy th́ không thể sống được, cuộc đời không có nghĩa ǵ cả.

Tôi là ai? Có chăng một thực tại tối hậu? Trên những đỉnh núi cao của con người, những câu hỏi ấy như  sấm sét đánh vào thân phận con người. “Tôi là cái ǵ với tất cả những khát vọng của tôi?” (tr. 66). “Làm sao để sống tốt hơn” (tr. 37), làm sao để đạt đến “cái hoàn thiện phổ quát, cái tốt phổ quát?”, cái Tốt với tư cách là cái từ đó tôi sanh ra, trong đó tôi sống và về đó tôi chết? Chẳng lẽ chung cuộc của cuộc đời là 0 = 0? Làm sao để có một cuộc biến h́nh (transfiguration)? Làm sao để có một cuộc chuyển hóa (transformation)? Làm sao để công thức 0 = 0 không chỉ là một diễn tả của chân lư tương đối, của hữu hạn dẫn đến hư vô, mà là một diễn tả của chân lư tuyệt đối, của chính cái vô hạn?

 

 

2. Một con đường gặp gỡ

 

Một trong những hệ thống lớn nhất  - lớn nhất nhưng không phải duy nhất  - của Phật giáo là để giải quyết cái “0 = 0” này, cái “vô hạn sâu không đáy bên dưới và bên trên” này, là hệ thống Bát nhă, tức là Trí huệ thấu đạt tánh Không.

Câu hỏi và sự  trải nghiệm của Tolstoy không chỉ của riêng ông, không chỉ của riêng người Tây phương, không chỉ của riêng thời đại nào. Cũng như những công án, những thoại đầu, khối nghi t́nh của Thiền tông không phải chỉ của riêng Thiền tông, mà là của tất cả mọi người, ở bất kỳ thời đại nào. “Vô (hay Không) là ǵ?” “ Tất cả quy về một, một quy về đâu?” “Cái ǵ là khuôn mặt của ông trước khi cha mẹ sinh ra?” … Đó là sanh tử quan” (cửa ải sanh tử) của đời người.

Con người luôn luôn bị  giam cầm trong ṿng vây càng ngày càng nặng nề của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm uẩn này là những thứ hợp tạo, do đó hữu hạn, vô thường, và tất yếu là dẫn đến khổ đau. Nhưng cũng chính v́ năm uẩn là hợp tạo, hữu hạn và vô thường nên chúng ta có thể phá tan chúng để thoát ra.

Chúng ta không thấy được sự thật, ư nghĩa của đời sống, bởi v́ chúng ta đang chạy ḷng ṿng trong sự vây hăm của năm uẩn. Chẳng hạn ṿng vây của ư thức (ư thức chỉ là một phần của thức) là: Làm sao có được sự hợp nhất giữa cái hữu hạn và cái vô hạn ?” (Tolstoy). “Tại sao có hiện hữu thay v́ không có ǵ cả, hư vô?” (Heidegger) “Hữu thể có thể nào là hư vô hay hư vô có thể nào là hữu thể?” (Sartre). Một trong những sự soi sáng của Phật giáo là không phải chúng ta bị giam cầm trong câu hỏi, mà chính là chúng ta đang bị giam cầm trong thức, bởi v́ chính thức đă sinh ra những khái niệm hữu hạn và vô hạn, hữu thể và hư vô, vô thường và thường, sanh và diệt … đồng thời tách ĺa chúng. Những câu hỏi mà ư thức không thể trả lời khởi sanh từ đó.

Vậy th́ cách để phá thấu qua những câu hỏi căn bản và tối hậu của đời người chính là phá thấu và vượt qua thức và đồng thời với thức là bốn uẩn trước (sắc, thọ, tưởng, hành). Sự phá thấu và vượt thoát này không phải chỉ sử dụng năng lực của ư thức, mà là một tổng thể năng lực của tất cả thân tâm. Những cái cơ bản là: chánh kiến .chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Tất cả năng lực ǵ nơi con người đều được đem ra sử dụng hết trên con đường mà ngàn thánh đă đi qua” .

Chẳng hạn lời dạy của Thiền sư Vô Môn: “Tham thiền phải vượt qua cửa Tổ, diệu ngộ phải dứt tuyệt đường tâm. Cửa Tổ không lọt, đường tâm không dứt th́ cũng như bóng ma nương nhờ cây cỏ”.

Thử hỏi cửa Tổ là ǵ? Chỉ một chữ Không (Vô) chính là cửa ấy, bèn gọi là Vô Môn quan của Thiền tông vậy. Qua được cửa ấy chẳng những thấy được Triệu Châu mà c̣n cùng các Tổ xưa nắm tay chung bước, thâm sâu giao kết, cùng một mắt mà thấy, cùng một tai mà nghe. Há chẳng thú sao? Há chẳng ai muốn qua cửa ấy sao?

Hăy tận dụng ba trăm sáu mươi xương cốt, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông, vận dụng cả thân tâm khởi thành một khối nghi, tham thẳng chữ Không, ngày đêm nghiềm ngẫm. Như nuốt phải ḥn sắt nóng, muốn nhả mà nhả không ra… Bỗng nhiên bộc phát, trời kinh đất chuyển, như đoạt được vào tay thanh đại đao của Quan Vũ, giết sạch thánh phàm, dửng dưng với bờ sanh tử, rong chơi chốn lục đạo tứ sanh(Vô Môn Quan, bản dịch Trần Tuấn Mẫn, Lá Bối, 1972).

Mặc dầu đây chỉ  là một phương pháp trong những đường lối của Thiền tông, nếu sử dụng nó triệt để với sự hỗ trợ của sự thanh tịnh từ những người chung quanh và bầu không khí thiền đường, chúng ta có thể phá thấu qua những ṿng vây của sắc thọ tưởng hành thức để trực tiếp đạt đến, nh́n thấy tánh Không: “Soi thấy năm uẩn đều Không, vượt tất cả khổ ách” (Bát nhă tâm kinh).

Khi phá thấu qua chúng, vượt xuyên qua chúng, mới thấy rằng cái quan ấy không hề có cửa. Không có cửa nghĩa là khắp thế giới chỗ nào cũng là cửa. Mới biết quan và cửa chỉ là hư vọng, ảo tưởng của năm uẩn mà thôi.

Tánh Không không phải là hư vô, không có ǵ cả, mà là không có sanh tử phiền năo khổ đau. Đúng hơn là không có vọng tưởng tạo ra sanh tử phiền năo khổ đau. Khi không có vọng tưởng th́ thực tại tánh Không hiện tiền (hiện hữu ngay trước mặt). Và ngược lại, khi thực tại tánh Không hiện tiền th́ không có vọng tưởng sanh tử.

Để có thể sống được, có thể t́m thấy ư nghĩa đời sống, chúng ta phải vượt thoát những che chướng của các uẩn để trực tiếp thấy được, thể nghiệm được, ngộ được (chứ không phải lư luận, khởi tưởng) thực tại tối sơ và tối hậu là tánh Không. Tánh Không này chấm dứt mọi vấn nạn của sanh tử, chấm dứt mọi t́m kiếm bằng máu và nước mắt nhưng vô ích của một đời người. Chẳng phải vị Nhập Lưu là hết nghi? Chẳng phải các Thiền sư khi ngộ đều nói rằng từ đây mới hết nghi lời dạy của chư Tổ, chư Phật?

Chúng ta hăy đọc một trang Thiền để thấy rằng thực tại tánh Không là cái cụ thể, cái thực tế như thế nào:

“Tứ tổ Đại Tín, năm 14 tuổi đến lễ Tam tổ Tăng Xán, hỏi rằng,

‘Xin Ḥa thượng từ bi, ban cho pháp môn giải thoát’ 

Tổ Tăng Xán nói: 'Ai trói buộc ông?'

 Đáp: 'Không ai trói buộc.'

Tam Tổ nói : 'Vậy cầu giải thoát làm ǵ?'

 Ngay dưới lời nói, Đạo Tín đại ngộ. "

 

Thiền sư Tư Không Sơn Bổn Tịnh làm bài kệ:

“Thấy, nghe, hay, biết, không chướng ngại

Sắc, hương, vị, xúc, thường Tam muội

Như  chim trong không, chỉ thế bay

Không nắm không bỏ không thương ghét

Nếu rơ ứng xứ chẳng phải tâm

Mới  được gọi là Quán tự tại”.

( Lăng Nghiêm Tông Thông, trang 552, HT. Nhẫn Tế dịch, chùa Tây Tạng in, 1997)

 

_______________________________________________

Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo. Số 90. 2009. Saigon. VN.

 

 

trang đỗ tư nghĩa

chân trần

art2all.net