Trần Ngọc Bảo

 

AI ĐẶT HÀNG CẢ CHUYẾN XE PHÂN THẾ NÀY

Thiền sư Ajahn Brahm

Trần Ngọc Bảo dịch thuật

 

 

NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN

 

Âm thanh hay nhất

Một ông già chưa hề được học hành lần đầu trong đời đi vào một thành phố. Ông ta lớn lên trong một làng quê ở vùng núi xa xôi; ông ta đă làm việc vất vả để nuôi nấng con cái, và đây là lần đầu ông đi thăm những căn nhà hiện đại của mấy đứa con.

Một hôm, trong khi được đưa đi loanh quanh, ông già nghe thấy một âm thanh làm đau nhóí lỗ tai. Ông ta chưa bao giờ nghe một tiếng ồn ghê tai như thế tại làng quê trên vùng núi yên tĩnh của ḿnh và ông ta quyết tâm t́m cho ra nguyên nhân. Lần theo âm thanh chói tai đó đến nơi xuất phát, ông ta đi vào một căn pḥng ở phía sau một ngôi nhà nơi có một bé trai đang tập đàn vi-ô-lông. Két! Kẹt! những nốt nhạc không ḥa điệu đó phát sinh từ một nhạc cụ đang rền rĩ.

Khi đứa con trai bảo rằng nhạc cụ đó là cây đàn vi-ô-lông, ông ta tự nhủ sẽ không bao giờ muốn nghe lại âm thanh đáng ghét của nó.

Ngày hôm sau, ở một nơi khác trong thành phố, ông ta nghe thấy một âm thanh rất êm dịu như ve vuốt đôi tai già. Ông ta chưa bao giờ nghe một giai điệu du dương như thế ở tại làng quê trên non của ḿnh cho nên ông đ̣i đưa ông đến đó. Lần theo âm thanh réo rắt đó đến nơi xuất phát, ông ta đi vào một pḥng trước của một ngôi nhà nơi có một phụ nữ, một nhạc sư, đang dạo một bản xô-nát bằng một cây đàn vi-ô-lông.

Ngay lập tức ông già nhận ra sai lầm của ḿnh. Âm thanh chói tai mà ông nghe ngày hôm trước không phải lỗi ở cây đàn vi-ô-lông, cũng không phải lỗi của cậu bé. Chẳng qua đó là do một người c̣n trẻ chưa học được cách chơi đàn sao cho hay.

Với đầu óc của một con người b́nh dân chất phác, ông già nghĩ rằng đối với tôn giáo cũng vậy. Khi chúng ta gặp một người sùng đạo gây ra xung đột với các tín ngưỡng khác, th́ không nên trách cứ tôn giáo của người ấy. Chẳng qua đó là một người chưa hiểu sâu tôn giáo. Khi chúng ta gặp gỡ một vị thánh, một bậc đạo sư của một tôn giáo, th́ đó là một cuộc gặp gỡ tuyệt vời, tạo ra cảm hứng cho ta trong nhiều năm, bất kể tín ngưỡng của vị ấy là ǵ.

. . . Nhưng đó chưa phải là đoạn cuối của câu chuyện ông già và cây đàn vi-ô-lông.

Ngày thứ ba, ở một nơi khác trong thành phố, ông già nghe được một âm thanh c̣n hay hơn âm thanh từ cây đàn vi-ô-lông của nữ nhạc sư. Bạn thử nghĩ xem đó là âm thanh ǵ.

Âm thanh đó nghe hay hơn tiếng thác đổ của một con suối trên núi vào mùa xuân, hay hơn tiếng gió mùa thu thổi ŕ rào qua rừng cây, hay tiếng chim hót trong ngàn sâu sau một cơn mưa. Nó c̣n hay hơn sự yên lặng của một thung lũng vào một đêm đông thanh vắng. Đó là âm thanh ǵ làm cho trái tim ông già rung động mạnh mẽ hơn bất kỳ âm thanh nào khác?

Đó là âm thanh của một dàn nhạc đang chơi một bản giao hưởng.

Theo ông già, đó là âm thanh hay nhất trên thế giới, bởi v́, trước hết, mọi thành viên của dàn nhạc đều là nhạc sư của loại nhạc cụ ḿnh đang chơi, và thứ hai, họ đă học cách để chơi cùng với nhau trong sự ḥa điệu.

Ông già suy nghĩ, “Cầu sao cho tôn giáo cũng vậy. Mỗi người chúng ta nên học cho được tinh túy của tôn giáo ḿnh qua những bài học của cuộc sống. Chúng ta hăy là một bậc thầy tràn đầy t́nh thương trong tôn giáo của ḿnh. Rồi sau khi học thật giỏi tôn giáo của ḿnh, chúng ta hăy đi xa hơn và học cách, như các thành viên của một dàn nhạc, sống ḥa hợp với các tôn giáo khác!”

Đó sẽ là âm thanh kỳ diệu nhất.



Những ǵ chứa đựng trong một cái tên?

Khi một người trở thành một tu sĩ Phật giáo trong truyền thống của chúng tôi đều nhận được một tên mới. Pháp danh của tôi là “Brahmavamso,” mà v́ nó dài cho nên tôi thường rút gọn thành “Brahm.” Bây giờ mọi người đều gọi tôi bằng tên đó, ngoại trừ mẹ tôi. Bà vẫn gọi tôi là Peter và tôi bênh vực cho quyền của bà được gọi tôi như thế.

Có một lần trong một cuộc nói chuyện qua điện thoại mời tôi tham dự một buổi lễ có đại diện của nhiều tôn giáo, người ta hỏi tên tôi đánh vần như thế nào. Tôi trả lời:

B- như chữ Buddhist (Phật giáo)
R- như chữ Catholic (Công giáo)
A-như chữ Anglican (Anh giáo)
H-như chữ Hindu (Ấn giáo)
M-như chữ Muslim (Hồi giáo)

Tôi nhận được câu trả lời rất tích cực cho nên từ đó trở đi tôi luôn đánh vần tên tôi theo kiều đó, và đó cũng là ư nghĩa của cái tên.

 



Năng lực của kim tự tháp

Vào mùa hè năm 1969, ngay sau sinh nhật 18 tuổi, tôi thực hiện một chuyến du hành vào rừng già nhiệt đới lần đầu tiên trong đời. Tôi đi qua bán đảo Yucatan của xứ Guatemala, để khám phá những kim tự tháp vừa được phát hiện gần đây của nền văn minh Maya đă biến mất.

Vào thời ấy, việc đi lại rất khó khăn. Tôi mất tới ba bốn ngày mới đi được vài trăm cây số từ thành phố Guatemala tới quần thể đền đài hoang phế gọi là Tical. Tôi đi ngược ḍng các con sông hẹp xuyên qua khu rừng mưa trên những chiếc thuyền đánh cá ướt sũng dầu, đi trên những con đường đất hẹp quanh co trên những chiếc xe tải chất đầy hàng hóa lắc lư dữ dội, và qua những con đường ṃn nhỏ trong rừng trên những chiếc xe ba bánh cũ kỹ tả tơi. Đó là một vùng xa xôi, nghèo nàn và hoang sơ.

Cuối cùng, khi tôi đến được quần thể đền đài bị bỏ hoang và các kim tự tháp cổ xưa, tôi không có người hoặc sách hướng dẫn du lịch nào để giải thích cho tôi ư nghĩa của các đền đài hùng vỹ vươn thẳng lên trời ấy. Không có một ai xung quanh. V́ thế, tôi bắt đầu leo lên một trong những kim tự tháp cao ngất ấy một ḿnh.

Khi lên tới đỉnh, ư nghĩa và mục đích tâm linh của các kim tự tháp ấy chợt lóe lên trongđầu tôi.

Trong suốt ba ngày qua tôi du hành hoàn toàn ở trong rừng. Những con đường lớn, nhỏ, và sông ng̣i đều như những đường hầm đi xuyên qua rừng xanh dày đặc. Rừng già tạo thành một mảng trần nhà phủ lên bất cứ đường sá nào. Suốt mấy ngày tôi không hề nh́n thấy chân trời. Quả thật, tôi không nh́n thấy một khoảng không gian rộng răi nào v́ đang ở trong rừng.

Khi ở trên đỉnh kim tự tháp ấy, tôi ở vị trí cao hơn tán rừng. Không những tôi thấy được khung cảnh rộng lớn như một tấm bản đồ mở ra trước mắt mà c̣n có thể nh́n thấy khắp mọi hướng, không c̣n cái ǵ cách ngăn giữa tôi và không gian vô biên.

Đứng trên cao lúc ấy, như đứng trên đỉnh thế giới, tôi h́nh dung được một thanh niên Maya cảm thấy như thế nào khi vốn sinh ra trong rừng, lớn lên trong rừng, và sinh sống suốt đời ở trong rừng. Tôi mường tượng ra cảnh người thanh niên, trong một nghi thức tôn giáo, được một cánh tay của một vị cao niên, thánh thiện, dẫn lên đỉnh một kim tự tháp lần đầu tiên trong đời. Khi họ vượt khỏi tầm cao của tán rừng, và nh́n thấy quang cảnh thế giới trải dài và rộng mở trước mắt họ, khi tầm nh́n của họ vượt ra khỏi những ranh giới lănh thổ của họ cho đến tận chân trời và thấy những ǵ xung quanh, họ sẽ chiêm ngưỡng sự trống rỗng vô cùng bao trùm mọi thứ ở bên trên và khắp tất cả.

Đứng trên đỉnh kim tự tháp, ở giữa lối ra vào của trời và đất, không có ai, không có vật ǵ, không có lời nào ở giữa họ và không gian vô tận trong khắp mọi phương. Trái tim của họ sẽ rung lên, ḥa điệu với ư nghĩa biểu tượng của quang cảnh này. Chân lư sẽ nở hoa và tỏa rộng hương thơm của sự hiểu biết. Họ sẽ biết được vị trí của họ giữa thế gian, và sẽ thấy được cái vô cùng, hiểu được cái không vô tận bao trùm vạn vật. Họ sẽ t́m thấy ư nghĩa của cuộc sống.

Chúng ta nên dành cho ḿnh thời gian và sự yên tĩnh để leo lên đỉnh kim tự tháp tâm linh trong chính nội tâm ḿnh, vượt lên trên và ra ngoài khu rừng già rối rắm của cuộc sống, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Khi ấy chúng ta sẽ thấy được vị trí của ḿnh giữa muôn vật, thấy toàn cảnh cuộc hành tŕnh của đời ḿnh, và ngắm nh́n mà không bị chướng ngại cái vô cùng vô tận trong khắp mọi phương.

 



Đá quí

Cách đây một vài năm, ở một trường kinh doanh ở Mỹ, một vị giáo sư đă giảng cho một sinh viên cao học về kinh tế xă hội học một bài học khá độc đáo. Mở đầu giờ dạy, giáo sư không hề giải thích ḿnh sắp sửa làm ǵ mà chỉ lấy từ dưới bàn lên một cái lọ và cẩn thận đặt trên bàn. Rồi giáo sư lôi từ dưới bàn một túi nhỏ đựng nhiều viên đá, và lần lượt bỏ vào trong lọ cho đến khi không bỏ thêm viên nào vào được nữa. Vị giáo sư hỏi sinh viên, “Chiếc lọ đầy chưa?”

Sinh viên trả lời: “Dạ đầy rồi.”

Vị giáo sư mỉm cười. Từ dưới hộc bàn ông lôi ra một cái túi thứ hai chứa đầy những ḥn sỏi nhỏ. Vừa bỏ từng ḥn sỏi nhỏ vào, giáo sư vừa lắc cái lọ và quả là các ḥn sỏi có thể lách vào những khoảng trống giữa các viên đá lớn. Giáo sư hỏi sinh viên lần nữa: “Lọ đầy chưa?”

“Dạ chưa.” Sinh viên trả lời. Lần này họ đă cẩn thận hơn rồi.

Tất nhiên là họ nói đúng, v́ giáo sư lại lôi từ trong hộc bàn một túi thứ ba chứa đầy cát. Vị giáo sư lại đổ cát vào lọ, vừa đổ vừa lắc, và cát lọt vào khoảng trống giữa đá và sỏi. Giáo sư lại hỏi: “Lọ đầy chưa?”

“H́nh như chưa ạ!” sinh viên trả lời.

Giáo sư mỉm cười và lấy ra một b́nh nước, đổ vào lọ đă đầy đá, sỏi và cát. Khi lọ đă đầy, giáo sư đặt b́nh nước xuống và hỏi:

“Vậy th́ các anh chị rút ra được bài học ǵ từ những việc tôi vừa làm?”

Một sinh viên trả lời, “Vậy th́ dù lịch làm việc của chúng ta có bận rộn đến đâu chăng nữa, chúng ta vẫn có thể đưa thêm vào một việc khác.” Bởi v́ đây là một trường kinh doanh mà.

“Không phải đâu các anh chị.” Vị giáo sư hắng giọng nói, “ Việc này cho thấy nếu như chúng ta muốn bỏ các viên đá lớn vào lọ th́ chúng ta phải bỏ chúng vào trước.”
Đó là bài học về sự ưu tiên.

Vậy th́ “những viên đá lớn” trong cái “lọ” của bạn là ǵ thế? Điều ǵ là quan trọng nhất trong đời của bạn? Khi xếp lịch làm việc trong ngày, các bạn nhớ đưa “những viên đá quí” vào trước, c̣n không th́ có thể không bao giờ kịp.



Rồi ḿnh sẽ có hạnh phúc

Có lẽ viên đá quí nhất mà chúng ta muốn bỏ vào “lọ” trước hết, theo câu chuyện vừa rồi, là hạnh phúc bên trong của ḿnh. Khi bên trong không có hạnh phúc chúng ta không thể cho người khác hạnh phúc được. Thế nhưng tại sao hầu hết chúng ta lại không dành ưu tiên cho hạnh phúc, mà lại cứ tŕ hoăn cho tới phút cuối cùng? (Hoặc cho tới giây cuối cùng, như câu chuyện sau đây minh họa).

Khi tôi mười bốn tuổi, tôi đang học để chuẩn bị thi lấy bằng Ô tại một trường trung học ở Luân Đôn *. Cha mẹ và thầy giáo khuyên tôi đừng chơi bóng đá vào buổi chiều và cuối tuần nữa để dành th́ giờ học hành. Họ giải thích rằng kỳ thi rất quan trọng và nếu tôi làm tốt tôi sẽ được sung sướng.

Tôi làm theo lời khuyên ấy và đạt kết quả rất tốt. Nhưng tôi không cảm thấy sung sướng ǵ cả, v́ sau kỳ thi này tôi phải học hành chăm chỉ trong hai năm nữa để thi lấy bằng A. Cha mẹ tôi và các thầy giáo khuyên tôi đừng đi ra ngoài chơi ban đêm hoặc cuối tuần, đừng có chạy đuổi theo các cô gái cũng như trước đây chạy đuổi theo trái bóng nữa để ở nhà học bài. Họ giải thích rằng kỳ thi rất quan trọng và nếu tôi làm tốt tôi sẽ sung sướng.

Một lần nữa tôi vâng lời và làm rất tốt. Nhưng một lần nữa, tôi chẳng thấy hạnh phúc ở đâu. Bởi v́ trước mắt tôi c̣n phải học tới ba năm nữa vất vả hơn để lấy bằng cử nhân. Mẹ tôi và các thầy giáo (khi ấy cha tôi mất rồi) đều khuyên tôi tránh xa các quán rượu và ăn nhậu với bạn bè, mà cố gắng dành nhiều th́ giờ để học hành chăm chỉ, càng chăm càng tốt. Họ nói rằng bằng đại học rất quan trọng và nếu tôi lấy được bằng tôi sẽ sung sướng.

Đến đây th́ tôi đâm ra nghi ngờ.

Tôi đă thấy một số bạn bè lớn tuổi hơn học hành vất vả để lấy bằng đại học. Bây giờ th́ họ đă đi làm, mà làm c̣n vất vả hơn khi học nữa. Họ cố gắng rất nhiều để dành tiền tiết kiệm mua cho được những thứ mà người ta cho là rất quan trọng, như xe hơi chẳng hạn. Họ nói với tôi khi có đủ tiền mua xe ḿnh sẽ rất hạnh phúc.

Khi họ làm ra đủ tiền để mua chiếc xe đầu tiên, họ vẫn chưa thấy có hạnh phúc. Bây giờ th́ họ đang cố gắng làm lụng để mua thứ những khác để được sung sướng. Hoặc có người th́ đang vất vả trong t́nh trường để ráng cưới được vợ. Họ bảo tôi, “Khi ḿnh cưới vợ và ổn định cuộc sống ḿnh sẽ có hạnh phúc.”

Khi lập gia đ́nh rồi cũng chẳng thấy họ hạnh phúc ǵ. Họ làm lụng lại càng vất vả thêm, kiếm thêm hai ba việc để làm, nhằm có đủ tiền đặt cọc mua một căn hộ hay một ngôi nhà nhỏ. Họ nói với tôi, “Khi ḿnh mua được một căn nhà riêng ḿnh sẽ có hạnh phúc.”
Thật không may là v́ hằng tháng họ phải trả tiền mua nhà nên chẳng thấy hạnh phúc ǵ. Thế mà họ lại bắt đầu xây dựng một gia đ́nh hoàn chỉnh. Bây giờ th́ đă có con, bị đánh thức dậy vào lúc nửa đêm nửa hôm, và con cái tiêu hết tiền dành dụm của họ. C̣n những nỗi lo lắng th́ tăng gấp đôi gấp ba. Bây giờ th́ phải ráng đợi hai mươi năm nữa họ mới có thể làm được những điều muốn làm. Rồi họ nói với tôi, “Khi lũ trẻ trưởng thành, ra riêng và ổn định rồi ḿnh mới có hạnh phúc.”

Khi lũ trẻ đă ra riêng th́ hầu hết các bậc cha mẹ đă gần về hưu. V́ thế họ tiếp tục tŕ hoăn hạnh phúc v́ phải làm việc vất vả lo dành dụm cho tuổi già. Họ nói với tôi. “Khi về hưu ḿnh sẽ có hạnh phúc.”

Thậm chí là trước khi về hưu và chắc chắn là sau khi về hưu họ đâm ra mộ đạo và đi nhà thờ. Bạn có để ư là người già chiếm hầu hết ghế cầu nguyện ở nhà thờ không? Tôi hỏi v́ sao bây giờ họ lại đi nhà thờ. Họ bảo tôi, “V́ làm thế th́ khi chết ḿnh sẽ được hạnh phúc.”

Đối với những người tin rằng “Khi tôi được cái này, tôi sẽ có hạnh phúc,” th́ hạnh phúc của họ chỉ là một mơ ước trong tương lai.

Nó giống như cầu vồng, chỉ cách xa khoảng hai ba bước nhưng măi măi nằm ngoài tầm tay với. Không bao giờ trong đời này hoặc đời sau, họ nếm được mùi vị hạnh phúc.
__________


* Ở Anh, học sinh trong độ tuổi 14-16 phải thi một kỳ thi quốc gia để lấy bằng được gọi là bằng O. Sau đó hai năm, học sinh khoảng 18 tuổi, sẽ thi lấy bằng A, mới đủ tiêu chuẩn để đăng kư học đại học.



Người đánh cá Mê-hi-cô

Trong một làng chài yên tĩnh xứ Mê-hi-cô một hôm có một du khách người Mỹ ghé qua chơi. Vị này đang trong một kỳ nghỉ và lúc ấy đứng ngắm một người đánh cá cất vó vào lúc sáng sớm. Vị du khách người Mỹ là giáo sư ở một trường kinh tế có tiếng ở Hoa Kỳ. Chợt nổi máu nghề nghiệp, vị ấy cất tiếng đưa ra một lời khuyên cho người đánh cá:

“Ê!” vị này kêu lên, “ Sao mà anh đánh cá sớm quá vậy?”

Anh chàng ngư dân lễ phép trả lời, “À! Tôi định đánh một mẻ cho cả nhà ăn rồi dư chút ít đem bán, trưa kịp về ăn cơm với gia đ́nh. Làm sớm sớm th́ trưa ḿnh được ngủ một giấc, chiều dậy chơi với con với cái. Hà, hà, tối lại đi ra căng-tin làm một cút rượu tê-ki-la, chơi đàn ghi-ta với bạn bè. Thế là được rồi, phải không, thưa ông?”

“Này anh bạn ơi, hăy nghe lời tôi đây,” vị giáo sư kinh doanh nói, “Nếu như anh ráng làm tới chiều mới về th́ anh có thể đánh được gấp đôi. Tiền anh bán cá nếu dành dụm trong ṿng sáu tháng, chín tháng ǵ đó th́ anh sẽ mua được một chiếc tàu to hơn, và thuê vài người bạn làm nghề. Khi đó th́ anh có thể đánh được số cá nhiều gấp bốn gấp năm lần. Chà, chà, cứ nghĩ xem. Trong ṿng một hai năm anh có thể dư tiền để mua thêm một chiếc tàu đánh cá thứ hai và thuê thêm người làm. Nếu cứ theo kế hoạch này th́ trong ṿng bảy tám năm anh sẽ có cả một đội tàu đánh cá. Lúc đó th́ anh có thể mở một văn pḥng công ty ở thành phố Mê-hi-cô, hoặc thậm chí là ở tận Los Angeles. Chỉ cần ba bốn năm ở Los, anh có thể đưa công ty ra thị trường chứng khoán và làm tổng giám đốc, sở hữu một cổ phần lớn. Chỉ trong ṿng vài năm thôi anh có thể có đủ vốn lớn mua lại cả công ty và trở thành triệu-triệu phú. Bảo đảm mà. Tôi là một giáo sư nổi tiếng ở một trường kinh doanh Hoa Kỳ đây. Tôi biết rất rơ mấy cái thứ này mà.”

Anh chàng ngư dân lắng nghe vị giáo sư người Mỹ nói một cách kính cẩn. Khi vị giáo sư dứt lời anh ta mới hỏi, “ Nhưng thưa Giáo sư, có nhiều triệu đôla như thế th́ tôi không biết phải làm ǵ.”

À, cái chỗ này th́ vị giáo sư quả là chưa nghĩ đến. Thế nhưng vị này tính toán rất nhanh để xem người ta thường dùng tiền triệu đô-la để làm ǵ.

“Anh bạn ơi. Với chừng đó tiền đô rồi th́ anh có thể về hưu. Đúng rồi, về hưu hẳn luôn. Anh có thể mua một ngôi biệt thự trong một ngôi làng chài xinh xắn như ngôi làng này, rồi mua một con thuyền nhỏ để đi câu vào lúc sáng sớm như thế này. Anh có thể về ăn trưa với vợ hằng ngày, và ngủ trưa rồi sau đó chẳng phải lo lắng ǵ cả. Buổi chiều th́ chơi đùa với con cháu, và sau khi ăn tối th́ ra căng-tin uống rượu tê-ki-la, chơi đàn với bạn bè. Chà, với bấy nhiêu tiền đó anh có thể về hưu và sống một cách thoải mái.”

“Nhưng thưa giáo sư, đó là điều tôi đang làm kia mà.”

Tại sao chúng ta tin rằng ḿnh phải làm việc vất vả và làm giàu trước rồi sau đó mới hưởng thụ sự thanh nhàn?



Khi mọi nguyện ước được thỏa măn

Theo truyền thống của chúng tôi, tu sĩ không được phép nhận, sở hữu hay nắm giữ tiền bạc dù là bất cứ dưới h́nh thức nào. Chúng tôi nghèo đến nỗi làm các con số thống kê của chính phủ trở nên xấu hơn.

Chúng tôi sống rất đạm bạc nhờ vào một ít phẩm vật cúng dường tự nguyện của đàn na thí chủ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng tôi cũng được cúng một thứ ǵ đó hơi đặc biệt.

Một hôm do giúp đỡ một thí chủ giải quyết được một vấn đề riêng tư, ông ta nói với tôi, “Thưa thầy, con muốn cúng dường thầy một ít để thầy dùng riêng. Không biết con có thể mua ǵ cho thầy với số tiền khoảng năm trăm bạt? (tiền Thái Lan)” Thường thường để tránh hiểu lầm người ta nói thẳng ra số tiền muốn cúng. Nhưng v́ khi ấy ông ta hơi vội mà tôi th́ chưa nghĩ ra ḿnh cần ǵ nên hẹn hôm sau gặp lại.

Trước khi việc này xảy ra tôi là một nhà sư trẻ, hồn nhiên, thanh thản. Bây giờ tôi bắt đầu suy nghĩ xem ḿnh muốn ǵ. Tôi lập ra một danh sách. Danh sách ấy càng lúc càng dài ra. Chẳng bao lâu tôi nhận thấy năm trăm bạt không đủ. Nhưng thật là khó gạch bỏ đi một vài thứ. Không biết từ đâu mà những thứ ḿnh muốn cứ nhảy ra và trở thành những nhu yếu không thể bỏ qua. Danh sách cứ dài dần. Bây giờ th́ năm ngàn bạt cũng không đủ.
Thấy rơ những ǵ đang diễn ra, tôi quẳng đi cái danh sách ấy. Ngày hôm sau, khi vị thí chủ ấy đến tôi nói ông ta hăy cúng số tiền này cho quỹ xây dựng chùa hay làm ǵ đó cũng được. Tôi không muốn nữa. Điều tôi muốn hơn cả là lấy lại ḷng thanh thản mà tôi vốn đă có ngày hôm trước. Khi tôi không có tiền, hay bất kỳ phương tiện ǵ để mua sắm thứ ǵ cả th́ mọi nguyện ước của tôi đă được thỏa măn rồi.
Ḷng ham muốn quả thật không có chỗ tận cùng. Ngay cả một tỷ bạt cũng không đủ để thỏa măn, thậm chí là cả tỷ đô-la cũng không. Nhưng sự tự do thoát khỏi ham muốn th́ lại có chỗ tận cùng. Đó là khi ta không muốn điều ǵ. Chỉ khi ta cảm thấy đầy đủ th́ ta mới thảnh thơi.



Hai thứ tự do

Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa măn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng.

Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa măn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền. Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa măn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ư là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.
Loại tự do thứ hai, tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo.Ở đó người ta ca ngợi sự bằng ḷng, b́nh an, giải thoát. Điều đáng chú ư là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.



Các bạn mong muốn thứ tự do nào?

Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong pḥng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá. Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ư không bằng ḷng v́ việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lư từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đă làm ǵ đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong ḍng sông hay ao hồ tùy thích. Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ư. Vị ấy lư giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể th́ chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:

1 Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy th́ tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hăy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên. Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đă từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn. Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu măn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn. Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. C̣n cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.

2 Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược ḍng vào ban đêm ắt hẳn không c̣n an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá ḿnh nuôi. Vậy th́ những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.

3 Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không t́m được thức ăn. C̣n cá trong bể th́ như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, c̣n hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy v́ không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.

4 Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông th́ lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. C̣n cá trong hồ th́ cứ như ở trong pḥng có máy điều ḥa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.

5 Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. C̣n cá trong bể th́ được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.

Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của ḿnh. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của ḿnh và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.

Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa măn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu.

C̣n bạn muốn thứ tự do nào?



Thế giới tự do

Một hôm, một vị sư ở tu viện của tôi được thỉnh đi dạy thiền quán ở trong một nhà tù mới gần Perth, nơi mà t́nh h́nh an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đă trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.

Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm v́ pḥng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một b́nh bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền h́nh, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dơi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”

Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, th́ nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đă quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là ḿnh đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”

Mọi người trong pḥng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ sâu hơn:

Quả thật tu viện của tôi c̣n kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất; tuy nhiên, nhiều người tự nguyện đến đây ở và họ cảm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?

Bởi v́ các thầy muốn sống ở tu viện, c̣n phạm nhân th́ không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.

Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở th́ dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ư nghĩa thật sự của chữ “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà ḿnh không thích th́ bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà ḿnh không mong muốn th́ các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn th́ thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn. Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vảo.

Vậy th́ làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?

Dễ thôi. Hăy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó th́ nơi ấy không c̣n là một nhà tù đối với bạn nữa. Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay v́ ghét bỏ, th́ nó không c̣n là một nhà tù nữa. Khi các bạn bằng ḷng th́ các bạn được tự do.

Tự do là bằng ḷng với nơi chốn ḿnh đang có mặt. Nhà tù là nơi ḿnh không muốn ở. Thế Giới Tự Do là thế giới mà ta sống với sự bằng ḷng. Tự do thật sự là giải thoát khỏi dục vọng chứ không bao giờ là tự do thỏa măn dục vọng.

 



Bữa ăn tối với tổ chức Ân Xá Quốc Tế

Xét thấy những điều kiện kham khổ trong đời sống ở tu viện của tôi, tôi rất cẩn thận trong việc xây dựng mối quan hệ với chi nhánh Perth của tổ chức Ân Xá Quốc Tế. V́ thế, khi nhận được lời mời dự buổi ăn tối của tổ chức Ân Xá Quốc Tế, để chào mừng năm thứ năm mươi Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Thế Giới, tôi gửi cho họ thư trả lời như sau:

 

Kính thưa cô Julia, Cán bộ Đối Ngoại,

Cám ơn cô rất nhiều về lá thư gần đây gửi cho tôi mời dự tiệc vào ngày thứ bảy, 30 tháng 5, nhân kỷ niệm năm mươi năm BTNNQTG. Tôi rất lấy làm sung sướng được mời tham dự một sự kiện như thế.

Tuy nhiên, tôi là tu sĩ Phật giáo theo trường phái Theravada, mà truyền thống của chúng tôi giữ giới luật rất chặt chẽ. Thật không may là Giới Luật này cấm tôi không được ăn trong thời gian bắt đầu 12 giờ trưa đến tận sáng hôm sau, và v́ vậy, đáng tiếc thay, không cho phép ăn tối. Rượu cũng không được uống, kể cả rượu vang. Nếu tôi nhận lời mời của quí vị, th́ tôi buộc phải ngồi với một cái đĩa trống trơn và một chiếc ly không, trong khi nh́n khách khứa xung quanh thưởng thức một bữa ăn, mà chắc chắn sẽ rất thịnh soạn. Đây sẽ là một h́nh thức tra tấn đối với tôi mà Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế của quí vị sẽ không bao giờ tha thứ.

Hơn nữa, là một tu sĩ Phật giáo theo truyền thống này, tôi không được phép nhận hay sở hữu tiền bạc. Cho tới bây giờ, tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc khi sống dưới mức nghèo khổ làm xấu đi các các con số thống kê của chính phủ. V́ thế, tôi không thể nào trả tiền cho bữa ăn tối, mà tôi, dù sao cũng không ăn.

Tôi sẽ c̣n tiếp tục tŕnh bày vấn đề mà tôi gặp phải với tư cách là một tu sĩ, đó là cách ăn mặc cho phù hợp với tục lệ trong một buổi lễ như thế, nhưng tôi nghĩ nói đến đây là đủ rồi. Tôi gửi lời xin lỗi về việc không thể tham dự buổi tiệc.

Chào trân trọng với hạnh phúc trong sự nghèo nàn

Brahmm

 



Cách ăn mặc của một tu sĩ

Tu sĩ thuộc truyền thống của tôi mặc áo cà sa màu nâu, và chỉ có thế thôi. Cách đây vài năm tôi phải vào một bệnh viện Úc vài ngày. Khi đến tôi được hỏi có mang theo đồ pyjama không. Tôi trả lời là tu sĩ không mặc pyjama, mà chỉ mặc bộ y này hoặc không mặc ǵ cả. V́ thế họ cho phép tôi mặc bộ y áo đó.

Vấn đề là bộ áo cà sa trông giống như áo váy phụ nữ.

Vào một buổi chiều chủ nhật, ở ngoại ô thành phố Perth tôi đang chất vật liệu lên chiếc xe trung của tu viện để phục vụ một công tŕnh xây dựng. Một cô bé người Úc trạc mười ba tuổi bước ra từ một ngôi nhà gần đó để kiếm chuyện với tôi. Cô bé ắt hẳn chưa bao giờ nh́n thấy một tu sĩ Phật giáo trước đó. Cô bé đứng trước mặt tôi, tay chống nạnh, ngước nh́n tôi từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên với một vẻ mặt rất chi là khinh bỉ. Rồi cô bé bắt đầu lớn tiếng mắng tôi bằng một giọng bực bội: “Ông ăn mặc ǵ mà giống như con gái thế. Ngó mà đổ bệnh luôn. Xíc!”

Cô bé nói với giọng rất kẻ cả khiến tôi không nhịn được cười. Tôi nhớ lại thầy tôi, Ajahn Chah, khuyên đệ tử khi gặp hoàn cảnh bị mắng nhiếc. “Nếu ai gọi các con là đồ chó, đừng có nổi giận. Thay vào đó, hăy nh́n lại phía sau mông. Nếu không thấy cái đuôi th́ như vậy có nghĩa là ḿnh không phải chó. Chấm hết.”

Đôi khi tôi cũng được khen v́ mặc áo cà sa.

Một hôm tôi có việc phải xuống phố. Tài xế của tôi (tu sĩ không được phép lái xe) đă đỗ xe của tu viện trong một gara nhiều tầng. anh ta nói anh ta muốn đi toilet, nhưng chê toilet của gara bẩn nên đi sang nhà vệ sinh của một rạp chiếu phim gần đó. Trong khi chàng ta giải quyết nhu cầu tự nhiên, th́ tôi đứng chờ ngoài rạp, phải đứng trên một đường phố nhộn nhịp trong bộ y áo tu sĩ.

Một thanh niên tiến lại gần, mỉm cười rất điệu và hỏi tôi bây giờ là mấy giờ. Những tu sĩ như tôi đều rất ngây thơ. Phần lớn cuộc đời tôi đều sống trong tu viện. Và v́ tu sĩ không mang đồng hồ, tôi lịch sự xin lỗi rằng tôi không biết mấy giờ. Anh ta nhíu mày rồi bỏ đi.

Khi anh ta vừa bước đi một vài bước tôi chợt hiểu ra anh ta định nói ǵ. “Bây giờ là mấy giờ?” dường như là câu đầu tiên trong sách dạy nghệ thuật tán gẫu có duyên. Sau này tôi mới biết rằng nơi tôi đứng là một trong những chốn hẹn ḥ quen thuộc nhất của giới đồng tính luyến ái ở Perth!

Anh chàng đồng tính quay đầu nh́n tôi một lần nữa và nói, bằng giọng rất gợi t́nh của diễn viên Mae West, “Ôi! Nhưng anh trông rất xinh trong bộ áo váy đó!”
 

 

Tự cười ḿnh

Một trong những lời khuyên hay nhất mà tôi nhận được khi c̣n là một thầy giáo trẻ là khi bạn vấp phải một sai lầm làm cả lớp cười th́ bạn nên cười theo. Như vậy th́ học sinh sẽ không cười nhạo bạn mà cùng cười với bạn.

Nhiều năm sau đó, khi tôi là tu sĩ ở Perth, tôi thường được mời đến các trường trung học nói chuyện về Phật giáo. Các học tṛ nhí phương Tây thường thử thách tôi bằng cách cố làm cho tôi lúng túng. Có lần, sau một bài giảng về văn hóa Phật giáo, tôi hỏi cả lớp có ai thắc mắc ǵ không, một học sinh nữ khoảng 14 tuổi đưa tay lên và nói: “Vậy th́ bọn con gái có làm thầy hưng phấn không?”

May mắn thay, các nữ sinh khác đă giải cứu cho tôi và trách cứ bạn nọ đă làm cho mọi người cảm thấy xấu hổ. Về phần tôi, tôi cũng cười và ghi lại câu chuyện này làm tài liệu cho buổi nói chuyện sau.

Vào một dịp khác, khi tôi đang đi bộ dọc theo một đường phố lớn th́ một số nữ sinh tiến tới và nói với tôi một cách rất thân t́nh. “Chào Thầy!” “Thầy có nhớ tụi em không? Cách đây không lâu thầy có tới nói chuyện ở lớp tụi em đó.”

Tôi trả lời, “Rất vui là các em c̣n nhớ thầy.”

Một nữ sinh nói tiếp, “Tụi em không bao giờ quên thầy. Làm sao mà quên được một tu sĩ có tên là ‘Brah’ cơ chứ !” (n.d. có nghĩa là cái nịt vú)



Đến lượt chó cười nhạo lại

Năm đầu tiên tôi xuất gia ở vùng đông bắc Thái Lan, t́nh cờ cũng là năm cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Gần tu viện của ngài Ajahn Chah, kế bên thành phố Ubon, có một căn cứ không quân của Mỹ. Ajahn Chah, thích kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện thật sau đây về cách ứng xử khi bị nhạo báng.

Một anh chàng lính Mỹ đi từ căn cứ vào thành phố bằng xe ba bánh. Khi đến ngoại ô thành phố, họ đi ngang qua một quán rượu. Ở đó t́nh cờ có một đám bạn của anh tài xế xe ba bánh đang say xỉn.

“Ê!” họ la lên bằng tiếng Thái, “Chú mày chở con chó dơ bẩn đó đi đâu vậy?” Họ cười vang, tay chỉ chỏ anh chàng lính Mỹ.

Anh lái xe cảnh giác. Anh lính Mỹ là một người rất to con và ở Thái Lan, nếu gọi một người nào đó là “con chó dơ bẩn” th́ chắc chắn sẽ xảy ra đánh nhau. Tuy nhiên anh lính chỉ yên lặng nh́n quanh, dường như đang ngắm nh́n phong cảnh hữu t́nh. Rơ ràng là anh ta không hiểu tiếng Thái.

Anh lái xe bấy giờ mới nổi hứng chọc quê người khách, lớn tiếng đáp lại, “Tao đang chở con chó thối tha này đến sông Moon ném xuống cho hắn tắm rửa một trận đây!”

Anh lái xe và đám bạn bè cười ré lên trong khi anh lính Mỹ vẫn ngồi yên, không động đậy.

Khi họ đến nơi, anh lái xe ngửa tay đ̣i tiền, nhưng anh lính Mỹ lẳng lặng bỏ đi.

Anh lái xe ba bánh sốt ruột chạy theo la lên bằng một thứ tiếng Anh chưa sỏi những ư tứ cũng rơ ràng, “Ê! Ông ơi! Trả đô la cho tôi đi!”

Anh chàng lính Mỹ to lớn b́nh thản quay lại đáp bằng một thứ tiếng Thái rất đúng giọng, “Chó không có tiền.”



Xỉ vả và giác ngộ

Những thiền sư có kinh nghiệm thường phải xử lư những trường hợp đệ tử tuyên bố đă ngộ. Một trong những phương cách lâu đời để thử xem tuyên bố đó có đúng hay không là xỉ vả người đệ tử thậm tệ để làm cho anh ta nổi giận. Tất cả các thầy và sư cô đều biết Đức Phật đă nói rơ rằng người c̣n giận dữ th́ chắc chắn chưa giác ngộ.

Một tu sĩ trẻ người Nhật nọ, quyết tâm đạt đến cảnh giới niết bàn ngay trong kiếp sống này, cho nên đă độc cư thiền định trên một cù lao giữa một hồ nước yên tĩnh gần một tu viện nổi tiếng. Thầy muốn đạt được giác ngộ cho sớm để c̣n lo những chuyện khác.

Một hôm, khi người phục vụ chèo thuyền mang các thức cần dùng hằng tuần tới, ông thầy tu trẻ này viết một lá thư ngắn, yêu cầu mang đến một tờ giấy bản thật đắt tiền, bút lông và mực tốt. Thầy sắp sửa hoàn tất ba năm độc cư và muốn cho sư phụ biết ḿnh đă hành thiền giỏi ra sao.

Tuần sau, các thứ giấy, bút, mực được đưa tới. Mấy ngày kế đó, sau khi hành thiền và tập trung tư tưởng thật sâu, ông thầy tu trẻ viết trên tờ giấy tốt một bài thơ bằng kiểu chữ thư pháp rất đẹp.

Với bao tinh cần, vị tăng trẻ,
Ba năm đằng đẳng độc cư thiền
Nay không c̣n bị lay động nữa
Bởi bốn ngọn gió của trần gian.

Thầy nghĩ rằng, chắc chắn, sư phụ với trí tuệ cao siêu, sẽ thấy được qua những ḍng chữ này, với cách viết rất nghiêm cẩn, rằng đệ tử đă giác ngộ. Ông nhẹ nhàng cuộn tờ giấy lại, cẩn thận buộc nó bằng một sợi dây vải, và chờ người phục vụ đến để chuyển cho sư phụ. Mấy hôm sau, ông thầy tu trẻ bắt đầu tưởng tượng ra sự hài ḷng của sư phụ khi đọc bài thơ tuyệt cú viết một cách trang trọng như thế. Thầy h́nh dung nó sẽ được đóng khung và treo lên trong thiền đường lớn của tu viện. Có thể người ta sẽ yêu cầu thầy nhận chức vụ viện chủ một thiền viện trong thành phố. Ông thầy tu cảm thấy rất hài ḷng là ḿnh, cuối cùng, đă làm được như vậy.

Lần kế đó, khi người phục vụ chèo con thuyền nhỏ chở các thứ cần dùng tới cù lao th́ ông thầy tu trẻ đang đợi. Người phục vụ trao cho thầy cuộn giấy giống như giấy của thầy, nhưng được buộc bằng một sợi dây khác màu. Người phục vụ nói một cách ngắn gọn, “Của sư phụ.”

Thầy hồi hộp tháo dây và mở cuộn giấy ra. Khi mắt thầy vừa nh́n vào tờ giấy th́ nó chợt to ra như mặt trăng và mặt thầy cũng trở nên trắng bệch như thế. Đó chính là tờ giấy mà thầy đă dùng để viết, nhưng kế bên ḍng thư pháp đẹp đẽ đầu tiên, vị viện chủ đă viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ một chữ thôi: “Trung tiện!” (đánh rắm). Bên phải của ḍng thứ hai là một nét chữ rất xấu “Trung tiện!” Ngay trên ḍng thơ thứ ba, lại thêm một từ không thích hợp chút nào: “Trung tiện!”, và cuối ḍng thơ thứ tư cũng một từ như thế nữa.

Thật là quá đáng! Ông viện chủ già yếu lụ khụ không những quá u mê không nhận ra sự giác ngộ ngay trước cái mũi béo ị, mà lại c̣n thô lỗ, thiếu lịch sự, phá hoại một tác phẩm nghệ thuật bằng cách viết bừa băi như thế. Ông viện chủ cư xử như một người ái mộ nhạc rock punk (n.d. loại nhạc rock mạnh, ra đời trong thập niên 1970, phản kháng chống lại nề nếp xưa cũ bằng hành vi gây sốc), không phải như một tu sĩ. Đó là một sự lăng mạ đối với nghệ thuật, với truyền thống, với chân lư.

Mắt ông thầy tu trẻ nhíu lại một cách giận dữ, mặt đỏ bừng với cơn phẫn nộ chính đáng, và gằn giọng nói với người phục vụ, “Hăy đưa ta đến gặp thầy! Ngay lập tức!”

Đó là lần đầu tiên trong ba năm qua ông thầy tu trẻ rời khỏi nơi ẩn cư trên cù lao của ḿnh. Trong cơn giận, thầy hùng hổ bước vào phương trượng, đặt mạnh tờ giấy lên bàn và yêu cầu giải thích.

Vị viện chủ giàu kinh nghiệm chậm chạp nhấc tờ giấy lên, đằng hắng, rồi đọc bài thơ:

Với bao tinh cần, vị tăng trẻ,
Ba năm đằng đẳng độc cư thiền
Nay không c̣n bị lay động nữa
Bởi bốn ngọn gió của cuộc đời

Nhẹ nhàng đặt tờ giấy xuống, vị sư phụ nh́n thẳng vào mặt đệ tử, và nói: “Hừ! Vậy đó, con nói là con không c̣n bị lay động bởi bốn ngọn gió của cuộc đời. Thế nhưng bốn cú trung tiện nhẹ đă thổi con văng tới bên kia hồ!”

 



Khi tôi ngộ

Lúc ấy là năm thứ tư tôi làm tăng sĩ ở Thái Lan; tôi đang hành thiền rất lâu và rất chuyên cần tại một tu viện trong rừng sâu ở miền đông bắc. Vào một đêm khi đă về khuya, tôi đang đi thiền hành, th́ tâm chợt sáng bừng lên. Những tuệ giác sâu xa bỗng nhiên ùa đến như thác đổ từ trên núi. Tôi hiểu một cách dễ dàng những điều khó hiểu mà trước đây tôi chưa từng khám phá. Thế rồi điều kỳ diệu nhất đă đến. Tôi hết sức ngạc nhiên và tràn đầy hạnh phúc. Đó chính là nó: giác ngộ.

Niềm hạnh phúc này không giống với điều ǵ mà tôi từng biết đến. Niềm vui thật là vô bờ bến, nhưng cũng rất b́nh an. Tôi tiếp tục hành thiền lâu hơn. Chỉ ngủ một chút. Rồi lại bắt đầu thời thiền tập trong thiền đường, thậm chí là trước khi chuông báo 3 giờ sáng. Thường thường, trong cái khí hậu nóng và ẩm của rừng già Thái, tôi phải cố gắng lắm mới thắng được t́nh trạng uể oải, buồn ngủ. Nhưng sáng nay th́ không như thế. Thân tôi ngồi rất thẳng mà không cần chút nỗ lực nào, ư thức sắc bén như dao cạo, và tập trung tư tưởng rất dễ dàng. Như thế đấy, giác ngộ thật là tuyệt vời.

Nhưng thật đáng thất vọng là t́nh trạng như thế không kéo dài lâu.

Vào những năm ấy, ở miền đông bắc Thái Lan, thức ăn thật là tệ hại. Chẳng hạn, có lần bữa ăn duy nhất trong ngày của chúng tôi chỉ có một cục xôi với một con nhái luộc cỡ trung b́nh. Không có rau, không có trái cây, chỉ có nhái và xôi, tất cả chỉ có thế. Tôi bắt đầu bóc thịt ở phần chân, sau đó, là phần nội tạng. Một bạn đồng tu ngồi sát bên tôi cũng bắt đầu ăn phần nội tạng. Thật không may là thầy ấy đè trúng cái bàng quang của con nhái. Trong ấy vẫn c̣n nước tiểu. Thế là nước tiểu xịt ra ướt hết cục xôi. Thầy ấy không c̣n ǵ để ăn.

Thường thường, món ăn chính của chúng tôi là cà-ri mắm. Nó được làm từ cá thối. Những con cá nhỏ mà người ta đánh bắt trong mùa mưa được ướp trong những hũ sành, và được dùng làm thức ăn cho suốt cả năm. Trong khi quét dọn xung quanh tu viện tôi t́m thấy một hũ như thế ở trong bếp. Nó đầy gịi ḅ lúc nhúc và tôi định mang đi vứt bỏ. Người trưởng làng, người có học vấn và khôn ngoan nhất trong vùng, nh́n thấy và bảo đừng có quăng đi.

Tôi phản đối, “Nhưng có đầy gịi trong đó!”

“Như thế lại càng ngon!” ông ta trả lời và giành lấy cái hũ trong tay tôi.

Ngày hôm sau chúng tôi lại có món ca- ri mắm cho bữa ăn duy nhất trong ngày.

Ngày kế tiếp sau khi giác ngộ, tôi ngạc nhiên khi thấy hai soong ca-ri để ăn với xôi. Một soong là món cari mắm hôi thối như thường lệ, một soong là món ca-ri thịt heo ăn được. Tôi thầm nghĩ, hôm nay tôi sẽ được đổi món và có một bữa ăn ngon mừng sự giác ngộ.

Thầy viện chủ là người lấy thức ăn trước tôi. Ngài múc ba vá (môi) đầy món ca-ri thịt heo ngon – thật háu ăn! Vẫn c̣n nhiều cho tôi. Tuy vậy, trước khi trao cái soong cho tôi, ngài bắt đầu đổ cái soong ca-ri thịt heo mà tôi thèm rớt nước bọt vào soong ca-ri mắm thối. Ngài trộn chung tất cả rồi nói, “Nó cũng thế mà thôi.”

Tôi đứng lặng người. Tôi sôi gan, tôi giận thật. Nếu như ngài thật sự nghĩ rằng, “Nó cũng thế mà thôi” th́ tại sao ngài lại múc ba vá đầy ca-ri thịt heo cho ḿnh trước khi trộn hai món với nhau? Thật là người đạo đức giả! Ngoài ra, ngài là một người địa phương, đi tu từ nhỏ. Ngài được nuôi lớn bằng món mắm cá này nên ngài lẽ ra phải thích nó. Đồ giả dối! Đồ con heo! Đồ lừa đảo!

Rồi một nhận thức lóe lên trong tôi. Những người giác ngộ đâu có thích món ăn này hơn món ăn kia, họ cũng không nổi giận, và gọi ngài viện chủ, dù cho là gọi thầm, là đồ con heo. Tôi biết chắc là tôi đang giận và như vậy có nghĩa là - ồ, không, không – rốt cuộc, tôi chẳng có ngộ ǵ cả.

Lửa giận trong tôi ngay lập tức được dập tắt bởi một cơn thất vọng năo nề. Những đám mây đen của sự chán nản cuồn cuộn nổi lên trong tim tôi, hoàn toàn che khuất mặt trời giác ngộ trước đó. Mắt nh́n xuống rầu rĩ, tôi múc hai vá mắm thối và ca-ri thịt heo đổ vào xôi. Tôi không c̣n để ư đang ăn thứ ǵ. Tôi hoàn toàn mất tinh thần. Khi nhận ra rằng tôi rốt cuộc chẳng có giác ngộ ǵ ráo làm cho tôi buồn chán suốt cả ngày.



Con heo ngoài đường

Về đề tài con heo th́ có chuyện một bác sĩ chuyên khoa giàu có vừa tậu một chiếc xe thể thao mạnh và rất đắt tiền. Tất nhiên là người ta không tiêu tốn nhiều tiền vào một chiếc siêu xe để chạy với tốc độ chậm trong thành phố. V́ vậy, vào một ngày trời nắng đẹp, ông ta lái xe ra khỏi thành phố để đi về miền quê thanh b́nh. Khi đến vùng không c̣n camera kiểm soát tốc độ nữa, ông ta nhấn mạnh chân ga và cảm nhận chiếc xe thể thao lao vọt lên. Với động cơ gầm vang và chiếc xe phóng như bay trên đường làng, ông bác sĩ mỉm miệng cười khoái trá với tốc độ cao.

Không được khoái trá như vậy là một bác nông dân dăi dầu mưa nắng đang đứng dựa vào cánh cổng của một băi chăn. Cố sức hét lớn cho át tiếng máy xe gầm rú, ông nông dân la lên, “Heo!”

Ông bác sĩ biết rằng ông đang hành động một cách ngông nghênh, thiếu tế nhị, phá hỏng khung cảnh yên b́nh của miền quê, nhưng ông ta nghĩ, “Như vậy th́ đă sao! Ḿnh cũng có quyền vui vẻ một chút chứ.”

Thế nên ông ta quay đầu lại và hét lớn với người nông dân, “Mày gọi ai là heo vậy?”
Trong mấy giây đồng hồ không nh́n đường, chiếc xe lao vào một con heo đang đứng giữa đường!

Chiếc xe thể thao mới tinh của ông ta đă trở thành một đống sắt vụn. Và v́ con heo, ông ta phải nằm viện mất mấy tuần, tốn rất nhiều tiền, và mất luôn chiếc xe.
 


Hare Krishna

Trong câu chuyện trước, cái ngă của ông bác sĩ làm cho ông ta phán đoán sai lời cảnh báo của người nông dân tốt bụng. Trong câu chuyện sau đây cái ngă thầy tu của tôi làm cho tôi phán đoán sai một người tốt bụng khác, mà tôi rất lấy làm hối hận.

Khi ấy tôi sắp kết thúc chuyến viếng thăm mẹ tôi ở Luân Đôn. Mẹ tôi đang đi cùng với tôi đến ga xe lửa Ealing Broadway để mua vé cho tôi. Trên đường đến nhà ga, con đường Ealing High nhộn nhịp, tôi nghe thấy tiếng ai đó nhạo báng, “Hare Krishna! Hare Krishna!”

Là một tu sĩ Phật giáo đầu trọc mặc áo cà sa màu nâu, tôi thường bị người ta tưởng lầm là một tín đồ của phong trào Krishna Consciousness (Ư Thức Thượng Đế). Nhiều lần ở Úc, bọn người thô lỗ thường cố trêu chọc tôi, từ một khoảng cách an toàn, bằng cách la lớn, “Hare Krishna! Ê! Hare Krishna!” và chế giễu ngoại h́nh của tôi. Tôi nhanh chóng phát hiện ra người đàn ông đang la lớn “Hare Krishna!” và dự định quở trách anh ta v́ công khai xúc phạm một tu sĩ Phật giáo.

Với mẹ tôi đang ở sau lưng, tôi nói với người đang ông mặc quần jeans, áo khoác, và một cái mũ chỏm, “Hăy nh́n đây anh bạn, tôi là một tu sĩ Phật giáo, chứ không phải là một tín đồ “Hare Krishna”. Anh bạn nên biết cho rơ. Anh cứ trêu chọc tôi là “Hare Krishna” là không được đâu.”

Chàng thanh niên mỉm cười và nhấc chiếc mũ chỏm ra, để lộ một mái tóc dài cột đuôi ngựa ở phía sau chứ không phải là một cái đầu trọc. “Vâng, tôi biết!” anh ta nói, “Ông là một tu sĩ Phật giáo. Tôi là một Hare Krishna. Hare Krishna! Hare Krishna!”
Rốt cuộc anh ta không phải chế nhạo tôi, mà chỉ đang đọc thần chú Hare Krishna của anh ta. Tôi rất xấu hổ. Tại sao việc này lại xảy ra lúc có mặt mẹ cơ chứ?

 



Cái búa

Chúng ta thỉnh thoảng đều phạm sai lầm. Sống chính là học cách để ít phạm sai lầm hơn. Để thực hiện mục tiêu này, chúng tôi đề ra chủ trương cho phép tu sĩ phạm sai lầm. Khi các thầy không sợ mắc lỗi, họ ít phạm lỗi hơn.

Một hôm, trong khi đi rảo quanh tu viện, tôi thấy một cái búa nằm lẫn trong cỏ. Chắc chắn nó đă bị bỏ quên ở đó đă lâu, v́ nó đă bắt đầu gỉ sét. Tôi rất là thất vọng về sự bất cẩn của các bạn đồng liêu của ḿnh. Tất cả mọi thứ mà chúng tôi sử dụng trong tu viện, từ y áo cho đến dụng cụ, đều do sự cúng dường của những cư sĩ phải làm việc vất vả. Một cư sĩ nghèo mà có ḷng phải mất nhiều tuần dành dụm mới mua được cái búa đó cho chúng tôi. V́ vậy, tôi triệu tập một buổi họp các thầy trong tu viện.

Thường thường người ta nói rằng tính của tôi mềm mỏng giống như kẹo bông (n.d. kẹo làm bằng đường kéo sợi thành h́nh dạng một cuộn chỉ trắng), nhưng tôi hôm đó tôi gay gắt giống như ớt ja-la-pe-nhô. Tôi quở trách các bạn đồng viện rất dữ dội. Họ cần được dạy một bài học và học cách giữ ǵn những đồ đạc ít ỏi mà chúng tôi có được. Khi tôi nói xong bài diễn thuyết, tất cả các thầy đều ngồi lưng thẳng băng, mặt mày tái mét và trầm lặng. Tôi chờ một lúc, nghĩ rằng sẽ có ai đó thú tội, nhưng không có ai nói năng ǵ cả. Tất cả đều ngồi đơ ra, im lặng, và chờ đợi.

Tôi cảm thấy rất thất vọng về các bạn đồng viện khi đứng dậy bước ra khỏi pḥng họp. Tôi nghĩ, ít ra, người chịu trách nhiệm về việc để búa trong cỏ phải có can đảm thú nhận và xin lỗi chứ. Hay là lời quở trách của tôi gay gắt quá chăng?

Ngay khi tôi bước ra khỏi pḥng họp tôi nhận ra được tại sao không có thầy nào nhận lỗi. Tôi quay lại và đi vào pḥng họp.

“Thưa đại chúng,” tôi nói, “Tôi đă t́m ra người để quên cái búa trong cỏ. Người đó chính là tôi.”

Tôi đă quên bẵng là chính tôi đă làm việc ngoài vườn, và trong lúc vội vàng, đă quên cất cái búa. Thậm chí ngay trong lúc phát biểu quá sôi nổi, tôi không nhớ ra. Chỉ sau khi trách móc mọi người xong tôi mới sực nhớ chính tôi đă làm việc ấy. Thật là đáng xấu hổ.

May mắn thay, trong tu viện của chúng tôi, mọi người đều được phép mắc sai lầm – ngay cả viện chủ.



Thưởng thức một tṛ đùa cợt mà không có ai bị tổn thương

Khi bạn buông bỏ cái tôi, th́ không ai có thể vô lễ với bạn nữa. Nếu ai gọi bạn là một thằng ngốc, th́ lư do để bạn bực ḿnh chỉ có thể là bạn tin rằng có lẽ người ta nói đúng!

Cách đây một vài năm, một hôm tôi đang đi trên xe trên một đường cao tốc có nhiều làn xe ở Perth, th́ một nhóm thanh niên đi trên một chiếc xe cũ nh́n thấy tôi và bắt đầu trêu chọc bằng cách gọi qua cửa sổ: “Ê! Đầu hói! Ôi! Đầu trọc!”

V́ họ chọc tức tôi cho nên tôi quay cửa kính xuống và la lên, “Đi hớt tóc đi! Bọn con gái!” Có lẽ tôi không nên làm như thế. Nó có thể khiến bọn họ làm tới.

Bọn thanh niên quậy phá lái xe chạy song song với xe tôi, lấy ra một tờ tạp chí, và la hét chỉ chỏ om ṣm, muốn tôi nh́n vào những bức ảnh trong tờ tạp chỉ đó. Đó là một tờ Playboy.

Tôi cười phá lên trước màn trêu chọc thô lỗ đó. Khi tôi c̣n trẻ và đi chơi với chúng bạn, có lẽ tôi cũng làm như thế. Sau khi thấy tôi cười, bọn họ lái xe bỏ đi. Cười trước sự trêu chọc hay hơn là làm bộ nghiêm trang thẹn thùng.

Và tôi có nh́n những bức ảnh trên tờ Playboy không? Dĩ nhiên là không. Tôi là một tu sĩ biết giữ giới luật mà. Vậy làm sao tôi biết đó là tờ Playboy? Bởi v́ người lái xe nói cho tôi biết. Đó là kinh nghiệm mà tôi vẫn ghi nhớ.


 


Đồ ngu

Khi có người mắng bạn là đồ ngu. Bạn bắt đầu suy nghĩ “Làm sao mà hắn có thể mắng ḿnh là đồ ngu được? Hắn đâu có quyền mắng ḿnh là đồ ngu! Mắng người ta là đồ ngu như thế thật là thô lỗ! Ḿnh sẽ trả đũa lại hắn v́ hắn mắng ḿnh là đồ ngu.” Và bạn chợt nhận ra rằng bạn đă cho phép người khác mắng ḿnh là đồ ngu tới bốn lần.

Mỗi lần bạn nhớ những ǵ người ta nói, bạn lại cho phép người ta mắng bạn lần nữa. Vấn đề là ở đó.

Nếu ai mắng bạn là đồ ngu và bạn buông bỏ ngay lập tức th́ nó không c̣n làm cho bạn bực ḿnh nữa. Đó là giải pháp.

Tại sao lại để cho người khác điều khiển hạnh phúc bên trong của ḿnh?


 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân trần

art2all.net