|
Lev Tolstoy
Bản dịch: Đỗ Tư Nghĩa
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16
~~ooOoo~~
CHƯƠNG IX
Tôi rơi vào một mâu thuẫn mà từ đó chỉ có 2 lối ra: hoặc là cái mà tôi nói đến như là lư tính th́ không hợp lư [1] như tôi đă nghĩ, hoặc là cái mà tôi xem là phi lư [2] th́ không phi lư như tôi đă nghĩ. Và tôi bắt đầu xem xét cái tiến tŕnh của những luận cứ mà đă bắt nguồn từ kiến thức thuần lư của tôi. Khi tôi nh́n kỹ hơn vào tiến tŕnh lư luận này, tôi thấy nó hoàn toàn đúng. Cái kết luận rằng đời không là ǵ cả, là một kết luận không thể tránh được; nhưng tôi phát hiện ra một sai lầm. Cái sai lầm đó là, tư duy của tôi không tương ứng với câu hỏi mà tôi đă nêu ra. Câu hỏi là: “Tại sao tôi nên sống ?” Hay: “Có chăng một cái ǵ đó thật [3] và không thể hủy diệt mà sẽ phát sinh từ cuộc sống hư ảo [4] và có thể bị hủy diệt [5] của tôi?” Hay: “Sự tồn tại hữu hạn của tôi trong cái vũ trụ vô hạn này có thể có loại ư nghĩa nào ?” Để trả lời câu hỏi này, tôi đă nghiên cứu [6] cuộc sống. Thật hiển nhiên là sự giải đáp cho tất cả mọi câu hỏi khả hữu [7] về cuộc sống đă không thể thỏa măn tôi, bởi v́ câu hỏi của tôi, dù thoạt nh́n có vẻ đơn giản tới đâu chăng nữa, nó đưa tới một yêu sách cần giải thích cái hữu hạn bằng phương tiện của cái vô hạn, và cái vô hạn bằng phương tiện của cái hữu hạn. Tôi hỏi, “ Ư nghĩa của đời tôi là ǵ, bên kia [8] không gian, thời gian và mối quan hệ nhân quả [9] ?” Và tôi trả lời, “ Ư nghĩa của đời tôi là ǵ, bên trong [10] không gian, thời gian và mối quan hệ nhân quả?” Sau một thời gian dài trải qua trong lao nhọc của suy tưởng, kết quả tiếp theo là, tôi chỉ có thể trả lời rằng, đời tôi không có ư nghĩa ǵ cả. Qua suốt quá tŕnh lư luận của tôi, tôi thường trực so sánh cái hữu hạn với cái hữu hạn và cái vô hạn với cái vô hạn; quả thật, tôi không thể làm khác được. Tôi kết luận, và phải kết luận rằng lực [11] là lực, vật chất là vật chất, ư chí là ư chí, vô hạn tính [12] là vô hạn tính, hư vô [13] là hư vô, và tôi không thể vượt qua cái kết luận đó. Nó là một cái ǵ đó tương tự như cái xảy ra với toán học khi chúng ta đang cố t́m cách giải một phương tŕnh và tất cả những ǵ mà chúng ta có thể có là một sự đồng nhất [14]. Phương pháp để giải cái phương tŕnh th́ đúng, nhưng tất cả những ǵ mà chúng ta có thể đạt tới cho một câu trả lời là : a = a, hay x = x, hay 0 = 0. Cái tương tự th́ đang xảy ra với quá tŕnh lư luận của tôi về vấn đề liên quan tới ư nghĩa của đời tôi. Những câu trả lời mà tất cả những khoa học cung cấp cho câu hỏi này chỉ là những phương tŕnh đồng nhất [15]. Và trong thực tế, một kiến thức thuần lư nghiêm xác bắt đầu, trong thể cách của Descartes[16], với một sự nghi ngờ tuyệt đối về mọi sự. Kiến thức thuần lư nghiêm xác gạt sang một bên bất cứ kiến thức nào đặt nền trên đức tin, và xây dựng lại từ đầu theo những qui luật của lư tính và thí nghiệm; nó không thể cung cấp câu trả lời nào cho câu hỏi về cuộc sống khác hơn là câu trả lời mà tôi đă thu nhận được – một câu trả lời bất định [17]. Thoạt tiên, chỉ thoạt tiên thôi, tôi thấy rằng, dường như kiến thức thuần lư cung cấp một câu trả lời rơ ràng, dứt khóat, câu trả lời của Schopenhauer: đời không có ư nghĩa nào, nó là một điều xấu. Nhưng khi tôi đi sâu hơn nữa vào trong vấn đề này, tôi nhận thức rằng, đây không phải là một câu trả lời rơ ràng dứt khoát, và rằng, chỉ có những cảm xúc của tôi mới cho rằng nó là như vậy. Diễn tả một cách chặt chẽ, như nó được diễn tả bởi những Brahmins[18], bởi Solomon, và bởi Schopenhauer, đó chỉ là một câu trả lời mơ hồ hay chỉ là một đồng nhất thức : 0 = 0, cuộc sống mà tự tŕnh diện với tôi như là hư vô, là hư vô. Như vậy, kiến thức triết học không phủ nhận cái ǵ cả, mà chỉ đáp rằng, nó không thể có câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi này; và rằng, theo quan điểm của nó, th́ bất cứ giải đáp nào cũng vẫn là bất định. Sau khi đă hiểu điều này, tôi nhận thức rằng, tôi không thể truy tầm một câu trả lời cho câu hỏi của tôi trong kiến thức thuần lư. Câu trả lời được cung cấp trong kiến thức thuần lư chỉ cho thấy rằng, một câu trả lời chỉ có thể được đạt tới chỉ bằng cách công thức hóa câu hỏi một cách khác – có nghĩa là, chỉ khi nào mối quan hệ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn được đưa vào trong câu hỏi. Tôi cũng nhận thức rằng, cho dẫu những câu trả lời được cung cấp bởi đức tin có phi lư và thiếu hấp dẫn đến mấy đi chăng nữa, th́ chúng có cái thuận lợi là đă mang đến cho mọi câu trả lời một mối quan hệ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, mà không có nó th́ không thể có câu trả lời nào cả. Dù tôi có thể đặt câu hỏi “Tôi phải sống như thế nào?” bằng cách nào đi nữa, th́ câu trả lời vẫn là: “Theo qui luật của Thượng đế.” Hỏi: “Có chăng một cái ǵ chân thực [19] mà sẽ xảy đến cho đời tôi ?” Trả lời: “Sự thống khổ vĩnh cửu, hay hạnh phúc vĩnh cửu.” Hỏi: “ Có ư nghĩa nào mà không bị hủy diệt bởi cái chết?” Trả lời: “Sự hợp nhất với vị Thượng đế vô hạn, thiên đường.” Như thế, thêm vào cái kiến thức thuần lư, mà trước đây đối với tôi là thứ kiến thức duy nhất, tôi tất yếu bị dẫn đến chỗ phải thừa nhận một loại kiến thức khác, một loại phi thuần lư, mà tất cả nhân loại đều có: đức tin, là cái cung cấp cho chúng ta khả tính của sự sống. Đối với riêng tôi, th́ đức tin vẫn phi thuần lư như bao giờ, nhưng mà tôi không thể không nhận thức rằng, chỉ có một ḿnh nó mới cung cấp cho nhân loại một câu trả lời cho câu hỏi về cuộc sống, và như thế, khiến cho người ta có thể sống được. Kiến thức thuần lư đă dẫn tôi đến cái kết luận rằng đời là vô nghĩa; đời tôi đi tới chỗ bế tắc, và tôi đă muốn loại bỏ chính ḿnh. Khi tôi nh́n quanh, vào những con người, tôi thấy rằng họ đang sống và tôi xác tín rằng họ biết cái ư nghĩa của cuộc đời. Rồi tôi quay lại nh́n vào chính ḿnh; chừng nào tôi hiểu ư nghĩa của cuộc sống, tôi sống. Như với những người khác, với tôi cũng vậy: đức tin cung cấp cho tôi ư nghĩa của cuộc sống và khả tính của sự sống. Khi xem xét thêm về những con người tại những nước khác, về những kẻ đồng thời của tôi, và về những người mà đă qua đời, tôi thấy cùng một điều tương tự. Bất cứ nơi nào có cuộc sống, (nơi đó) có đức tin; từ khởi thủy của nhân loại, đức tin đă khiến cho chúng ta sống được, và những đặc tính chủ yếu của đức tin th́ có mặt khắp mọi nơi và luôn giống nhau. Bất luận câu trả lời nào mà một đức tin nhất định có thể cung cấp cho chúng ta, th́ mọi câu trả lời của đức tin đều mang đến ư nghĩa vô hạn cho cái sự tồn tại hữu hạn của con người, cái ư nghĩa không bị hủy diệt bởi sự đau khổ, sự thiếu hụt [20] và cái chết. Bởi thế, ư nghĩa của cuộc sống và cái khả tính của sự sống chỉ có thể được t́m thấy trong đức tin thôi. Tôi nhận thức rằng, cái ư nghĩa cốt tủy của đức tin không chỉ nằm trong “ sự hiển thị của những điều không thấy được”, [21] và vân vân, hay trong sự mặc khải (đây chỉ là một mô tả về một trong số những dấu hiệu của đức tin); nó cũng không phải chỉ đơn giản là mối quan hệ giữa con người và Thượng đế (đức tin phải trước tiên được qui định và sau đó Thượng đế, chứ không phải ngược lại); đức tin cũng không phải là sự đồng ư với cái mà người ta được nói cho biết – cho dẫu đức tin rất thường được người ta hiểu như vậy. Đức tin là sự nhận biết về ư nghĩa của nhân sinh, nhờ đó mà con người tiếp tục sống, chứ không tự hủy diệt chính ḿnh. Đức tin là lực của cuộc sống. Nếu một người sống, th́ y phải có đức tin vào một cái ǵ đó. Nếu y không tin rằng y phải sống cho một cái ǵ đó, th́ y sẽ không sống. Nếu y không thấy và không hiểu bản chất hư ảo của cái hữu hạn, th́ y tin vào cái hữu hạn; nếu y hiểu bản chất hư ảo của cái hữu hạn, th́ y phải tin vào cái vô hạn. Không có đức tin, th́ không thể nào sống được. [22] Tôi nh́n lại cái tiến tŕnh của cuộc sống nội tâm của tôi và tôi kinh hăi. Bây giờ tôi thấy rơ rằng, để cho một người có thể sống, y phải hoặc là không thấy cái vô hạn hay y phải có một giải thích về ư nghĩa của cuộc sống mà nhờ đó cái hữu hạn và cái vô hạn sẽ được làm cho cân bằng [23] với nhau. Tôi đă có một giải thích như thế, nhưng tôi không cần nó bao lâu mà tôi c̣n vào cái hữu hạn, và tôi bắt đầu dùng lư tính để trắc nghiệm nó. Và trong ánh sáng của lư tính, mọi mảnh nhỏ của lời giải thích trước kia của tôi tan thành tro bụi. Nhưng rồi đến một lúc mà tôi không c̣n tin vào cái hữu hạn được nữa.Và rồi, dùng những nền tảng của lư tính, tôi bắt đầu dựa vào những ǵ mà tôi biết để ráp những mảnh ấy lại thành một lời giải thích mà sẽ ban cho cuộc sống ư nghĩa; nhưng rồi cũng chẳng đi tới đâu. Cùng với những trí óc kiệt xuất nhất mà nhân loại đă từng sản sinh ra, tôi đạt tới câu trả lời 0 = 0, và tôi hoàn toàn kinh ngạc trước một giải đáp như thế; kinh ngạc khi phát hiện ra rằng không có câu trả lời nào khác. Và tôi đă làm ǵ khi tôi truy tầm một câu trả lời trong những khoa học thực nghiệm? Tôi đă muốn khám phá ra tại sao tôi sống, và để làm việc đó, tôi đă nghiên cứu mọi thứ nằm bên ngoài chính tôi. Chắc chắn là tôi đă học được nhiều, nhưng về những cái mà tôi cần (biết), th́ tôi lại không học được một cái ǵ cả. Và tôi đă làm ǵ khi tôi truy tầm một câu trả lời trong lănh vực triết học? Tôi đă nghiên cứu những tư tưởng của những người mà tự thấy chính họ rơi vào cùng một t́nh huống tương tự như t́nh huống của tôi; và họ không có câu trả lời nào cho câu hỏi tại sao tôi sống. Tại đây tôi đă không thể học bất cứ cái ǵ mà tôi đă không biết rồi – cụ thể, điều tôi học được, là: không thể biết một cái ǵ cả. Tôi là cái ǵ? Một phần của cái vô hạn. Quả thật, toàn bộ vấn đề nằm trong những lời này. Có thể nào mà con người chỉ bây giờ mới nêu ra cái câu hỏi này ? Và có thể nào mà không có ai trước tôi đă đặt câu hỏi này cho chính y, một câu hỏi quá đơn giản, đến nỗi nó nằm trên chót lưỡi của mọi đứa trẻ thông minh? Không, câu hỏi này đă từng được đặt ra từ khi có những con người để nêu nó ra; từ khởi thủy, con người đă hiểu rằng, giải quyết vấn đề bằng cách làm cân bằng [24] cái hữu hạn với cái hữu hạn th́ chỉ là thiếu sót như việc làm cân bằng cái vô hạn với cái vô hạn; từ khởi thủy, con người đă t́m cách phát biểu rơ ràng khúc chiết về cái mối quan hệ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. [25] Chúng ta đặt dưới sự điều nghiên logic tất cả những khái niệm vốn đồng hóa cái hữu hạn với cái vô hạn và thông qua đó, chúng ta thu nhận cái ư nghĩa của cuộc sống và những ư tưởng về Thượng đế, tự do, và điều thiện. Và những khái niệm này không đứng vững trước những phê phán nẩy sinh từ lư tính. Nếu không là khủng khiếp, th́ sẽ là đáng nực cười khi nh́n thấy cái sự kiêu hănh và thỏa măn của chúng ta: giống như những đứa trẻ, chúng ta tháo rời cái đồng hồ ra, loại bỏ cái ḷ xo và biến nó thành một đồ chơi, chỉ để mà ngạc nhiên khi thấy nó ngừng chạy. Việc giải quyết sự mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, một câu trả lời cho câu hỏi về cuộc sống mà khiến cho người ta có thể sống – một câu trả lời như vậy th́ cần thiết và thân thiết với chúng ta. Và một giải đáp độc nhất mà chúng ta t́m thấy khắp nơi, vào mọi thời điểm, và trong tất cả mọi dân tộc, là cái giải đáp đă được lưu truyền từ một thời đại xa xưa, mà trong đó toàn bộ sự sống con người th́ đă ch́m khuất đối với chúng ta. Nó là một giải đáp quá khó khăn, đến mức chúng ta không gặp phải một cái ǵ giống như nó, một giải đáp mà chúng ta xoá bỏ một cách không suy nghĩ, bằng cách một lần nữa nêu ra câu hỏi này – cái câu hỏi vẫn hằng xuất hiện với mọi người – cái câu hỏi, mà câu trả lời cho nó, chúng ta không có. Những khái niệm về một vị Thượng đế vô hạn, cái tốt và xấu về đạo đức, sự bất tử của linh hồn, và một mối quan hệ giữa Thượng đế và những công việc của con người – đó là những khái niệm đă được phát triển dần trong quá tŕnh lịch sử qua cuộc sống của nhân loại, mà đă bị ch́m khuất khỏi chúng ta. Chúng là những khái niệm mà nếu thiếu đi, th́ sẽ không có cuộc sống, không có chúng th́ chính tôi không thể sống; và thế nhưng, gạt sang một bên tất cả cái lao động tinh thần của nhân loại, tôi đă muốn làm lại mọi thứ từ đầu, một ḿnh, và theo cách riêng của tôi . Vào thời đó, tôi đă không nghĩ như vậy, nhưng ngay cả lúc bấy giờ, những hạt giống của những tư tưởng này đă được gieo trồng vào bên trong tôi. Tôi nhận thức trước hết rằng, mặc dù sự khôn ngoan minh triết của chúng tôi,[26] cái lập trường của Schopenhauer, Solomon, và của chính tôi, là phi lư : Chúng tôi xem đời là xấu ác, và thế nhưng chúng tôi vẫn sống. Điều này rơ ràng thật phi lư, bởi v́ nếu cuộc sống là vô nghĩa, và nếu tôi quá yêu lư tính, th́ tôi phải hủy diệt cuộc sống để không c̣n có ai để phủ nhận nó. Thứ hai, tôi nhận thức rằng, tất cả những luận cứ của chúng tôi cứ măi đi ṿng quanh, trong một cái ṿng lẩn quẩn, giống như một cái răng cưa không khớp vào trong cái bánh xe. Cho dẫu cái lư luận của chúng tôi có tinh tế đến mấy đi chăng nữa, chúng tôi không thể t́m ra một câu trả lời; nó luôn đưa tới đáp số : 0 = 0, và cái phương pháp của chúng tôi, do vậy, th́ hẳn là nhầm lẫn. Sau cùng, tôi bắt đầu nhận thức rằng, cái minh triết sâu xa nhất của con người th́ có gốc rễ trong những câu trả lời được cung cấp bởi đức tin; và rằng, tôi không có quyền phủ nhận những câu trả lời này trên những cơ sở của lư tính; trên hết, tôi nhận thức rằng, chỉ có những câu trả lời này mới có thể tạo thành một lời đáp, một câu trả lời cho câu hỏi về cuộc sống. [1] Rational. [2] Irrational. [3] Real. [4] Illusory. [5] Perishable. [6] Study. [7] Possible questions. [8] Beyond. [9] Causation. [10] Within. [11] Force. [12] Infinity. [13] Nothing. [14] Identity. [15] Identities. [16] Réné Decartes (1596 – 1650) : thường được nói tới như là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông bắt đầu một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Những Suy niệm siêu h́nh, từ một lập trường hoài nghi tuyệt đối, một nguyên tắc mà ông cũng thảo luận trong Phương pháp luận ( Discourse on Method). [17] Indefinite. [18] Brahmins: người Bà La Môn, là những người thuộc giai cấp cao nhất của Ấn Độ; theo truyền thống, họ thuộc về giai cấp tăng sĩ. [19] Real. [20] Deprivation. [21] The manifestations of things unseen. [22] Câu này đúng. Nhưng “tin” vào cái ǵ, đó mới là điều quan trọng. Đức tin có phải là “đặc quyền” của tôn giáo? Chúng ta cần biết, những “ nhà nhân bản chủ nghĩa [ humanists], họ không tin vào tôn giáo, vào Thượng đế, nhưng họ có “ đức tin” vào con người. ( ĐTN). [23] To be equated. [24] Equate. [25] Cái hữu hạn có quan hệ như thế nào với cái vô hạn? Đây là một câu hỏi cốt tủy, nhưng đă có mấy ai trả lời được? ( ĐTN). [26] Our wisdom: “của chúng tôi” - ở đây, Tolstoy chỉ muốn nói đến Schopenhauer, Solomon, chính ông, và những người cùng quan điểm với ông, chứ không phải nói chung chung. (ĐTN).
|