Trương văn Thanh & Trần Ngọc Bảo

 

PHẦN 1


Để hoàn chỉnh bộ ảnh về sông Hương, lăo Trương Kongkong thuê đ̣ đi ngược ḍng từ bến thuyền du lịch, đằng sau khách sạn số 5 Lê Lợi,  đi đến tận ngă ba Bằng Lẵng.

 


 

Công viên bờ sông Trần Hưng Đạo. Vườn hoa trải dài từ cầu Trường Tiền đến cầu Dă Viên. Một bạn từ phương xa lần đầu đến Huế nh́n vườn hoa này đă thốt lên, "Ồ, Huế rất xanh!"

 

Xa xa là Nghinh Lương Đ́nh và một chiếc thuyền cổ phục chế." Nghinh Lương" là đón gió mát từ sông Hương. Đây cũng là bến cho các thuyền ngự - thuyền vua và các bà phi tần. Và những con thuyền có hai tầng gọi là"lâu thuyền".
 

Cầu Dă Viên mới (chưa đặt tên chính thức và đang trong giai đoạn hoàn thiện, dự kiến khánh thành trong tháng 9, 2012). Cầu có các nhà thủy tạ để khách du ngắm cảnh núi sông.
 


Cồn Dă Viên là một trong những yếu tố phong thủy quan trọng khi vua Gia Long chọn địa điểm xây dựng kinh đô. Cồn Dă Viên đóng vai tṛ"hữu bạch hổ" trong khi cồn Hến đóng vai tṛ "tả thanh long" tượng trưng cho quần thần, dân chúng pḥ trợ cho triều đ́nh. Trước đây trên cồn có vườn ngự, với đ́nh, tạ, miếu, v.v. Ngày nay vườn xưa không c̣n dấu vết nhưng c̣n đó bài thơ Dữ Dă Viên kư của vua Tự Đức, ca ngợi thú điền viên.

Năm 1908 cây cầu bắc qua đây được đặt tên là cầu Dă Viên, nhưng dân gian th́ căn cứ trên thuật phong thủy, gọi là cầu Bạch Hổ, mặc dầu tên Bạch Hổ được đặt cho cây cầu gần đó, bắc qua sông đào Kẻ Vạn, mà ngày nay được gọi là cầu Kim Long. Năm 1909 một nhà máy nước với tháp nước được xây dựng trên cồn Dă Viên.
Có điều lạ là đoạn cầu phía bên phải tháp nước, thông ra quốc lộ 1 có biển ghi là cầu Bạch Hổ. C̣n phần cầu bên trái tháp nước đổ xuống đường Bùi Thị Xuân th́ một biển khác ghi là cầu Giă Viên!
 

Cầu Kim Long bắc qua sông Kẻ Vạn, tức là Tây Hộ Thành Hà
 

Kim Long, nơi có Đại Chủng Viện Huế, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đan viện Carmel Huế, v.v.
 

 

Chùa Thiên Mụ là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, được xây vào năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng. Chùa nằm trên đồi Hà Khê, trên bờ bắc sông Hương. Tháp Phước Duyên 7 tầng, 21m, được xây vào năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị. Chùa c̣n có các công tŕnh như điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm xây song song theo h́nh chữ NHẤT. Về sau các công tŕnh trong đại nội như cửa Ngọ Môn, điện Thái Ḥa cũng xây cùng một hướng với cá công tŕnh chùa Thiên Mụ.
Chùa được vua Thiệu Trị làm thơ ca tụng là một trong 20 thắng cảnh của đất kinh kỳ. Ngày nay tháp Phước Duyên được xem là biểu tượng của xứ Huế.
 

 

Ít người biết đây là dấu tích c̣n lại của  Vơ Thánh Miếu ở làng An Ninh Thượng, phía bắc của chùa Thiên Mụ, do vua Minh Mạng xây dựng năm 1835 để thờ các danh tướng như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Văn Trương. Ngoài ra c̣n thờ các danh tướng của Trung Quốc như Quản Trọng, Trương Lương, Hàn Tín, Khổng Minh, Quách Tử Nghi. Miếu bao gồm Chính Điện, hai nhà Tả Vu và Hữu Vu.
Năm 1836 vua cho dựng 3 tấm bia vơ công, ghi chức tước, hành trạng của 10 vơ tướng dưới triều  Gia Long và Minh Mạng như Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, v.v. Sau đó, vua Tự Đức cho dựng 2 tấm bia khắc tên những người đậu tiến sĩ vơ các khoa thi năm 1865, 1868 và 1869.

Văn Thánh Miếu, gọi tắt là Văn Thánh, được xây trước Vơ Thánh Miếu, cũng tại thôn An B́nh, làng An Ninh Thượng, vào năm 1808, dưới thời vua Gia Long để thờ Khổng Tử và các học tṛ là những bậc thánh hiền của Nho giáo.
 


Linh Tinh Môn là phường môn hay cổng chào ở trước mặt Văn Thánh Miếu.
Đây là một công tŕnh vừa được tôn tạo vào năm 2011, với nghệ thuật pháp lam độc đáo được phục hồi. Có hai câu đối, một mặt ghi Đạo Tại Lưỡng Gian và mặt kia ghi Trác Việt Thiên Cổ, ca tụng đạo Nho.
 

Văn Miếu Môn, cổng vào Văn Miếu
 

Đại Thành Môn, cổng vào Đại Thành Điện là điện thờ nhưng ngày nay không c̣n.
 

Hai dăy bia tiến sĩ, tổng cọng có 32 bia ghi tên 293 vị đỗ tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng cho đến năm 1919 dưới thời vua Khải Định.
 

Linh Tinh Môn, Văn Miếu Môn và Đại thành Môn nh́n từ sông Hương
 

Đối diện với Văn Thánh là khu resort đang xây dựng ở làng Nguyệt Biều, thuộc phường Thủy Biều
 

Khu nhà ở ven sông từ Văn Thánh lên cầu Long Hồ
 

Cầu Xước Dũ vừa được trùng tu và đặt tên là cầu Long Hồ.

Đây là cửa sông Bạch Yến, một nhánh của sông Hương. Sông này xưa kia băng ngang khu vực hiện nay là kinh thành. Nhưng khi xây kinh thành người ta đă nắn ḍng cho sông Bạch Yến gặp con sông đào Bắc Hộ Thành Hà ở tại cầu An Ḥa. Đoạn sông trong thành trở thành các hồ như hồ Tịnh Tâm, hồ Học Hải, v.v.
 

Các băi bồi dọc theo con sông nuôi dưỡng rất nhiều hoa màu như bắp, dừa, và các cây ăn trái.
 

Vườn thanh trà, đặc sản của làng Nguyệt Biều, Lương Quán, nay thuộc phường Thủy Biều
 

Lác đác ven bờ là những bến nước, vẫn c̣n được sử dụng để giặt áo, tắm rửa
 

Trên sông ít thấy đ̣ của dân làm nghề cá mà rất nhiều đ̣ của dân làm cát sạn.
 

Người ta không lặn xuống đáy sông để múc cát sạn như ngày xưa, mà người ta dùng bơm hút các dưới ḷng sông, rồi chuyển qua một băng tải đưa lên bờ.
 

Người ta cũng hút cát đưa ngay vào ḷng đ̣. Hoạt động này gây biến dạng ḷng sông, gây xói lở bờ và ô nhiễm môi trường.
 

Hầu hết các vạn đ̣ trên sông bị buộc phải lên bờ tái định cư. Những đ̣ dùng để ở trước đây được chuyển đổi thành thuyền du lịch, thuyền rồng,  chuyên chở du khách.
 

Đây là chiếc "bằng" do hai chiếc đ̣ kết lại.

Ngày xưa chỉ trong dịp lễ lớn của Tiên Thiên Thánh Giáo ở điện Ḥn Chén người ta mới kết đ̣ lại để đặt bàn thờ cúng bà (Thánh Mẫu Thiên Y A Na), thường là chở bà đi du ngoạn vào mùa xuân. Ngày nay bằng cũng dùng để chở khách du lịch và là nơi biểu diễn ca Huế, hoặc tŕnh diễn các tṛ chơi xưa như chơi "thả thơ", hoặc chở các nhóm Phật tử đi phóng sinh, phóng đăng.
Phía bên trên là đồi Vọng Cảnh.
 

Một loại thuyền du lịch không phải thuyền rồng
 

Phút thư giăn, tâm sự của những người sinh sống trên sông nước.
 


Xem tiếp phần 2

 

 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân Trần

art2all.net