Trần Ngọc Bảo

 

AI ĐẶT HÀNG CẢ CHUYẾN XE PHÂN THẾ NÀY

Thiền sư Ajahn Brahm

Trần Ngọc Bảo dịch thuật

 

 

KHỔ ĐAU VÀ BUÔNG BỎ

 

Suy nghĩ về việc giặt giũ

Thời nay thiên hạ suy nghĩ quá nhiều. Nếu họ bớt suy nghĩ đi một chút th́ cuộc đời họ sẽ thoải mái hơn nhiều.

Trong tu viện của chúng tôi ở Thái Lan hằng tuần các sư phải bỏ ngủ một đêm để ngồi thiền trong thiền đường. Đó là một phần trong truyền thống của các thiền sư ẩn tu trong rừng. Nhưng như thế cũng không phải là khổ hạnh ǵ cho lắm v́ sáng hôm sau chúng tôi được ngủ bù.

Một hôm, sau thời ngồi thiền suốt đêm, chúng tôi sắp sửa đi về thất để chợp mắt một lát th́ vị viện chủ ra hiệu cho một sư chú người Úc đến. Trước sự bàng hoàng của sư chú thầy viện chủ giao cho chú một đống áo quần và bảo phải giặt ngay. Theo truyền thống chúng tôi có nghĩa vụ săn sóc thầy viện chủ và giúp việc lặt vặt cho thầy.

Đống áo quần thật là to. Ấy thế mà việc giặt giũ phải theo đúng truyền thống của các tu sĩ trong rừng. Đó là phải kéo nước từ giếng lên, nhóm lửa và nấu nước. Rồi dùng rựa chẻ một thanh gỗ mít thành những mảnh nhỏ. Những mảnh này được bỏ vào nước sôi để nhựa trong gỗ chảy ra làm chất giặt tẩy. Rồi mỗi chiếc áo được đặt vào trong một máng bằng gỗ dài, xối nước sôi lên và dùng tay đập mạnh vào áo cho đến khi sạch sẽ. Vị tu sĩ phải phơi áo ngoài nắng và thỉnh thoảng phải đến trở qua trở lại để cho áo khỏi phai màu. Giặt chỉ một chiếc áo cũng mất khá nhiều th́ giờ và công sức. Giặt một đống áo quần to thế kia ắt là phải mất nhiều giờ. Vị sư chú gốc Brisbane này đă quá mệt v́ suốt đêm không ngủ rồi. Tôi cảm thấy thương cho chú quá.

Tôi đi đến nhà giặt áo định bụng giúp sư chú một tay. Khi đến nơi tôi nghe sư chú chửi thề theo truyền thống Brisbane hơn là hành xử theo truyền thống đạo Phật. Chú ấy đang càu nhàu là sao mà chú ấy bị đối xử một cách tàn nhẫn và thiếu công bằng như thế. “Chẳng lẽ viện chủ chờ đến sáng mai không được sao? Tại sao sư không thấy là tôi suốt đêm không ngủ? Tôi đi tu để làm những việc như thế này à?” Dĩ nhiên đấy chưa phải là chính xác những điều sư chú đă nói mà chỉ là những điều có thể viết ra ở đây.

Khi cơ sự xảy ra như thế, tôi đă tu ở đây năm sáu năm rồi. Tôi hiểu những ǵ sư chú đang trải qua và biết cách tháo gỡ vấn đề. Tôi bảo sư chú, “Suy nghĩ về việc làm th́ mệt hơn là làm việc đấy chú ạ.”

Sư chú ta không nói ǵ mà chỉ trố mắt nh́n tôi. Sau một vài giây im lặng, chú quay trở về với công việc, c̣n tôi quay lưng đi về thất ngủ. Chiều hôm ấy sư chú đến gặp tôi và cám ơn đă giúp chú giặt giũ. Sư chú khám phá ra rằng là đúng như vậy, suy nghĩ mới là phần việc mệt nhọc nhất. Khi sư chú ngưng ta thán và tập trung vào việc giặt giũ th́ chẳng có vấn đề ǵ cả.

Phần mệt nhọc nhất trong bất cứ việc ǵ ở đời là suy nghĩ về nó.

 

 

Một bài học để đời

Tôi đă học được bài học vô giá rằng “Phần mệt nhọc nhất trong bất cứ việc ǵ trong đời là suy nghĩ về nó” trong mấy năm đầu thực tập ở vùng đông bắc Thái Lan.
Lúc ấy Ajahn Chah đang xây ngôi chánh điện để hành lễ và các sư trong tu viện đều phải xắn tay áo ra làm việc. Ajahn Chah thường thử chúng tôi bằng cách nói rằng trả công cho các sư chú làm việc suốt ngày bằng một hai chai pepsi thôi th́ rẻ hơn là thuê nhân công bên ngoài vào làm. Tôi định bụng phải tổ chức một công đoàn để bảo vệ các sư chú.

Khi xây ngôi điện xong th́ c̣n dư một đống đất to. V́ thế Ajahn Chah bảo các sư dọn đống đất ra đàng sau. Thế là suốt ba ngày hôm sau, từ 10 giờ sáng đến lúc trời tối mịt tất cả chúng tôi phải xúc đất, đẩy xe cút kít lễ mễ để dọn đống đất ra sau, đến chỗ Ajahn Chah chỉ. Tôi mừng khấp khởi khi thấy công việc hoàn tất.

Ngày hôm sau Ajahn Chah có việc đi thăm một tu viện khác . Sau khi ngài đi rồi th́ vị phó viện chủ tập hợp chúng tôi lại và nói đống đất đó đă đổ không đúng chỗ và phải dời đi chỗ khác. Tôi nổi cáu, nhưng rồi cố nhịn và làm việc vất vả trong ba ngày ṛng ră nữa dưới cái nắng thiêu đốt của vùng nhiệt đới.

Sau khi chúng tôi di chuyển xong đống đất th́ Ajahn Chah trở về. Ngài họp chúng lại và nói, “Tại sao các thầy lại đổ đất sang đây? Tôi đă bảo là ở nơi kia cơ mà. Hăy trả đống đất về chỗ cũ đi!”

Tôi giận điên tiết lên. Tôi nổi sùng đến tím cả người. “ Quí vị sư lớn không hề bàn bạc ǵ với nhau trước hay sao? Đạo Phật là một tôn giáo có tổ chức, ấy thế mà tu viện này làm việc chẳng có tổ chức ǵ cả, chỉ có mỗi một việc là đổ đống đất đi cũng làm không ra hồn nữa! Quí sư không thể hành xử như thế này với tôi được.”

Ư nghĩ về ba ngày làm việc vất vả cứ lởn vởn trong đầu óc tôi. Tôi chửi thề bằng tiếng Anh để các vị sư người Thái không nghe khi đẩy chiếc xe cút kít nặng trĩu. Việc này thật quá sức chịu đựng. Khi nào mới chấm dứt những chuyện như thế này đây.

Tôi bắt đầu để ư là tôi càng giận dữ th́ chiếc xe cút kít càng nặng. Một sư khi thấy tôi càu nhàu, đă đi đến gần và nói, “Điều rắc rối với chú chính là chú suy nghĩ nhiều quá!”

Tất nhiên là sư ấy đúng. Ngay khi tôi ngưng càu nhàu th́ cảm thấy chiếc xe cút kít nhẹ hơn. Tôi đă học được bài học. Suy nghĩ về việc chuyên chở đống đất mệt hơn là xúc đất, đẩy xe nhiều.

Cho tới ngày nay tôi vẫn nghi là Ajahn Chah đă bàn với vị phó viện chủ về mọi việc ngay từ đầu.

 



Ḿnh thật là khổ, c̣n thiên hạ sao mà sướng thế

Cuộc sống của một sư chú ở Thái Lan thật không công bằng chút nào. Các thầy lớn th́ được ăn thức ăn ngon nhất, ngồi trên những chiếc bồ đoàn mềm mại và chẳng bao giờ phải đẩy xe cút kít. Trong khi đó th́ bữa ăn duy nhất trong ngày của tôi th́ quá dở; tôi lại phải ngồi làm lễ suốt mấy tiếng đồng hồ dài đăng đẳng trên nền xi măng cứng (mà lại gồ ghề nữa chứ v́ dân làng này tự góp công xây chùa); và đôi khi tôi phải chấp tác rất là vất vả. Tôi thật là khổ, c̣n các thầy th́ thật là sướng.

Suốt ngày tôi cứ măi âm thầm ta thán. Các thầy lớn có lẽ đă ngộ đạo rồi cho nên dọn cho họ thức ăn ngon thật là uổng phí, tôi mới là người cần ăn ngon chứ. Các sư th́ ngồi xếp bằng trên nền nhà cứng nhiều năm đă quen rồi, thế th́ tôi mới là người cần một cái gối ngồi to và mềm mới đúng. Đó là không kể các thầy đều béo cả nhờ ăn ngon cho nên đă có một “tấm đệm tự nhiên” dưới mông rồi. Các thầy lớn cứ sai các sư chú làm việc này làm việc kia mà chẳng bao giờ chịu lao động cả, vậy th́ làm sao họ biết việc đẩy xe cút kít là nóng bức, nặng nhọc như thế nào? Công việc là do các thầy ấy nghĩ ra vậy th́ họ phải làm đi chứ! Tôi sao mà khổ, c̣n các thầy sao mà sướng quá.

Đến khi tôi trở thành một thầy lớn, tôi được ăn thức ăn ngon, ngồi trên một chiếc bồ đoàn êm ái và ít làm công việc chân tay. Tuy nhiên tôi vẫn thấy ḿnh ganh tỵ với các sư chú. Họ không phải đi giảng pháp, không phải ngồi suốt ngày để nghe các đạo hữu than thở chuyện riêng tư và không phải lo lắng ǵ về công việc điều hành. Họ chẳng gánh vác trách nhiệm ǵ và có nhiều th́ giờ để làm việc riêng. Tôi nghe trong ḷng tiếng tôi than văn, “Các sư chú mới sướng làm sao, c̣n ḿnh thật là khổ!”

Một thời gian sau tôi mới nhận thức được những ǵ đang xảy ra. Các sư chú có “nỗi khổ của sư chú.” Các thầy lớn có “nỗi khổ của các thầy.” Khi trở thành thầy lớn, tôi chỉ đổi từ nỗi khổ này để mang nỗi khổ khác mà thôi.

Tương tự như thế, những người c̣n độc thân ganh tỵ với người đă lập gia đ́nh, và người có gia đ́nh th́ ganh tỵ với người độc thân. Có lẽ chúng ta cũng nên hiểu rằng khi lập gia đ́nh chúng ta chỉ đổi “nỗi khổ của người độc thân” để mang lấy “nỗi khổ của người có gia đ́nh” mà thôi. Rồi khi ly dị chúng ta lại đổi “nỗi khổ của người có gia đ́nh” để lấy “nỗi khổ của người độc thân.” Ḿnh sao mà khổ c̣n thiên hạ sao mà sướng thế.

Khi chúng ta nghèo, chúng ta ganh tỵ với người giàu. Tuy nhiên, nhiều người giàu th́ lại ganh tỵ t́nh bạn chân thành và sự thảnh thơi ít trách nhiệm của những người nghèo. Trở thành giàu có cũng chỉ là đổi “nỗi khổ của người nghèo” để mang lấy “nỗi khổ của người giàu” mà thôi. Về hưu và giảm thu nhập cũng là đổi “nỗi khổ của người giàu” để lấy “nỗi khổ của người nghèo.” Và mọi chuyện nó là như thế. Thật khổ cho ḿnh c̣n thiên hạ thật là sướng.

Cứ nghĩ rằng ḿnh sẽ được sung sướng khi trở thành một cái ǵ đó cuối cùng chỉ là ảo tưởng. Trở thành cái ǵ đó chẳng qua là đem đổi nỗi khổ này đế lấy nỗi khổ khác mà thôi. Thế th́ khi các bạn bằng ḷng với chính ḿnh, với địa vị của sư chú hay thầy lớn, là người độc thân hay có gia đ́nh, giàu hay nghèo, th́ các bạn không c̣n khổ.

Ḿnh thật là sướng, c̣n thiên hạ sao mà khổ thế!
 

 

 

Lời khuyên khi bạn bị ốm

Khi tôi xuất gia được hai năm tại vùng đông bắc Thái Lan, tôi mắc bệnh ban nhiệt bụi hoang. Tôi bị sốt cao cho nên được đưa vào pḥng bệnh dành cho tu sĩ tại bệnh viện khu vực ở Ubon. Vào những ngày ấy, giữa thập niên 1970, Ubon là một vùng xa xôi hẻo lánh của một miền quê rất nghèo nàn. Cảm thấy rất yếu và đau, với một cánh tay đang truyền dịch, tôi để ư thấy người y tá nam rời chỗ trực của ḿnh lúc 6 giờ chiều. Nửa giờ sau người y tá nữ thay ca vẫn chưa đến, tôi hỏi tu sĩ nằm giường kế bên là có nên báo cho người phụ trách ở đây biết là y tá trực đêm vẫn chưa tới. Thầy ấy nói rằng trong pḥng tu sĩ không bao giờ có y tá trực đêm cả. Nếu bạn trở bệnh nặng hơn lúc đêm hôm, th́ đó chỉ là nghiệp xấu thôi. Đau ốm như thế đă là tệ hại lắm rồi, giờ đây tôi lại thêm nỗi sợ hăi nữa.

Trong bốn tuần kế đó, cứ mỗi sáng và chiều, một y tá to như trâu đến chích thuốc kháng sinh vào mông cho tôi. Đây là một bệnh viện công nghèo nàn trong một vùng chậm phát triển, thuộc thế giới thứ ba, cho nên kim tiêm được tái chế nhiều lần hơn là ở Bangkok. Người y tá có cánh tay to lớn phải dùng một sức mạnh đáng kể mới đâm kim xuyên qua thịt được. Người ta trông đợi các tu sĩ cứng cơi – nhưng mông tôi th́ không được cứng cỏi cho lắm. Nó trở nên nhức nhối. Từ đó tôi ghét người y tá.

Tôi rất đau, và yếu, và cảm thấy chưa bao giờ khổ sở như thế trong đời. Rồi một buổi chiều, Ajahn Chah đi vào pḥng bệnh tu sĩ để thăm tôi. Để thăm tôi. Tôi cảm thấy rất sung sướng và cảm kích. Tôi cảm thấy đỡ hơn và dễ chịu hẳn – cho đến khi Ajahn Chah mở lời. Sau này tôi mới biết khi nào đi thăm tu sĩ bị bệnh nằm viện ngài đều nói như thế.

Ngài nói, “Thầy sẽ lành hoặc là sẽ chết.”

Rồi ngài quay lưng bước đi.

Trạng thái phấn khích không c̣n. Niềm vui được ngài viếng thăm tan biến. Điều tệ nhất, là bạn không thể bắt lỗi là Ajahn Chah đă nói ǵ sai. Những ǵ ngài nói hoàn toàn đúng sự thật. Tôi sẽ lành hay tôi sẽ chết. Hoặc cách này, hoặc cách kia, sự khó chịu của bệnh tật không thể kéo dài măi. Thật đáng ngạc nhiên là điều ấy đem lại sự an ủi rất lớn. Và điều xảy ra là tôi lành bệnh thay v́ chết.

 

 

Có ǵ không ổn khi bị đau ốm?

Trong những cuộc nói chuyện với đại chúng, tôi thường yêu cầu thính chúng đưa tay lên nếu ḿnh đă từng đau ốm. Hầu như tất cả mọi người đều đưa tay. (Những người không đưa tay th́ hoặc là đang ngủ mê man hoặc đang mơ tưởng một cảnh tượng yêu đương nào đó!). Tôi suy ra rằng, điều này cho thấy đau ốm là chuyện b́nh thường. Quả vậy, thật là bất thường nếu như thỉnh thoảng bạn không hề bị đau ốm. Vậy th́ tại sao, tôi hỏi, bạn thường nói như thế này khi gặp bác sĩ: “Thưa bác sĩ, tôi có ǵ không ổn?” Chỉ khi nào thỉnh thoảng bạn chẳng ốm đau ǵ mới là không ổn chứ. Thế nên, một người có đầu óc suy nghĩ hợp lư th́ sẽ nói, “Tôi lại ốm, như vậy là ổn phải không bác sĩ?”

Khi bạn cho rằng đau ốm là cái ǵ đó không ổn, th́ bạn đă tạo thêm căng thẳng không cần thiệt, thậm chí là tội lỗi, ngoài cảm giác khó chịu.

Trong cuốn tiểu thuyết Erehwon vào thế kỷ 19, Samuel Butler, đă h́nh dung ra một xă hội, trong đó, đau ốm được xem là phạm tội và người ốm sẽ bị phạt tù giam. Trong một đoạn văn đáng nhớ, bị cáo, khi ra trước vành móng ngựa mà c̣n sổ mũi, hắt hơi, đă bị quan ṭa quở trách như là một người phạm tội hàng loạt. Đấy không phải là lần đầu tiên, anh ta xuất hiện trước mặt thẩm phán với bệnh cảm lạnh. Hơn nữa, đấy là lỗi của anh ta v́ hay ăn quà vặt, không vận động một cách phù hợp và sống một lối sống có nhiều căng thẳng. Anh ta bị kết án tù nhiều năm.

Có bao nhiêu người trong chúng ta cảm thấy có tội khi đau ốm?

Một tu sĩ đồng viện của tôi bị mắc một chứng bệnh ǵ đó không rơ trong nhiều năm. Thầy ấy phải nằm liệt giường ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác. Thầy yếu đến nỗi không bước ra khỏi pḥng. Tu viện đă bỏ ra bao nhiêu chi phí và công sức để chạy chữa, thử đủ mọi cách, từ y học chính thống cho đến phương thức dân gian, để giúp thầy ấy, nhưng chẳng có hiệu quả ǵ. Mỗi lần thầy cảm thấy đỡ, thầy bước ra ngoài đi bộ một chút, thế là gục xuống và ốm hằng tuần lễ. Nhiều lần người ta tưởng thầy sắp chết.

Một hôm, vị viện chủ thông tuệ của tu viện nảy sinh ra tuệ giác về vấn đề này. Ngài đi vào pḥng của thầy bị bệnh.

Vị tu sĩ bị bệnh trân trân nh́n viện chủ, với vẻ tuyệt vọng.

Vị viện chủ nói, “Tôi tới đây, nhân danh tất cả các tăng chúng nam nữ trong tu viện, và cũng nhân danh tất cả các cư sĩ hỗ trợ cho chúng ta. Nhân danh tất cả những người yêu mến và quan tâm tới thầy, tôi đến để cho phép thầy được chết. Thầy không cần phải lành bệnh.”

Trước những lời lẽ đó, người bệnh bật khóc. Bấy lâu nay, thầy đă cố hết sức để lành bệnh. Bạn bè cũng đă cố hết sức ḿnh để giúp đỡ chữa trị và thầy cảm thấy không được phép làm cho họ thất vọng. Thầy cảm thấy đó là một sự thất bại, một tội lỗi v́ không lành bệnh. Khi nghe những lời của vị viện chủ, thầy cảm thấy được tự do đau ốm, thậm chí là chết.

Thầy không cần phải đấu tranh khó nhọc để làm hài ḷng bạn bè nữa. Thầy cảm thấy nhẹ người đến phát khóc.

Các bạn nghĩ xem điều ǵ sẽ xảy ra? Tất nhiên là thế, kể từ hôm ấy trở đi, thầy bắt đầu b́nh phục.

 



Thăm bệnh

Có bao nhiêu người trong chúng ta nói, “Hôm nay anh cảm thấy thế nào?” khi viếng thăm một người thân đang nằm bệnh viện?

Trước hết, đây là một lời nói ngốc nghếch! Dĩ nhiên là người ta cảm thấy rất tồi tệ, nếu không th́ họ không đi nằm viện, có phải thế không? Hơn nữa, lời chào hỏi này đặt bệnh nhân vào một t́nh trạng rất căng thẳng về tâm lư. Họ cảm thấy rất là khiếm nhă nếu quấy rầy khách bằng cách nói lên sự thật là họ cảm thấy rất khổ sở. Họ có thể làm cho người khác thất vọng, những người đă bỏ ra thời gian và chịu sự phiền toái khi đến thăm ḿnh, mà ḿnh lại đi trả lời một cách thành thật rằng ḿnh cảm thấy tệ hại như một túi trà lọc đă vắt cạn hết nước. Thế cho nên, thay v́ nói thật, họ phải nói dối, chẳng hạn, “Hôm nay tôi thấy đỡ hơn,” trong khi đó họ cảm thấy họ có lỗi khi không làm sao để đỡ hơn. Thật không may là nhiều khách đi thăm bệnh làm cho người bệnh cảm thấy tệ hại hơn.

Một sư cô người Úc theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng đang hấp hối v́ bệnh ung thư, hiện ở trong một bệnh viện dành cho người sắp qua đời ở Perth. Tôi đă quen biết sư cô ấy trong nhiều năm qua và thường hay thăm viếng sư cô ấy. Một hôm sư cô điện thoại tới tu viện cho tôi, yêu cầu tôi đến thăm v́ sư cô cảm thấy ḿnh sắp ra đi. Thế nên tôi bỏ dở công việc đang làm và ngay lập tức nhờ người chở tôi đi đến bệnh viện ấy, cách tu viện 70km. Khi tôi đến pḥng tiếp tân của bệnh viện th́ một người y tá với giọng rất có quyền hành nói rằng sư cô Phật giáo Tây Tạng đă yêu cầu không ai được gặp sư cô.

Tôi nói một cách nhẹ nhàng, “Tôi đi từ xa tới để gặp sư cô ấy.”

“Rất tiếc,” cô y tá nói một cách gay gắt, “sư ấy không muốn gặp bất cứ ai và tất cả mọi người phải tôn trọng điều đó.”

Tôi phản đối, “Nhưng không thể như thế được. Sư cô mới điện thoại cho tôi cách đây một giờ rưỡi, yêu cầu tôi đến.”

Cô y tá trưởng nh́n tôi một cách khó chịu rồi ra lệnh cho tôi đi theo cô ta. Chúng tôi dừng lại trước cửa pḥng sư cô và cô y tá chỉ tay vào một tờ giấy lớn dán ở cửa pḥng.

“Tuyệt đối không tiếp khách!”

“Thấy chưa?” cô y tá nói.

Khi tôi xem xét kỹ tờ giấy, tôi thấy mấy chữ nữa, với nét nhỏ hơn: “. . . ngoại trừ Ajahn Brahm.”

Thế nên tôi đi vào.

Khi tôi hỏi sư cô v́ sao cô dán thông báo ấy với một ngoại lệ, sư cô giải thích rằng khi tất cả các bạn bè và thân nhân đến thăm, họ rất buồn bă và khổ sở v́ thấy sư cô sắp qua đời và việc này làm cho sư cô cảm thấy tệ hại hơn. Sư cô nói, “Chết v́ bệnh ung thư là đă tệ hại rồi, và lại càng tệ hại hơn khi phải xử lư những vấn đề t́nh cảm của những người tới thăm.”

Sư cô nói tiếp rằng tôi là người bạn duy nhất xem cô là một người b́nh thường chứ không phải là người sắp chết; tôi không bối rối khi nh́n thấy sư cô gầy guộc và hốc hác, thay vào đó c̣n kể chuyện khôi hài và làm cho sư cô cười. Suốt một giờ sau đó tôi toàn kể chuyện vui đùa trong khi sư cô dạy cho tôi cách giúp đỡ một người bạn sắp chết. Tôi học được từ sư cô rằng khi viếng thăm một người nào đó ở bệnh viện, hăy nói chuyện với họ như nói với một người b́nh thường, hăy để cho bác sĩ và y tá nói chuyện với họ như một người bệnh.

Sư cô qua đời hai ngày sau cuộc viếng thăm của tôi.

 

 

Bộ mặt nhẹ nhàng hơn của đám tang

V́ là một tu sĩ Phật giáo, tôi thường có công việc liên quan đến cái chết. Một phần công việc của tôi là cử hành tang lễ theo nghi thức Phật giáo. V́ thế, tôi quen biết nhiều ông cai nhà đ̣n (n.d. người lo việc đưa đám). Có lẽ v́ yêu cầu phải nghiêm trang trước công chúng cho nên, khi ở chỗ riêng tư, nhiều người trong số đó rất thích nói đùa.

Chẳng hạn, một ông cai nhà đ̣n kể cho tôi nghe về một nghĩa trang ở Nam Úc, nằm ở một vùng trũng nền đất sét. Họ đă nhiều lần chứng kiến cảnh ngay khi họ hạ quan tài xuống mộ th́ một trận mưa lớn đổ xuống tràn ngập huyệt. Trong khi các vị chủ lễ đọc kinh th́ quan tài từ từ nổi lên trước mắt mọi người!

Rồi có một cha sở ở Perth, ngay từ đầu buổi lễ, đă vô t́nh, tựa lên trên tất cả các nút ở bục giảng. Thế là th́nh ĺnh, giữa lúc cha đang đọc kinh, th́ quan tài bắt đầu di chuyển xuyên qua tấm màn, mi-cro của cha bị cắt, và điệu kèn “Chiêu Hồn Tử Sĩ” vang lên khắp nhà thờ. Nó chẳng có ích ǵ v́ người quá cố không phải là chiến sĩ.

Tại một đám tang nọ, ông cai nhà đ̣n có thói quen kể cho tôi nghe những chuyện đùa khi chúng tôi cùng nhau đi trước xe tang và đoàn người đi đưa đám xuyên qua nghĩa trang tới mộ. Khi tới chỗ cao trào rất buồn cười của câu chuyện, ông ta thường dùng cùi chỏ thúc vào xương sườn của tôi để chọc cho tôi cười. Điều mà tôi chỉ có thể làm là ráng nín cho khỏi cười phá ra. Thế nên, khi đi gần đến địa điểm hành lễ tôi phải nói với ông ta một cách cương quyết là đừng có nói năng bậy bạ nữa để tôi phải chuẩn bị vẻ mặt cho hợp với buổi lễ. Nhưng lời nói của tôi chỉ khiến ông ta bắt đầu kể thêm một chuyện đùa khác nữa, đúng là con ma thích đùa!

Dần dần qua nhiều năm, tôi học được cách làm nhẹ bầu không khí trong tang lễ Phật giáo. Cách đây vài năm, tôi lấy can đảm, kể một chuyện đùa lần đầu tiên ở một buổi lễ tang. Ngay khi tôi bắt đầu kể, ông cai nhà đ̣n, đang đứng ở cuối đoàn người đưa đám, hiểu ngay là tôi sắp sửa nói ǵ, liền nhăn nhó mặt mày, ra hiệu cho tôi đừng nói. Đơn giản đó là việc mà người ta không làm - kể chuyện đùa tại một lễ đưa tang. Nhưng tôi đă quyết định. Mặt ông cai nhà đ̣n trở nên trắng bệch, trắng c̣n hơn xác chết. Cuối câu chuyện, những người đưa tang trong nhà thờ phá ra cười, và cái mặt méo xệch của ông cai nhà đ̣n giăn ra, nhẹ nhơm.

Gia đ́nh và bạn bè sau đó đều ngỏ lời khen tôi. Họ nói ắt là người quá cố cũng thưởng thức câu chuyện đùa độc đáo đó và ắt đă hài ḷng v́ những người thân yêu và bạn bè tiễn đưa ḿnh với một nụ cười. Bây giờ tôi thường kể chuyện đùa đó ở những buổi lễ tang. Tại sao không? Bạn có muốn những người thân và bạn bè nghe tôi kể một câu chuyện đùa tại lễ tang của bạn? Mỗi lần tôi hỏi câu này th́ câu trả lời luôn luôn là “Muốn!”

Vậy th́ câu chuyện đùa đó như thế nào? Như thế này đây:

Một cặp vợ chồng già nọ đă sống với nhau rất lâu đến độ khi một người qua đời th́ chỉ mấy hôm sau người kia cũng ra đi. Thế rồi họ được cùng nhau lên thiên đường. Một thiên thần đẹp đẽ đưa cả hai đến một ngôi biệt thự tráng lệ trên đỉnh một vách núi nh́n ra đại dương. Ở cơi trần gian, chỉ những tỷ phú mới mua nổi một ngôi nhà cỡ đó. Vị thiên thần tuyên bố ngôi biệt thự là của họ, một món quà của thiên đường.

Người chồng là một người có đầu óc thực dụng liền nói, “Những thứ này rất tốt, nhưng tôi nghĩ chúng tôi không thể nào trả thuế nỗi v́ bất động sản này lớn quá.”

Vị thiên thần mỉm cười và nói một cách ngọt ngào rằng trên thiên đường không có thuế nhà đất. Rồi ông ta đưa hai vợ chồng đi xem những căn pḥng trong ngôi biệt thự. Mỗi pḥng đều được trang hoàng, với thị hiếu mỹ thuật cao, bằng các đồ gỗ kiểu cổ điển, một số khác bằng đồ gỗ hiện đại. Các đèn chùm quí giá tḥng xuống từ trần nhà. Những ṿi nước bằng vàng ṛng sáng ngời ngời trong các pḥng tắm. Có những hệ thống DVD và máy vô tuyến màn h́nh plasma tân kỳ nhất. Cuối cuộc viếng thăm, vị thiên thần nói, nếu có cái ǵ họ không thích, th́ hăy cho ngài biết, ngài sẽ cho thay ngay. Đây là phần thưởng thiên đường dành cho họ.

Ông chồng tính toán giá trị của tất cả đồ đạc rồi nói, “Đây là những thứ tài sản đắt tiền. Tôi nghĩ chúng tôi không đủ tiền đóng phí bảo hiểm.”

Vị thiên thần tṛn mắt nh́n họ rồi nhẹ nhàng đáp rằng bọn trộm cắp không được phép vào thiên đường cho nên không cần bảo hiểm tài sản. Rồi thiên thần dẫn họ đến một gara rộng gấp ba gara b́nh thường. Trong đó có một xe thể thao to lớn, mới toanh, hai cầu, kế đó là một xe li-mu-zin Rolls Royce Du Lịch bóng loáng, và chiếc thứ ba là một chiếc xe thể thao Ferrari màu đỏ, có mui xếp lại được, loại có số lượng xuất xưởng hạn chế. Hồi ở trần gian, người chồng luôn mong muốn có một chiếc xe thể thao mạnh mẽ nhưng đó chỉ là ước mơ thôi. Vị thiên thần nói nếu họ muốn đổi mô-đen hay đổi màu th́ đừng ngần ngại nói cho thiên thần biết. Đây là phần thưởng thiên đường dành cho họ.

Người chồng rầu rĩ nói, “Cho dù chúng tôi có đủ tiền để trả phí đăng kư đi nữa, mà chúng tôi thật ra không có đủ, th́ ngày nay, một chiếc siêu xe th́ có ích lợi ǵ? Thế nào rồi cũng có lúc đóng tiền phạt v́ chạy quá tốc độ thôi.”

Vị thiên thần lắc đầu và nói một cách kiên nhẫn rằng trên thiên đường không có phí đăng kư, không có camera bắn tốc độ. Ông ta có thể lái chiếc Ferrari nhanh bao nhiêu cũng được, rồi vị thiên thần mở cửa gara. Phía bên kia con đường là một sân gôn 18 lỗ hoành tráng. Vị thiên thần nói trên thiên đường biết ông thích chơi gôn, và nói thêm rằng sân gôn tuyệt diệu này do chính Tiger Woods thiết kế.

Ông chồng vẫn tỏ vẻ không vui khi nói, “Câu lạc bộ này trông có vẻ quá sang trọng, chỉ cần nh́n văn pḥng câu lạc bộ th́ biết, và tôi nghĩ rằng tôi không đủ tiền để đóng phí câu lạc bộ.”

Vị thiên thần lầm bầm, nhưng rồi nhanh chóng trở lại tư thế thánh thiện, ông trấn an người chồng rằng ở thiên đường không có phí phiếc ǵ cả. Hơn nữa, ở các sân gôn trên thiên đường, bạn không bao giờ phải chờ đợi để đến lượt ḿnh đánh, bóng bao giờ cũng bay khỏi các hố cát, và sân cỏ được thiết kế thế nào để bạn đánh bóng kiểu ǵ nó cũng lăn vào lỗ cả. Đây là một phần thưởng của thiên đường.

Sau khi vị thiên thần đi khỏi, ông chồng bắt đầu gây sự với bà vợ. Ông ta tức vợ đến độ la hét, trách móc, mắng mỏ bà đủ điều. Bà ta không hiểu v́ sao ông lại giận bà như thế.

“Tại sao ông lại nổi khùng với tôi như thế?” bà tranh biện, “Chúng ta giờ đă có ngôi biệt thự đẹp đẽ và những bàn ghế xinh xắn.Ông đă có chiếc Ferrari, mà ông có thể lái nhanh chừng nào cũng được, và một sân gôn ngay bên kia đường. Tại sao ông lại giận tôi cơ chứ?”

“Tại v́, bà ạ,” ông chồng nói một cách cay cú, “Nếu không v́ những thức ăn tốt cho sức khỏe mà bà bắt tôi ăn, th́ tôi đă lên đây cách đây nhiều năm rồi!”

 



Đau khổ, mất mát, và vui sống

Đau khổ là cái mà chúng ta thêm vào sự mất mát. Đó là một phản ứng do tập quán của một số nền văn hóa nào đó thôi. Nó không có tính phổ quát và không phải là không tránh được.

Tôi khám phá ra điều này từ kinh nghiệm của ḿnh khi sống trong hơn tám năm trong một nền văn hóa Phật giáo châu Á thuần khiết. Trong những năm đầu ở trong tu viện Phật giáo trong rừng trong một vùng sâu của Thái Lan, những tư tưởng và văn hóa phương Tây không hề được biết đến. Tu viện của chúng tôi được dùng làm nơi thiêu xác cho nhiều ngôi làng xung quanh. Hầu như tuần nào cũng có một vụ thiêu xác. Trong hàng trăm đám tang mà tôi chứng kiến trong những năm cuối thập niên 1970, tôi chưa bao giờ thấy có người khóc. Tôi thường nói chuyện với những gia đ́nh có tang vào những ngày sau đó và tôi vẫn không thấy dấu hiệu của sự đau khổ. V́ thế cho nên có thể kết luận là không có sự đau khổ.Tôi khám phá ra rằng ở vùng đông bắc Thái Lan hồi đó, một vùng thấm nhuần lời giáo huấn của Đức Phật, cái chết được mọi người chấp nhận theo một phương cách thách thức các lư thuyết của phương Tây về sự đau khổ và mất mát.

Những năm ấy dạy cho tôi rằng có một cách hành xử khác thay v́ đau khổ. Không phải đau khổ là một cái ǵ sai trái, nhưng có một phương án khác. Sự mất mát một người thân yêu được nh́n với một cách thứ hai, một cách tránh được những ngày tháng nhức nhối v́ đau khổ.

Cha tôi mất khi tôi mới chỉ mười sáu tuổi. Đối với tôi, cha tôi là một con người tuyệt vời. Cha là người giúp cho tôi hiểu được ư nghĩa của t́nh thương bằng những lời lẽ, “Con à, sau này, dù con có làm ǵ đi nữa, th́ cánh cửa của trái tim ba vẫn luôn luôn mở ra với con.” Mặc dù t́nh thương của tôi đối với cha rất lớn lao, tôi không khóc ở buổi lễ tang. Kể từ ấy tôi cũng không khóc cha. Tôi không bao giờ cảm thấy muốn khóc về sự ra đi quá sớm của cha. Phải mất nhiều năm tôi mới hiểu được những t́nh cảm của tôi liên quan đến cái chết của cha ḿnh.

Tôi nhận được sự hiểu biết đó qua câu chuyện mà tôi chia sẻ với quí vị sau đây:

Khi c̣n là một thanh niên tôi mê nhạc, tất cả các thể loại, từ nhạc rock cho đến nhạc cổ điển, từ jazz cho đến dân nhạc. Trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 Luân-đôn là một thành phố tuyệt vời để sống, đặc biệt là nếu bạn thích âm nhạc. Tôi c̣n nhớ lúc tham dự buổi tŕnh diễn đầy hưng phấn đầu tiên của ban nhạc Led Zeppelin, trong một câu lạc bộ nhỏ ở Soho. Một lần khác, một nhóm nhỏ chúng tôi chứng kiến buổi tŕnh diễn của Rod Steward, lúc ấy chưa ai biết đến, với một ban nhạc rock trong pḥng trên lầu của một câu lạc bộ nhỏ ở phía bắc Luân-đôn.

Tôi có rất nhiều kỷ niệm quí giá về sinh hoạt âm nhạc của Luân-đôn vào thời đó.

Vào cuối mọi buổi tŕnh diễn, tôi thường la hét, “Nữa đi! nữa đi!” cùng với nhiều người khác. Thông thường, ban nhạc hoặc dàn nhạc sẽ chơi thêm một lúc nữa. Dầu vậy, cuối cùng, họ cũng phải ngừng lại, gói ghém đồ nghề và đi về. Và tôi cũng vậy. Theo trí nhớ của tôi, th́ tối nào cũng vậy, khi tôi từ câu lạc bộ, quán rượu hay pḥng ḥa nhạc đi về th́ trời cũng mưa. Có một từ đặc biệt để mô tả loại mưa buồn tẻ thường gặp ở Luân-đôn: mưa bụi. Hầu như khi nào trời cũng mưa tí tách, lạnh lẽo, u sầu khi tôi rời các thính pḥng. Nhưng mặc dù trong tim tôi tôi biết rằng có lẽ tôi sẽ không bao giờ nghe lại ban nhạc ấy lần nữa, rằng họ đă xa ĺa khỏi cuộc đời tôi măi măi, tôi không bao giờ cảm thấy buồn hay muốn khóc. Khi tôi bước vào màn đêm lạnh lẽo, ẩm ướt của thành phố Luân-đôn, âm thanh rộn ràng vẫn c̣n vang vọng trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ, “Âm nhạc thật tuyệt diệu! Buổi tŕnh diễn quá hay! Ḿnh thật may mắn được tham dự.” Tôi không bao giờ cảm thấy đau khổ sau những buổi tŕnh diễn âm nhạc.

Và đó cũng chính là điều tôi cảm nhận ở đám tang cha tôi. Nó giống như một buổi ḥa nhạc tuyệt vời cuối cùng cũng phải chấm dứt. Đó là cuộc tŕnh diễn tuyệt diệu. Tôi th́ vẫn như thường lệ la lên, “Nữa đi! Nữa đi!” khi gần tới hồi kết. Người cha thân yêu của tôi cũng đă tranh đấu hết sức để sống lâu hơn với chúng tôi một chút. Nhưng rồi cũng đến lúc cha phải “gói ghém đồ đạc và đi về.” Vào lúc kết thúc lễ tang, tôi bước ra khỏi ḷ thiêu ở Mortlake, và đi vào màn mưa Luân-đôn giá lạnh – tôi nhớ rất rơ cơn mưa tí tách – trong tâm trí tôi, tôi biết rơ tôi sẽ không bao giờ gặp lại cha, rằng người đă xa ĺa tôi măi măi, tôi không cảm thấy buồn, tôi cũng không khóc. Điều c̣n lại trong tim tôi là, “Thật là một người cha tuyệt vời! Cuộc đời của người mang lại cho tôi niềm phấn khởi vô biên. Tôi rất may mắn sống bên người vào lúc ấy. Tôi thật may mắn được làm con của cha tôi.” Khi tôi nắm bàn tay của mẹ trên con đường hướng tới tương lai, tôi cảm thấy một sự phấn khích mà tôi vẫn thường cảm thấy sau khi tham dự một buổi ḥa nhạc tuyệt vời trong đời! Tôi không bao giờ quên cảm giác ấy.

Đau khổ là chỉ thấy những ǵ ḿnh bị lấy mất. Niềm vui trước cuộc sống là nhận thức rằng ḿnh đă có phước, rằng ḿnh đầy ḷng biết ơn.

Cám ơn cha!

 


Lá rụng

Có lẽ cái chết mà chúng ta thấy khó chấp nhận nhất là cái chết của trẻ em. Tôi đă nhiều lần được mời đi làm lễ tang cho một bé trai hay bé gái, một sinh linh bước đi trên con đường đời chưa lâu. Nhiệm vụ của tôi là giúp cho các vị phụ huynh đang quẫn trí và những người khác nữa vượt qua khỏi sự giày ṿ của mặc cảm tội lỗi, và qua được nỗi day dứt đ̣i hỏi một câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao?”

Tôi thường kể câu chuyện ngụ ngôn sau đây mà tôi được nghe ở Thái Lan cách đây nhiều năm.

Hôm ấy, một vị tu sĩ đang thiền định trong rừng trong một túp lều tranh. Đến khuya th́ có một cơn giông tố quét ngang qua. Gió gầm rú như một chiếc máy bay phản lực và mưa nặng hạt đập vào mái tranh. Màn đêm càng lúc càng tối sầm, gió càng lúc càng dữ dội. Trước hết là nhiều cành cây bị găy. Kế đó là nhiều cây bị nhổ bật gốc và đổ đánh sầm như sấm nổ.

Vị tu sĩ nhận ra rằng túp lều cỏ chẳng thể nào che chở cho ḿnh được. Nếu một cây đổ trúng mái lều, hay chỉ cần một cành cây to thôi, nó cũng có thể làm thủng mái và đè ḿnh chết. Suốt đêm vị tu sĩ không ngủ được. Trong đêm, thỉnh thoảng vị ấy lại nghe tiếng động ầm ầm như những người rừng khổng lồ đang chạy rầm rập và tim của vị ấy lại đập mạnh từng hồi.

Rạng sáng hôm sau, như thường vẫn thế, cơn giông băo đă qua. Khi tia sáng đầu tiên vừa hé, vị tu sĩ đánh bạo bước ra khỏi túp lều để nh́n xem cảnh tàn phá ra sao. Nhiều cành và hai thân cây to đổ xuống suưt đập vào túp lều. Thầy cảm thấy may mắn là c̣n sống sót. Tuy nhiên thầy chợt chú ư đến không phải là những cây găy đổ nằm răi rác khắp nơi, mà chú ư đến lớp lá rụng phủ đầy mặt đất.

Đương nhiên, nhiều lá trong đó là những lá nâu, đă sống trọn vẹn cuộc đời. Nhưng cũng có lá mới ngả vàng. Và cũng có những lá xanh. Có những chiếc lá tươi non mà thầy biết chỉ mấy nhú ra khỏi búp một vài giờ trước đó. Vào lúc đó, thầy chợt hiểu ra bản chất của cái chết.

Thầy muốn thử xem cái thấy của ḿnh có đúng không nên thầy nh́n lên những cành cây. Kia ḱa, hầu hết những lá c̣n ở trên cây là những lá xanh non, mạnh mẽ, đang ở trong giai đoạn sung măn của cuộc đời. Thế nhưng, mặc dù nhiều lá mới sinh ra nằm chết trên mặt đất, th́ một số lá nâu, quăn queo, già cỗi vẫn cố bám lấy cành. Thầy mỉm cười; từ ngày đó trở đi, cái chết của trẻ em không làm thầy băn khoăn nữa.

Khi những cơn băo cuộc đời thổi qua gia đ́nh của chúng ta, nó thường lấy đi mạng sống của những “chiếc lá nâu già”. Chúng cũng lấy đi những chiếc lá ở độ tuổi trung niên, như những chiếc lá vàng trên cây. Những người trẻ cũng chết, trong độ tuổi thanh xuân, tương tự những chiếc lá xanh. Và đôi khi thần chết cướp mạng sống của một số ít các em nhỏ, giống như những trận băo làm rụng mất những cành lá tươi non. Đó là bản chất của cái chết trong cộng đồng của chúng ta, cũng như đó là bản chất của những trận băo trong rừng.

Không có ai có lỗi và không có ai để đổ lỗi trong cái chết của trẻ em. Đó là bản chất của sự vật. Ai có thể trách cứ cơn băo? Và nó giúp chúng ta trả lời câu hỏi tại sao một số trẻ em chết. Câu trả lời cũng là lư do v́ sao một số lá non phải rụng xuống trong một trận băo.

 

 



Sự lên xuống của người chết

Có lẽ giây phút xúc động nhất của một đám tang là lúc quan tài được hạ xuống mộ, hay ở ḷ thiêu, là lúc bấm nút để di chuyển áo quan. Nó như một sự nhắc nhở lần cuối cùng cho người đi đưa tang rằng người thân yêu của ḿnh đă khuất bóng măi măi. Nó thường là giây phút người ta không cầm được nước mắt.

Những giây phút như thế đặc biệt khó khăn ở một số ḷ hỏa táng tại Perth. Ở đó, khi người ta bấm nút, quan tài được hạ xuống tầng hầm, nơi đặt ḷ thiêu. Nó cũng giống như khi hạ huyệt vậy. Tuy nhiên, cảnh quan tài đi xuống lại khiến người thân vô t́nh nghĩ tới việc đi xuống địa ngục. Việc mất người thân yêu vốn đă là tệ hại rồi; bây giờ lại thêm cảnh giống như đi xuống âm phủ lại càng làm người ta khó chịu đựng hơn.

V́ vậy, có lần tôi đă đề nghị các nhà tang lễ tái cấu trúc để khi ông thầy chủ lễ bấm nút th́ quan tài dần dần được đưa lên cao. Chỉ cần lắp một máy nâng thủy lực là đủ. Khi quan tài lên đến trần, nó có thể biến mất trong một màn sương mù làm bằng nước đá khô, và đi qua một cửa lật trên mái trong tiếng nhạc réo rắt như trên thiên đường. Và như thế ắt sẽ đem lại cho những người đưa tang một trạng thái tinh thần tuyệt diệu!

Tuy nhiên, một số người nghe nói về đề nghị của tôi đă có ư kiến cho rằng như thế có thể làm mất một phần sự trung thực của buổi lễ, đặc biệt trong những trường hợp mà mọi người đều biết tên vô lại nằm trong quan tài kia khó ḷng mà “đi lên” trên ấy. V́ thế tôi sửa lại đề nghị là sẽ có nút bấm thích hợp cho mọi trường hợp; một nút bấm “lên” cho những người tốt, một nút bấm “xuống” cho người bất lương, và nút “ngang” cho đa số người xấu tốt lẫn lộn. Và để tôn trọng nguyên tắc dân chủ trong xă hội phương Tây, cũng như tạo ra một không khí hào hứng cho buổi lễ thường buồn tẻ, tôi có thể đề nghị mọi người đi đưa tang bỏ phiếu bằng cách đưa tay xem họ muốn bấm nút nào trong số ba nút ấy! Và việc này sẽ khiến cho đám tang trở thành một dịp đáng ghi nhớ - và đem lại một lư do tốt để tham dự.

 

 



Người đàn ông bốn vợ

Một ông nọ, rất thành đạt trong cuộc đời, có tới bốn bà vợ. Khi ông sắp từ giă cơi đời, ông gọi đến bên giường bà vợ thứ tư, người vợ cưới gần đây nhất và cũng là người trẻ trung nhất.

“Này em yêu, “ ông nói, vừa vuốt ve thân h́nh đẹp nổi tiếng của bà, “trong hai, ba ngày nữa anh sẽ chết. Sau khi chết, nếu không có em, anh sẽ rất cô đơn. Em đi cùng anh nhé!”

“Không được.” Cô gái kiêu kỳ đáp. “Em phải sống. Em sẽ nói lời ca tụng anh ở đám tang, nhưng em chỉ làm được như thế thôi.” Và cô săi bước đi ra khỏi pḥng.

Lời từ chối lạnh lùng của cô ta giống như một lưỡi dao đâm vào tim ông. Ông đă từng quan tâm tới người vợ trẻ nhất rất nhiều. Ông rất hănh diện về nàng và ông đă chọn nàng đi cùng ông tới những buổi lễ lạc quan trọng. Nàng đă đem lại cho ông sự oai vệ ở tuổi già. Thật là một điều đáng kinh ngạc khi phát hiện ra nàng không yêu ông cho bằng ông yêu nàng.

Tuy nhiên, ông vẫn c̣n ba bà vợ, cho nên ông gọi người vợ thứ ba, người mà ông cưới lúc ông ở lứa tuổi trung niên. Ông cũng đă vất vả hết sức mới giành được bàn tay của nàng. Ông rất yêu nàng v́ nàng đă đem lại cho ông nhiều niềm vui. Nàng rất hấp dẫn, khiến cho nhiều người đàn ông khác ái mộ nhưng nàng vẫn chung thủy với ông. Nàng làm cho ông có cảm giác rất an toàn.

“Này em yêu,” ông nắm tay nàng thật chặt, “trong hai, ba ngày nữa anh sẽ chết. Sau khi chết, nếu không có em, anh sẽ rất cô đơn. Em đi cùng anh nhé!”

“Ồ! Không được!” người thiếu phụ trẻ duyên dáng nói một cách cương quyết. “Điều đó không thể được. Em sẽ làm đám cho anh thật lớn, nhưng sau đó , em sẽ đi cùng với các con trai của anh.”

Sự hất hủi trong tương lai của người vợ thứ ba làm ông đau đớn tận tâm cang. Ông cho nàng đi ra và gọi người vợ thứ hai.

Ông đă lớn lên cùng người vợ thứ hai này. Bà không phải là người hấp dẫn cho lắm, nhưng bà luôn luôn có mặt để giúp ông giải quyết bất kỳ khó khăn nào và cho ông những lời khuyên vô giá. Bà là người bạn đáng tin cậy nhất của ông.

“Này em yêu,” ông nh́n đăm đắm vào đôi mắt đầy tự tin của nàng, “trong hai, ba ngày nữa anh sẽ chết. Sau khi chết, nếu không có em, anh sẽ rất cô đơn. Em đi cùng anh nhé!”

“Rất tiếc,” bà nói như xin ông tha lỗi, “Em không thể đi cùng anh được. Em sẽ tiễn đưa anh tới nấm mồ, nhưng chỉ chừng đó thôi anh à.”

Trái tim ông già tan nát. Ông gọi người vợ đầu đến, người mà ông vẫn quen biết tự thuở nào. Trong những năm gần đây ông đă lăng quên bà, nhất là sau khi ông gặp người vợ quyến rũ thứ ba và người vợ nổi tiếng thư tư. Nhưng người vợ đầu mới là người thật sự quan trọng đối với ông, làm việc một cách lặng lẽ ở hậu trường. Ông cảm thấy xấu hổ khi thấy bà ăn mặc tồi tàn, thân h́nh gầy ốm.

“Này người thân yêu nhất của anh,” ông nói như cầu khẩn, “trong hai, ba ngày nữa anh sẽ chết. Sau khi chết, nếu không có em, anh sẽ rất cô đơn. Em đi cùng anh nhé!”

“Tất nhiên, em sẽ đi cùng với anh,” bà nói một cách thụ động. “Em sẽ luôn luôn đi với anh từ kiếp này sang kiếp khác.”

Người vợ thứ nhất có tên là Nghiệp. Người vợ thứ hai tên là Gia Đ́nh. Người vợ thứ ba tên là Của Cải. Người vợ thứ tư tên là Danh Tiếng.

Xin mời đọc lại câu chuyện một lần nữa, v́ bây giờ các bạn đă quen biết cả bốn bà vợ. Bà vợ nào là quan trọng cần săn sóc cẩn thận nhất? Bà nào sẽ đi cùng với bạn khi bạn qua đời?

 

 



Buông một tiếng cười

Trong năm đầu tiên ở Thái Lan, chúng tôi thường được chở đi từ tu viện này sang tu viện khác ở thùng sau của một chiếc xe tải nhỏ. Các thầy lớn tất nhiên là được ngồi ghế tốt nhất trong cabin phía trước. Chúng tôi, các sư chú, ngồi chen chúc nhau trên những chiếc băng gỗ ở thùng sau. Phía dưới băng ghế là một khung sắt thấp, phía trên là một tấm bạt bằng nhựa để che mưa và bụi.

Tất cả những con đường đều là đường đất, được bảo dưỡng rất kém. Khi bánh xe đụng ổ gà th́ chiếc xe chạy xuống, c̣n các sư chú th́ bị nảy lên. Cốp! Nhiều lần tôi bị cụng đầu vào khung sắt phía trên. Hơn nữa, v́ là một ông thầy tu đầu trọc tôi không có ǵ để “đệm” cho bớt đau cả.

Mỗi lần tôi cụng đầu, tôi đều buông ra tiếng chửi thề - bằng tiếng Anh, để cho các thầy người Thái không hiểu. Nhưng khi các sư chú người Thái bị cụng đầu, họ chỉ cười! Tôi không thể nào hiểu được. Làm sao người ta có thể cười được khi cụng đầu đau như thế? Tôi nghĩ rằng các sư chú người Thái đă cụng đầu quá nhiều lần và họ đă bị tổn thương vĩnh viễn rồi.

Trước kia tôi là một nhà khoa học cho nên tôi quyết định làm một thí nghiệm. Tôi cương quyết sẽ cười khi bị cụng đầu giống như các sư chú người Thái để xem như thế nào. Bạn có biết tôi khám phá ra điều ǵ không? Tôi phát hiện ra rằng khi bị cụng đầu mà ḿnh cười th́ đỡ đau hơn rất nhiều.

Tiếng cười làm phóng thích chất endorphin vào máu, mà đó là một chất làm giảm đau tự nhiên. Nó cũng làm tăng cường sức mạnh của hệ miễn dịch, giúp chống lại bất cứ sự nhiễm trùng nào. Như vậy th́ tiếng cười sẽ có ích trong trường hợp bạn bị đau. Nếu bạn không tin tôi th́ lần sau khi bị cụng đầu bạn hăy thử xem sao.

Kinh nghiệm dạy cho tôi rằng cuộc đời đầy khổ năo sẽ ít gây tổn thương hơn khi ta nh́n vào khía cạnh hài hước của nó và buông một tiếng cười.

 

 

Con bọ và đống phân xinh tươi

Có một số người nhất định không muốn giải thoát khỏi phiền lụy. Nếu họ chưa đủ vấn đề để lo lắng th́ họ lại mở những chương tŕnh phim t́nh cảm trên truyền h́nh để lo lắng cho những vấn đề của các nhân vật hư cấu. Nhiều người cho rằng sự lo lắng này đem lại cảm giác hưng phấn, họ xem nỗi khổ là niềm vui. Họ không muốn hạnh phúc, bởi v́ họ đang vướng mắc vào những gánh nặng của họ.

Có hai tu sĩ nọ kết bạn với nhau suốt đời. Khi họ qua đời, một người sinh làm deva (trời, chúng sinh ở cơi trời), trong một thế giới đẹp đẽ của chư thiên, trong khi người kia sinh ra làm một con bọ trong một đống phân.

Vị trời chẳng bao lâu cảm thấy nhớ bạn và tự hỏi không biết bạn ḿnh tái sinh ở đâu. Vị ấy không t́m thấy bạn ḿnh trong thế giới mà ḿnh đang ở, cho nên vị ấy đi t́m trong tất cả các cơi trời khác. Người bạn cũng không có trong những cơi ấy. Dùng những năng lực thần thông của ḿnh, vị trời t́m trong cơi người, nhưng cũng không thấy. Vị trời nghĩ bạn ḿnh không thể nào tái sinh trong cơi thú được, nhưng cũng cứ kiểm tra xem sao. Vẫn không thấy dấu hiệu nào về người bạn kiếp trước của ḿnh. V́ thế, lần kế đó, vị trời t́m kiếm trong thế giới côn trùng, và rất kinh ngạc khi thấy bạn ḿnh tái sinh làm một con bọ đang sống trong một đống phân hôi thối gớm ghiếc!

Mối liên hệ t́nh cảm bạn bè mạnh đến nỗi chúng thường tồn tại cả sau khi chết. Vị trời cảm thấy ḿnh cần phải cứu bạn ḿnh ra khỏi cảnh tái sinh đáng buồn như vậy, bất kể là nghiệp nào đă đưa đến sự tái sinh ấy.

V́ thế, vị trời hiện ra trước đống phân ghê tởm đó và gọi to, “Ê, anh bọ kia. Anh có nhớ tôi không? Kiếp trước, chúng ta là thầy tu và là đồng môn với nhau. Nay tôi đă tái sinh vào cơi chư thiên c̣n anh th́ lại tái sinh trong đống phân ḅ hôi hám này. Tuy vậy, đừng có lo, tôi sẽ đưa anh đến ở cơi trời với tôi. Nào, ra đây, anh bạn cũ!”
“Đợi một chút,” con bọ đáp, “Cái cơi trời mà anh đang “tán dương” đó nó đẹp đẽ như thế nào? Tôi th́ rất hạnh phúc với đống phân thơm tho, ngon lành này, cám ơn anh bạn rất nhiều.”

Vị trời nói, “Anh không hiểu đâu,” rồi vị ấy mô tả những điều hạnh phúc, lạc thú của cơi trời cho con bọ nghe.

“Thế th́ trên ấy có phân không?” con bọ hỏi, đi thẳng vào vấn đề.

“Tất nhiên là không rồi.” vị trời nhăn mũi đáp.

“Vậy th́ tôi không đi đâu!” con bọ nói một cách dứt khoát. “Hăy biến đi!” Rồi con bọ trườn vào bên trong đống phân.

Vị trời nghĩ nếu như con bọ nh́n thấy cơi trời nó sẽ tự hiểu. V́ thế, vị trời nín thở, đưa bàn tay mềm mại của ḿnh vào đống phân gớm ghiếc, để t́m con bọ. Vị ấy t́m được chú chàng và lôi chú ra.

“Ê! Bỏ ta ra!” Con bọ hét lên. “Cứu với! Cứu với! Tôi bị bắt cóc đây!” Con bọ bé nhỏ trơn tuột, vặn vẹo, vùng vẫy cho đến khi thoát được, và chú chui tọt vào đống phân trở lại để trốn.

Vị trời tốt bụng tḥ ngón tay vào đống phân thối bẩn một lần nữa, t́m ra con bọ và lại cố kéo nó ra. Vị trời lôi nó ra được rồi, nhưng v́ nó dính đầy thứ phân lầy nhầy dễ tuột và cũng v́ nó không muốn đi cho nên lại vùng thoát ra và chui sâu hơn nữa vào giữa đống phân để trốn. Vị trời đă cố kéo con bọ tội nghiệp ra khỏi đống phân ghê tởm đó một trăm lẻ tám lần, nhưng do con bọ quá mê đắm đống phân xinh tươi của nó cho nên nó lại vùng vẫy chui vào lại.

Thế cho nên, cuối cùng vị deva phải quay trở lại cơi trời, để con bọ ở lại với “đống phân xinh tươi” của nó.

Tới đây chấm dứt một trăm lẻ tám câu chuyện kể trong cuốn sách này.


 


Chú thích

Hầu hết các câu chuyện trong cuốn sách này đă được truyền khẩu qua nhiều thế hệ trong tu viện của chúng tôi. Nhiều chuyện có nguồn gốc từ các kinh sách cổ của Phật giáo và được phép thêm thắt hoa lá cành để thích ứng với thời đại. Tuy nhiên, một số câu chuyện là hoàn toàn mới mẻ làm tăng thêm sự phong phú của kho tàng chuyện cổ Phật giáo.

Câu chuyện nào phát triển từ kinh sách Phật cụ thể th́ nguồn được ghi rơ ở đây. Một số chuyện khác không truy cứu được nguồn, có lẽ là những chuyện tôi nghe được và tiếp thu trong những năm đầu của cuộc đời tu hành trong 35 năm qua của tôi. Một số đă được kể đi kể lại trong những cuốn sách khác, và khi nào có thể truy cứu nguồn đều có ghi rơ. Tuy nhiên, kho tư liệu chính là cuộc đời của tôi, đặc biệt là 30 năm làm tu sĩ khi những câu chuyện này xảy ra, hoặc nghe được trong những buổi giảng pháp hấp dẫn trong các giảng đường tu viện.

1 Devaputta Samyutta, Kinh số 26, tôi tự dịch

2 Câu chuyện này phát sinh từ một sự kết hợp nhiều nguồn, đặc biệt là câu chuyện nguyên thủy trong kinh Dhammapada (Pháp Cú), kệ 110, và những thi kệ của Trưởng Lăo đă chứng đạo tên là Adhimutta trong kinh Tiểu Bộ.

3 Câu chuyện này có nguồn gốc trong kinh Samyutta Nikaya (Tạp A Hàm), bài giảng số 8 Kosala Samyutta, và cũng từ trong kinh Udana (Phật Tự Thuyết), chương 5, bài giảng số I.

4 Câu chuyện này xuất xứ từ kinh Samyutta Nikaya (Tạp A Hàm), bài giảng số 22 Sakka Samyutta.

5 Tôi nghe một dị bản của câu chuyện cổ này lần đầu tiên khi c̣n là một Phật tử tại nước Anh. Sau đó, câu chuyện này được Idries Shah kể lại và xuất bản trong cuốn The Way of Sufi, nhà xuất bản Penguin, Harmodsworth, 1975, tt. 80-81.

6 Trích dẫn bài thơ đă xuất bản “Three Questions” của Jonathan Wilson-Fuller đă được tác giả cho phép.

7 Theo sự nghiên cứu của tôi, câu chuyện “Three Questions” được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Do Thái, vào năm 1903, trong một cuốn sách bao gồm những truyện ngắn của các tác giả nổi tiếng, như Chekkov để tương trợ những người Do Thái bị ngược đăi tại nước Nga. Phiên bản mà tôi đọc khi c̣n là sinh viên Đại Học Cambridge vào năm 1970 và được xuất bản trong một hợp tuyển, mặc dầu tôi không thể truy cứu chi tiết xuất bản.

8 Câu chuyện này dựa trên chuyện Jataka (kinh Bổn Sinh)107.

9 Câu chuyện này dựa trên chuyện Jataka (kinh Bổn Sinh) 215.

10 Câu chuyện này dựa trên kinh Udana (kinh Phật Tự Thuyết), chương 6, bài giảng 4.



Về tác giả

Ajahn Brahm sinh ra ở Luân Đôn năm 1951. Ông tự nhận ḿnh là Phật tử ở tuổi 16 sau khi đọc những cuốn sách về đạo Phật ở trường học. Sở thích t́m hiểu đạo Phật và thiền lại càng gia tăng trong khi ông theo học ngành Vật Lư Lư Thuyết tại Đại Học Cambridge. Sau khi hoàn tất chương tŕnh ông đi dạy một năm, ông đi sang Thái Lan và xuất gia.

Ông được thọ giới tỳ kheo tại Bangkok vào lúc 23 tuổi, do ngài viện Chủ Tu viện Saket truyền giới. Sau đó ông theo học và tu tập thiền 9 năm trong truyền thống thiền sơn lâm dưới sự hướng dẫn của ngài Ajahn Chah.

Vào năm 1983, ông được yêu cầu hỗ trợ trong việc thành lập tu viện sơn lâm gần Perth, Tây Úc. Ajahn Brahm nay là Viện Chủ Tu Viện Bodhiyana và Giám Đốc Tâm Linh của Hội Phật giáo Tây Úc.
 

 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân trần

art2all.net