Trần Ngọc Bảo

 

 

 

 DU KHẢO PHƯƠNG BẮC (11)

 


HẢI DƯƠNG

Côn Sơn – đền thờ Nguyễn Trăi

Từ cửa tam quan chùa Côn Sơn ở chân núi có đường rẽ phải sang cổng đền thờ Nguyễn Trăi. Nhưng chúng tôi đang ở trên đỉnh núi Côn Sơn cho nên đi xuống núi theo con đường cũ một đoạn khoảng 100m th́ rẽ trái để sang núi Ngũ Nhạc thăm nền nhà cũ của cụ Nguyễn.

 



Ngoài thông, ven theo đường núi c̣n có một số cây rừng khác, nhưng không thấy cây cổ thụ nào. Có lẽ đây là rừng mới được phục hồi.

 



Nhà bia ghi tại đây là nền nhà cũ của Nguyễn Trăi. Sau hơn 600 năm mà người ta vẫn t́m ra nhà cũ của cụ nằm đâu, tài thật!
Nguyễn Trăi (1380-1442) quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc thị xă Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, con gái của quan Tư Đồ triều Trần là Trần Nguyên Đán.

Nguyễn Phi Khanh thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) triều Trần, nhưng không được bổ làm quan (lư do, theo một số nhà sử học, là dân thường mà lấy vợ thuộc hàng quí tộc – tội “phạm thượng”!). Khi bà Trần Thị Thái mất, do Nguyễn Phi Khanh c̣n nghèo túng,Trần Nguyên Đán đem các cháu ngoại về Côn Sơn nuôi nấng, nhưng vị lăo thần cũng mất vào năm 1390.

Năm 1400 Hồ Quí Ly tiếm ngôi nhà Trần và mở khoa thi. Nguyễn Trăi thi đỗ Thái học sinh. Hai cha con cùng được bổ làm quan trong triều đ́nh nhà Hồ. Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước Đại Ngu (quốc hiệu do Hồ Quí Ly đặt), quân Minh bắt ba cha con Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng và một số quan lại giải qua Trung Hoa, trong đó có Nguyễn Phi Khanh.

Năm 1418 Lê Lợi khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn, Thanh Hóa, Nguyễn Trăi t́m về pḥ tá. Ông dâng cho Lê Lợi B́nh Ngô Sách, là chiến lược của nghĩa quân và trở thành vị quân sư cho cuộc kháng chiến cho đến khi thắng lợi năm 1428. Ông trở thành vị quan đầu triều, với chức vụ Nhập Nội Hành Khiển.

Lê Thái Tổ giao cho ông soạn B́nh Ngô Đại Cáo để thông báo cho toàn dân thắng lợi của “đại nghĩa thắng hung tàn” và bài văn này được lưu truyền trong sử sách như một áng “hùng văn”, giống như Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo.

Dưới thờ Lê Thái Tổ đă xảy ra các vụ án giết hại công thần như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hăn. và Nguyễn Trăi cũng bị liên lụy. Ông bị thất sủng. Trải qua danh vọng, quyền quí cao sang và chứng kiến những cơn sóng gió ở chốn quan trường ông không t́m thấy niềm vui thật sự, mà chỉ mong được trở về với non nước Côn Sơn. Tâm sự này được phản ánh trong bài thơ Côn Sơn Ca (trong Ức Trai Thi Tập):

“Vấn quân hồ bất qui khứ lai, bán sinh trần thổ trường giao cốc, Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên, ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc”.


Dịch :
“Hỏi anh sao chẳng về thôi?
Bám đeo đất bụi nửa đời buộc giăng?
Muôn chung, chín đỉnh nào cần!
Phận tùy nước uống, rau ăn đủ liều…”


Hay bài Thu nhật ngẫu thành:
“… Kính trung bạch phát giai nhân lăo,Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao. Miến tưởng cố viên tam kính cúc, Mộng hồn dạ dạ thượng quy đao”.

Dịch:
“… Soi gương tóc bạc già sao!
Ngoài thân danh hăo biết bao mệt nhoài.
Vườn xưa luống cúc nhớ hoài,
Đêm đêm thuyền mộng miệt mài về quê.”


Năm 1437, ông xin về trí sĩ ở Côn Sơn vào lứa tuổi 60. An nhàn chẳng được bao lâu, năm 1439, vua Lê Thái Tông lại triệu ông ra tham chính. Bi thảm thay, năm 1442, toàn thể gia đ́nh Nguyễn Trăi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên.

Lúc ấy, vua Lê Thái Tông đi tuần thú phía đông, duyệt binh ở Chí Linh, được Nguyễn Trăi đón về Côn Sơn thăm chùa cổ. Sau đó, trên đường trở lại kinh đô, vua gọi người thiếp của ông là Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Bà vốn là người đẹp và hay chữ, cũng từng được mời vào cung giữ chức Lễ Nghi Học Sĩ, dạy cho cung nữ và hầu chuyện với vua. Trong đêm nghỉ tại Lệ Chi Viên (nay thuộc thôn Đại Lai, xă Đại Lai, huyện Gia B́nh, tỉnh Bắc Ninh) th́ vua băng hà. Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trăi bị triều đ́nh qui tội giết vua. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.


Đền thờ Trần Nguyên Đán (1325-1390). Ông là tôn thất nhà Trần, hậu duệ của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, làm quan Tư Đồ (chức quan cao nhất) dưới thời các vua Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và Trần Phế Đế, ông ngoại của Nguyễn Trăi.

Năm 1385, Trần Nguyên Đán về trí sĩ tại thái ấp của ḿnh ở vùng núi Côn sơn –Ngũ Nhạc, và nuôi dạy Nguyễn Trăi một thời gian tại đây.
 


Đền Thanh Hư, đền thờ Trần Nguyên Đán.

Thuở trước, nơi ở của ông được gọi là Thanh Hư Động. Vua Trần Nghệ Tông thỉnh thoảng về thăm và đàm đạo với ông. Về phương diện văn chương, ông để lại cho đời tập thơ Băng Hồ 10 quyển, nay chỉ c̣n 51 bài trong Toàn Việt Thi Lục.

Thanh Hư Động được Nguyễn Trăi nhắc đến trong bài thơ Giấc Mộng Trong Núi:

“Thanh Hư động trúc hàng ngàn,
Ào ào thác đổ lạnh màn gương soi.
Sáng trăng trời nước đêm rồi,
Hạc vàng mơ cưỡi lên nơi cơi Bồng.”




Cổng đền Thanh Hư
 


Núi rừng Ngũ Nhạc, nh́n từ bên dưới cổng đền Thanh Hư
 


Đ́nh ngắm cảnh bên phải cây cầu bắc qua suối. Phía đối ngạn cũng có một ngôi đ́nh tương tự.



Cầu bắc qua suối Côn Sơn, là con suối chảy giữa hai ngọn núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc. Nhưng nước hôm nay không c̣n chảy róc rách như vào thời xưa. Có lẽ rừng đầu nguồn bị chặt phá hết rồi. Nếu không dùng đá ngăn ở đây th́ có lẽ dưới cầu cũng không có nước.

Mặc dù chưa đầy 4 giờ, bầu trời đă bắt đầu tối, thế cho nên chúng tôi không cố công đi t́m cho ra phiến đá to, nơi Nguyễn Trăi từng nằm ngủ:

Bao giờ dưới núi mây về ở,
Nước suối ,chè xanh, ngủ thạch bàn.



Đền thờ Nguyễn Trăi.



Sân đền Nguyễn Trăi, nh́n từ trên xuống.
 



Bàn thờ
 


Tượng Nguyễn Trăi, phía sau bàn thờ.

Quốc Sử Quán triều Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng và Tự Đức đă sưu tập và khảo chính các văn thơ c̣n lại của Nguyễn Trăi (thất lạc khá nhiều sau vụ án) tập họp thành bộ ỨC TRAI DI TẬP và cho khắc in vào năm 1868.

1) Về Hán Văn : gồm các tác phẩm chính c̣n lại:

a- Ức Trai Thi Tập: gồm hơn 105 bài thơ thất ngôn hoặc ngũ ngôn.

b- Văn loại: gồm các bài viết quan trọng như B́nh Ngô Đại Cáo (1427), Lam Sơn Vĩnh Lăng Thần Đạo Bi Kư (1433), Băng Hồ Di Sự Lục (Băng Hồ là tên hiệu của Trần Nguyên Đán), Chí Linh Sơn Phú, Lam Sơn Thực Lục.

c- Quân Trung Từ Mệnh Tập: gồm các thư gởi cho tướng nhà Minh và các bài hịch tướng sĩ. Đó là một tài liệu quan trọng về mặt ngoại giao, chính trị, quân sự đời hậu Lê.

d- Địa Dư Chí : là bài văn khảo sát về địa dư nước ta dâng lên Lê Thái Tông năm 1435.

2) Về văn Nôm: Quốc Âm Thi Tập được xem là tập thơ chữ Nôm phong phú nhất sau các bài thơ của các tiền bối đời nhà Trần.

 



Nhà bia


Tam quan phía trước đền.

 



Đằng xa là trụ biểu, báo hiệu nơi tôn nghiêm.
Ra về nhưng chúng tôi vẫn nhớ những bài học về của cuộc đời mà thi hào Nguyễn Trăi đă nhắc đến trong bài Côn Sơn Ca :


“… Thấy chăng: Đổng Trác vàng nhiều,
Tám trăm Nguyên tải hồ tiêu hộc tràn.
Bá Di, họ Thúc thấy chăng?
Thủ Dương chết đói chẳng ăn gạo rồi!

Hiền, ngu: hai kẻ đôi nơi,
Đều t́m ham muốn riêng người ḿnh thôi.
Trong ṿng trăm tuổi con người,
Rốt cùng cũng giống như đời cỏ cây.

Vui, buồn, lo, sướng đổi thay?
Vẻ vang, tàn tạ quay về nối nhau.
Thế rồi g̣ núi, nhà cao,
Ai vinh, ai nhục mai sau qua đời?…”


Nh́n núi, nh́n trời, chúng ta ắt cảm thông sâu sắc với bài Đứng Ngắm Cảnh Chiều của thi nhân:

“Bao la trời nước mênh mông,
Lá thu vàng rụng, núi sông cuối mùa.
Thèm đôi chim trắng bên hoa,
Cơi người phiền lụy chẳng qua băi này”


Con người dù là giàu sang, tài trí, tiếng tăm, hay tầm thường, hèn kém đều trải qua sướng khổ, buồn,vui và kết thúc bằng một nấm cỏ xanh. Nhưng đoạn cuối của cuộc đời của một nhân tài kiệt xuất, một danh nhân có công lớn với đất nước như Nguyễn Trăi không thể không làm cho du khách viếng Côn Sơn cảm thấy xót xa trong ḷng.

Trần Ngọc Bảo

 

(Ghi chú: Những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trăi trích dẫn trên do Dương Anh Sơn chuyển ngữ thành thể lục bát, nhà xuất bản Văn Hóa Sài G̣n ấn hành năm 2006.)
 

Xem tiếp Du  Khảo Phương Bắc (12)

 

 

 

art2all.net