PHẦN IV
Rời nhà thờ họ Lê Quang,
nhóm lãng du trở ra tỉnh lộ 6 đi về hướng đông nam, gần đến Ngã Ba
Xã (gần trụ sở Ủy Ban Nhân Dân xã Phong Chương. Sau đó, rẽ trái vào
thôn Trung Thạnh. Chúng tôi nhận ra đền thờ Trung Hiếu nhờ các trụ
biểu và bên trong có một đài kỷ niệm, có lẽ mới xây, nhưng trong
khuôn viên có tới hai đền thờ. Một nằm ngay trước đài kỷ niệm, một
xa hơn, nhưng kiến trúc kiểu xưa hơn, mặc dầu có dấu vết trùng tu
cũng rất mới.
Tuy nhiên, một điều lạ, cũng như lăng mộ, đền thờ không có biển
hướng dẫn khách tham quan; ngoài ra, cổng vào bị chặn bởi một hàng
rào gỗ và cột bằng dây sắt. Tần ngần một chốc anh lái xe leo vào và
tháo dây, kéo hàng rào vào trong một chút cho mọi người bước vào.

Cổng gỗ đóng và bị cột bằng dây sắt. Bên trong là
đền thờ xây theo kiến trúc xưa, có bình phong.

Quang cảnh từ trong đền thờ nhìn ra. Cửa đền đóng
kín.

Đài Kỷ Niệm ba vị anh hùng.

Không vào bên trong điện thờ được, khách hành
hương đành tưởng niệm tiền nhân trong lòng.
Dũng Silk phát hiện một nhà vệ sinh mới xây, lon
ton chạy tới, nhưng rồi chạy lui vì cửa cũng bị khóa.
Đi loanh quanh một chút rồi du khách đành bái
biệt.
Khi lùi xe để trở đầu thì một sự cố nhỏ xảy ra:
một bánh sau bị sụp hố ngay trước đền.

Cả bọn loay hoay tìm gạch, đá kê bánh để kích lên.
May sao, khi trùng tu đền người ta bỏ lại mấy thanh gỗ và vài tảng
bê tông. Khoảng 20 phút sau thì xe leo lên khỏi mương nước, tiếp tục
cuộc hành trình.
Chúng tôi đi về Ngã Ba Xã, rẽ trái sang hướng Ngũ Điền, đi ngang qua
chợ Phong Chương. Sau khi đi qua cầu Hòa Xuân (vượt qua sông Ô Lâu)
một đoạn chúng tôi lại rẽ trái, đi ngược ra hướng tây bắc để thăm
làng Kế Môn. Sở dĩ nhóm ghé qua Kế Môn là vì Đặng Hữu Hùng, khóa 7,
thường hay nhắc đến với lòng tha thiết và tự hào, thứ đến, đây là
quê hương của danh sĩ Nguyễn Lộ Trạch, người đã dâng cho vua Tự Đức
những bản điều trần cách tân đất nước (giống như Nguyễn Trường Tộ);
đây cũng là quê hương của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Oai, người được ghi
tên trên bia đá ở Văn Miếu (1843), làm quan đến chức Thượng Thư bộ
Hình, và đặc biệt là quê của ông tổ nghề kim hoàn : hai cha con ông
Cao Đình Độ và Cao Đình Hương.
Thật ra quê ông Cao Đình Độ là làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh
Thanh Hóa. Cuối đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, năm 1783, ông di cư
vào Phú Xuân, nhưng trên đường đi, ngang đập Cửa Lát trên phá Tam
Giang, ông gặp sóng to gió lớn nên lui về tạm trú ở một mảnh đất
trống làng Kế Môn. Ông được dân làng giúp đỡ cho nên quyết định định
cư lâu dài và truyền nghề làm kim hoàn cho dân làng. Ông được cả nhà
Tây Sơn lẫn nhà Nguyễn mời về Phú Xuân sung vào đội Ngân tượng phục
vụ triều đình. Hai cha con đã dạy nghề cho rất nhiều người trong và
ngoài làng Kế Môn. Hiện nay ở các thành phố lớn như Huế, Đà Nẳng,
Sài Gòn, và thậm chí ở California, Texas (Hoa Ky) đều có tiệm vàng
của người Kế Môn. Nhà thờ tổ kim hoàn ở đường Chùa Ông được xếp loại
di tích văn hóa. Đặc biệt, người quê Kế Môn sống xa xứ đóng góp rất
nhiều cho việc xây dựng quê hương như xây đắp đường sá, cầu cống,
thư viện làng, đình chùa, miếu vũ.

Làng Kế Môn trải dài theo hướng tây bắc - đông
nam. Phía tây bắc giáp làng Vĩnh Xương cùng thuộc xã Điền Môn và
phía đông nam giáp làng Đại Lộc (hay Đại Lược). Đoạn quốc lộ 49B
chạy qua làng Kế Môn, xã Điền Môn, huyện Phong Điền, dài khoảng 2,4
km. Con đường này dân làng gọi là "đường quan". Nhìn qua đám ruộng
có thể thấy một con đường khác chạy song song, ven đường là những
ngôi nhà khang trang. Đường ấy người địa phương gọi là "đường ngang".
Gần biển có một đường song song nữa, gọi là "đường rú", hay "đường
cấy", ngăn cách làng với đụn cát ven biển. Ngoài ra có nhiều đường
xóm thẳng góc với cả ba con đường này. Con sông Ô Lâu chạy dọc theo
ranh giới phía Nam của làng, cho nên ở đây đồng ruộng tươi tốt. Cánh
đồng từ đường quan ra đến sông Ô Lâu mới được gọi là "ruộng", còn
cánh đồng từ đường quan đến đường ngang (trong hình) được gọi là "trưa".
Tuy nhiên, diện tích đồng ruộng không nhiều vì đụn cát trắng mà làng
chia sẻ với những làng khác ven biển có chiều rộng khoảng 1 km chạy
dài đến cửa Thuận An.
Trên độn có rừng cây thấp, và cây bụi gọi là "rú". Dân làng cũng
trồng thêm phi lao và keo tai tượng để chắn gió. Đây cũng là vùng
đất xây lăng mộ. Nhưng nếu người dân nói "đi độn" thì có nghĩa là
lên đó để "bỏ thư" (người ở gần sông thì "đi sông", gần đồng ruộng
thì "đi đồng"). Người ở đây gọi sông là "rào". Do đó ăn hột mít thì
sau đó thường chạy lên độn hoặc chạy xuống rào, như trong bài hò mà
Dũng Silk thích hát nghêu ngao: "Ăn hột mít địt tầm phào, ra ngoài
rào địt cái ộn, vô trong độn địt cái rầm, . . ."

Đình làng Kế Môn.

Miếu thờ trước đình trông giống như chùa Một Cột
ở Hà Nội.

Nhà lưu niệm tổ nghề kim hoàn.
Trên đường về xe đi qua các xã Điền Lộc, Điền Hòa,
Điền Hải, thuộc huyện Phong Điền, và khi sang xã Quảng Ngạn, thuộc
huyện Quảng Điền thì nhớ lại lúc làm ký sự "Rong chơi Quảng Điền" có
đoạn mô tả bến đò Cồn Tộc- Vĩnh Tu, Dũng Silk có hỏi khi nào đi sang
Vĩnh Tu xem bên ấy có chi, cho nên lão Trần đề nghị dừng lại nơi đây
để xem "có chi không".

Bến đò Vĩnh Tu. Khách có thể đưa xe máy lên đò.

Hai nữ du khách ra ngắm bến đò vượt phá Tam Giang.

Thấy có một chiếc võng trên bến, lão Trần nằm ngả
lưng một chút thì giật mình vì có người ném tiền vào ngực. Hóa ra
khách qua đò, "tự động" trả tiền đò bằng cách ấy. Vậy thì đây là
võng của "ông cai bến đò". Xếp tiền vào dưới một cục đá, lão Trần
đứng dậy vì đụng tới tiền và tình có thể nảy sinh nhiều rắc rối!
Không rõ Dũng Silk có thấy ở đây "có chi không". Lão Trần thì thấy ở
đâu cũng có những con người vất vả làm việc để mưu sinh, ai cũng
mang trong lòng những nỗi buồn dai dẳng và niềm vui chóng qua. Nhà
cửa, ngựa xe có thể khác nhau, nhưng ở đâu cũng có trời, đất, sông,
biển, núi, đồi, cây cối gần như nhau.
Xe đi qua xã Quảng Công của huyện Quảng Điền rồi đến Hải Dương của
huyện Hương Trà, băng qua cầu Tam Giang, mà dân gian gọi là cầu Ca
Cút.

Cầu Tam Giang (vượt qua phá Tam Giang) từ xã Hải
Dương sang xã Hương Phong.

Phá Tam Giang từ trên cầu nhìn xuống. Một vùng
trời nước mênh mang. Tấm lòng đối với quê hương và con người cũng mở
rộng mênh mang.
Xe tiếp tục đi qua cầu- đập Thảo Long (cuối dòng
sông Hương), gần cửa biển Thuận An, rồi qua một cầu ngắn không tên
bắc qua sông Phổ Lợi (biển ghi cầu 0km 148, 73), rẽ phải rồi trở về
trên đường từ cửa Thuận lên phố.
Cuộc lữ nào cũng đến hồi kết thúc. Cuộc chia tay có ít nhiều lưu
luyến vì vài hôm nữa hai cư dân Sài Gòn sẽ trở lại "mái nhà nay",
những người còn lại trở về "mái nhà xưa". Hợp rồi tan là qui luật tự
nhiên thôi.
Nhóm phiêu lãng Đồng Khánh-Kiểu Mẫu tháng 11, 2012.