|
Nguyên tác: Good Life, Good Death
Gehlek Rimpoche cùng với Gini Alhadeff và Mark Magill
Phần 1 Chúng ta là ai ?
Khi lần đầu đến nước Mỹ, tôi không dám nói về sự tái sinh v́ tôi nghĩ mọi người không thích thú hoặc không thể hiểu. Tôi ngại rằng người ta nghĩ đó là chuyện thần tiên hay chỉ là tuyên truyền tôn giáo. Nhưng đến khi tôi nói ra điều ấy th́ ngạc nhiên thay, người ta lại gật đầu đồng ư, như thử là họ chấp nhận và thích thú với ư tưởng ấy. Tôi bắt đầu tự hỏi cái ǵ làm cho họ thích thú như vậy. Tại sao người ta lại chấp nhận điều này một cách dễ dàng trong khi những người như tôi, được cho là lạt- ma tái sinh, lại suốt đời cố hiểu và thấy khó ḷng chấp nhận? Tại sao một nhóm người Mỹ lại ngồi xuống lắng nghe một con người xa lạ từ Tây Tạng đến nói về tái sinh mà lại thấy giản dị và dễ chấp nhận đến như vậy? Đó là một câu hỏi khó đối với tôi. Tôi suy nghĩ và nói chuyện với một số người. Tôi nhận ra rằng người ta bị hấp dẫn bởi đề tài này v́ chuyện tái sinh có vẻ ǵ đó “huyền bí.” Có thể người ta nghĩ rằng qua sự tái sinh người ta có thể quay lại làm con người như trước với sự hiểu biết rơ ràng kiếp trước. Tôi cho rằng đó là lư do khiến người ta chấp nhận nó mặc dầu không hiểu rơ nó như thế nào. Có lẽ do thích ư tưởng rằng người ta có thể tiếp tục tồn tại khiến cho người ta dễ dàng chấp nhận nó, ít ra là trên lư thuyết, mặc dù chưa hiểu. Vậy th́ điều căn bản là ǵ ? Theo như tôi hiểu th́ nó sẽ gây bất ngờ lớn cho mọi người. Ấy là, sự tương tục của một cá nhân là cực kỳ tế nhị. Kư ức thường thường về sau mới quay trở lại. Đời sống của một cá nhân không tương tục kiểu như thế. Việc đầu thai trở lại có thể là một cơn gió lốc ào ạt, không kiểm soát được, trong đó chúng ta bị thổi bay như một chiếc lá mùa thu mà không biết sẽ rơi về đâu. Một trong những đại đệ tử của Phật tên là Mahakatyayana, một hôm đang đi vào rừng với một nhóm tỳ kheo. Họ đến bên một cái hồ và thấy một người đàn ông, một phụ nữ, và một đứa con nhỏ đang ăn một con cá vừa bắt được. Ngoài ra c̣n có một con chó đang sủa để đ̣i ăn. Khi nh́n thấy họ, thầy Mahakatyayana ngừng lại và bỗng phá ra cười. Mọi người hỏi v́ sao. Thầy nói, “Kiếp trước, đứa bé mà người phụ nữ đang ẳm là một người bị chồng của bà này giết v́ đă hành hung bà ta. Con cá mà họ đang ăn là ông của đứa bé và con chó đang đ̣i ăn là bà của nó.”
Sự nối tiếp Chúng ta thường tự hỏi ta là ai, đến từ đâu, sẽ đi về đâu, và đến đó như thế nào. Đây chẳng phải là những câu hỏi mới mẻ ǵ. Cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm người ta đă hỏi Phật chúng ta sinh ra khi nào và ở đâu, có khi nào hết tái sinh. Câu trả lời của Phật là im lặng, v́ chỗ khởi đầu không thể chỉ ra được. Không hề có một tâm thức (consciousness) mới được sinh ra và chưa từng có tâm thức nào bị hoại diệt. Mọi thức bằng cách nào đó sẽ trỗi lên. Đấy là lư do v́ sao chúng ta tiếp tục chuyển hóa từ đời sống này sang đời sống khác, tất cả chúng ta, cùng là những chúng sinh như thế, kể từ thời vô thỉ. Đó là cơ sở cho khái niệm của đạo Phật rằng mỗi chúng sinh đă từng là mẹ của ta. Đây là một điều dễ gây tranh căi, v́ tôi không thể chứng minh một cách khoa học. Quả thật rất khó chứng minh hiện tượng tái sinh. Nhưng đó là tiền đề cơ bản của việc tái sinh: không có tâm thức mới sinh ra, mọi người đều luân hồi không ngừng từ sinh đến tử, từ sinh đến tử. Mọi tâm thức đă tồn tại sẽ tiếp tục tồn tại măi măi. Và mọi tâm thức đều có tiềm năng trở thành giác ngộ hoàn toàn, thoát khỏi mọi ràng buộc t́nh cảm cũng như các hệ lụy của nó – có được phẩm chất và hiểu biết hoàn hảo. Tâm thức thay đổi đặc điểm nhận dạng (identity) luôn luôn. Trong hầu hết trường hợp, việc xác định ai là ai hơi khó bởi v́ định dạng thay đổi rất nhiều từ cuộc đời này sang cuộc đời khác. Mọi người đều là một dạng tái sinh; đây là phát hiện của đức Phật. Trong nền văn hóa của chúng tôi, Tây Tạng trước khi bị cọng sản xâm chiếm, đă phát triển phương pháp để nhận ra một số người nào đó, được coi là những vị lạt-ma tái sinh; các vị này trở lại v́ một mục đích cụ thể nào đó. Họ được gọi là tulku – “tul” có nghĩa là biểu hiện và “ku” nghĩa là dạng. Các tulku được cho là đặc biệt ở chỗ họ không có các t́nh cảm bất thiện và có thể giúp người khác đạt đến giải thoát. Những tulkus, hay những vị tái sinh được nhận dạng, bắt đầu với Karmapa, chừng năm thế kỷ sau khi đạo Phật được truyền vào Tây Tạng. Từ ấy cho tới lượt tái sinh lần thứ 16 của Karmapa, người đă viên tịch vào đầu thập niên 1980, mỗi vị tái sinh đều để lại những bức thư dặn ḍ ai sẽ là vị tái sinh tiếp theo. Sau Karmapa các hậu thân của đức Đạt-lai Lạt-ma, Ban-thiền Lạt-ma, và hàng ngàn người khác cũng đă được nhận dạng. Và trong một số trường hợp, nhiều thân tái sinh của cùng một tulku cũng được phát hiện. Ở các bậc giác ngộ, khả năng biểu hiện là vô hạn. Đối với các vị lạt-ma có tŕnh độ cao, kiếp trước và kiếp sau b́nh thường như ngày hôm qua và ngày mai. Đôi khi họ nói chuyện với nhau về kiếp sống trong tương lai như đang lập kế hoạch cho ngày hôm sau. Tôi có lần nghe chuyện về một vị lạt-ma có cái mũi lớn mắc bệnh Parkinson. Một hôm, đức Đạt-lai Lạt-ma thứ mười bốn, để ư rằng vị lạt-ma kia bị run rẩy rất nhiều cho nên ngài nói, “ Tôi sẽ không nói chuyện với thầy về những điều b́nh thường, về chuyện sống lâu, và tiếp tục giúp đỡ chúng sinh, nhưng đến khi nào tôi gặp một cậu bé nói với tôi rằng ‘Tôi là người có lỗ mũi to đây,’ th́ tôi sẽ lấy làm vui mà nhận ra đó là hậu thân của thầy.” Vị lạt-ma đi về nhà và tỏ ra rất hài ḷng về cuộc nói chuyện ấy, và một thời gian ngắn sau vị ấy từ trần. Có nhiều cách để nhận dạng các vị tulku. Một là dựa trên việc tự khẳng định, đó là trường hợp vị tulku tự thổ lộ thân phận từ lúc c̣n nhỏ tuổi. Ngay khi đức Đạt-lai Lạt-ma thứ hai sinh ra vào thế kỷ thứ mười sáu, ngài đă mở đôi mắt to tṛn hướng về Tashi Lumpo, tu viện của vị Đạt-lai Lạt-ma thứ nhất, và bắt đầu cầu nguyện. Người đọc những câu chú ngay khi vừa biết nói, và vào lúc lên ba, một hôm bị mẹ ngài la mắng, ngài hát lên một bài cho mẹ nghe, nói rằng, “Con sẽ không ở đây đâu: Con có một ngôi nhà đẹp đẽ hơn với rất nhiều pḥng ở Tashi Lumpo.” Bà mẹ ṭ ṃ hỏi, “ Vậy th́ con từ đâu đến thế?” Ngài đáp,” Khi con chết, họ dùng dây thừng cột con lại và đưa đến chỗ thiên táng. Con thấy thần hộ pháp Mahakala sáu tay mang giày sắt và mặt nạ dữ dằn. Con đi với thần và thần dẫn con đến đây.” Ngài c̣n nói tên người đă cột thân xác của ngài. Sau này, khi lên bảy tuổi ngài nhận ra ông già đă làm thị giả cho ngài ở tu viện và ngài cầu nguyện cho ông được thần tài Zambala gia hộ. Ông già đă bật khóc. Một phương pháp nhận diện các vị tái sinh khá phổ biến mà theo đó người ta đă nhận ra đức Đạt-lai Lạt-ma thứ mười bốn, đó là xem ứng viên có nhận ra đồ đạc của vị tiền thân hay không, chẳng hạn như một chuỗi hạt hay một cặp kính. Rồi thời điểm ra đời cũng là một chỉ báo v́ thường có những lời sấm truyền cho biết đúng lúc nào vị ấy sẽ tái sinh và sự kiện ấy thường rất đặc biệt v́ kèm theo một số hiện tượng siêu nhiên được nhiều người chứng kiến, chẳng hạn một cầu vồng xuất hiện trên mái nhà của cha mẹ vị ấy hoặc một đóa hoa xuân nở giữa mùa đông. Có trrường hợp một con quạ đến đậu trên lá phướn cầu nguyện, bảo vệ cho hài nhi suốt đêm ngày trong hai năm. Những giấc mộng báo trước và các linh ảnh là những hiện tượng thường xảy ra, đặc biệt là khi có nhiều người cùng nhận được thông điệp như nhau và nếu như việc lựa chọn vị tái sinh được một vị lạt-ma cao cấp có thiên nhăn xác nhận. Tôi biết những chuyện này nghe rất kỳ quặc đối với người phương Tây, nhưng đối với người Tây Tạng th́ đó là điều b́nh thường như bản tin dự báo thời tiết vậy. Một số vị tái sinh của các bậc thầy thuở trước không được sự công nhận chính thức mặc dầu nhiều người biết họ là ai. Chẳng hạn ngài Tashi Namgyal, viện chủ của một tu viện, mà tôi được công nhận là hậu thân của ngài. Nhưng trước khi được xác nhận tôi đă trải qua những cuộc kiểm tra không đơn giản. Có lúc người ta nghĩ rằng tôi là hậu thân của Ban-thiền Lạt-ma, lúc th́ cho là hậu thân của vị khác. Nhiều nhóm t́m kiếm đến nhà tôi để xem tôi có phải là đứa bé họ muốn t́m hay không. Trong khi đi t́m hậu thân của Ban-thiền Lạt ma, một đoàn người ngựa đông đảo, khoảng hai ba chục người, đă đến nhà tôi. Lúc ấy tôi mới lên ba và nhớ ḿnh choáng ngợp trước số người đông đảo ấy. Tôi thích người ta thừa nhận tôi là một vị lạt-ma cao cấp như Ban-thiền Lạt-ma, để tôi có một ghế ngồi vừa to vừa cao như cái ngai của cha tôi, người không chỉ là một vị lạt ma tái sinh , mà c̣n sinh ra trong gia đ́nh của vị Đạt-lai Lạt-ma thứ mười ba. V́ người là một vị lạt-ma được trọng vọng cho nên người ta đưa tôi vào nhiều danh sách các vị tái sinh cần qua kiểm tra. Khi Tashi Namgyal từ trần, những người ở tu viện và các thị giả đă bố thí gần hết đồ đạc của người v́ không nghĩ rằng người sẽ tái sinh. Khi được lệnh t́m kiếm họ chỉ c̣n giữ một tấm thảm nhỏ và một tủ áo quần nhỏ. Họ cố kéo dài thời gian để cho mọi chuyện đi vào quên lăng. Cha tôi th́ khi nào có dịp cũng nói rằng người không nghĩ rằng tôi là một lạt-ma tái sinh ǵ cả, tuy đôi lúc người nói tôi dường như có liên hệ đến đức Phật Quang Minh (Buddha of Light). Người nghi ngờ toàn bộ hệ thống tulku; người nghĩ rằng nó rất dễ bị người ta lợi dụng v́ mưu đồ chính trị và nó không c̣n phục vụ cho mục đích ban đầu nữa. Một vị Rimpoche danh tiếng nói rằng hậu thân của Tashi Namgyal có thể là con của một lạt-ma nổi tiếng ở Lhasa, và lời nói ấy làm người ta hướng vào tôi. Cha tôi làm mọi điều có thể để ngăn cản tiến tŕnh đó, thậm chí người c̣n nói chỉ để cho tôi ra đi với điều kiện họ ban cho tôi một chức tước cao; người hy vọng chính phủ sẽ bác bỏ lời yêu cầu đó mà không cần phải xem xét ǵ cả. Nhưng người được giao nhiệm vụ t́m kiếm người tái sinh của vị tiền thân của tôi lại trở thành quan nhiếp chính của Tây Tạng, và ông ta đă thi hành nhiệm vụ ấy một cách nghiêm túc. Trước sự kinh ngạc của cha tôi, người ta đă ban tôn tước cho tôi và công nhận khi tôi mới lên bốn tuổi. Tôi được đưa đến người giáo thọ đầu tiên của tôi ở gần một khu thiền thất, và sau đó đến tu viện Drepung lúc năm tuổi. Ở buổi lễ tiếp đón tôi ở tu viện, nơi tôi sẽ được đào tạo, thầy giáo thọ nói, “ Ta hy vọng con hoàn thành khóa học ở tu viện càng sớm càng tốt và ở lại Lhasa để giáo hóa hàng trăm ngàn thiện nam tín nữ.” Như thế việc tôi là hậu thân của tu viện trưởng Tashi Namgyal đă được hoàn toàn chấp nhận. Nếu không được thừa nhận như thế th́ ắt người ta đă không nói rằng tôi là một chú bé giỏi giang và thỉnh cầu một đứa trẻ như tôi giảng dạy cho hàng ngàn người. Thỉnh cầu ấy làm cho tôi thấy trách nhiệm của ḿnh đối với người khác, cũng như những ǵ người ta mong đợi ở nơi tôi rất rơ ràng. Nó vạch ra một phương hướng, một kế hoạch cho cuộc đời tôi. Tôi sống ở tu viện Drepung cho đến năm mười chín tuổi, là lúc tôi đào thoát khỏi Tây Tạng sang Ấn Độ, và tại đây tôi vẫn c̣n sống cuộc đời tu sĩ trong vài năm nữa. Khi tôi ở lứa tuổi đôi mươi và trải qua giai đoạn phản kháng của tuổi thanh thiếu niên th́ mối hoài nghi từ thời thơ ấu về sự tái sinh nổi lên trong tôi một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tôi đọc tiểu sử của nhiều vị lạt-ma tái sinh khác nhau. Nhiều người trong số đó vẫn c̣n nhớ những chuyện kiếp trước. Nhưng c̣n tôi th́ khi cố nhớ đến kiếp trước và các hoàn cảnh, điều kiện sống cũng như bạn bè th́ lại không có hồi ức nào. Thế nên tôi tự hỏi, ḿnh là ai? Ḿnh có phải là một người ngu si hay không? Trong thời gian sống ở Delhi vào thập niên 1960 và ’70, tôi dằn vặt về điều này ghê gớm. Khi một người bạn của gia đ́nh, một thiếu phụ đă kết hôn với một hậu duệ thuộc ḍng dơi đế vương từ Ladakh từ trần ở Delhi, cha của bà ta yêu cầu tôi làm phép chuyển di tâm thức (transference of consciousness) cho bà ấy. Suốt một thời gian dài tôi không hề thực hiện nghi thức ấy và không có đủ vật liệu cho buổi lễ, như chất đặt trên đỉnh đầu người chết. Ngoài ra tôi cũng có những mối nghi ngờ không biết nghi lễ này có hiệu quả ǵ không. Tôi đi đến ngôi nhà của người ấy và ngồi một ḿnh bên thi thể của bà ta rồi tụng kinh rất chậm răi với sự chú tâm tối đa. Khi tôi tụng những câu để chuyển di tâm thức, tôi tập trung hết tâm trí ḿnh và tập trung vào những ǵ tôi làm. Người thiếu phụ này có một người thầy tâm linh (guru) gọi là Bakula Rimpoche, là một đại biểu quốc hội Ấn Độ vào lúc đó. Ngày hôm sau, người thầy ấy nói với tôi rằng người quá cố đă đến “thăm” thầy vào lúc 7 giờ tối, đúng vào lúc tôi làm phép chuyển di tâm thức cho bà để bà hợp nhất với tâm giải thoát. Điều này làm tôi bỡ ngỡ, nhưng cũng làm tôi bớt đi mối nghi ngờ. Nó cho tôi thấy có hiệu quả mặc dù tôi không khẳng định chắc chắn. Tất nhiên, tôi không phải là người duy nhất ở đó – c̣n có sự hiện diện của các lạt-ma khác nữa – nhưng tôi đă ngồi một ḿnh với xác bà ấy, và thời điểm linh ứng mà người thầy cho biết cho thấy rằng việc tôi làm đă có chút hiệu quả nào đó. Tôi nhớ ḿnh đă kể lại mối nghi ngờ với các thầy giáo thọ của tôi là Ling và Trijang Rimpoche. Họ lắng nghe rất từ bi. Sự hiểu của tôi về tái sinh chỉ đến từ từ sau một quá tŕnh dài học hỏi với các bậc thầy Phật giáo vĩ đại, học hỏi từ các kinh điển Phật giáo vĩ đại, học hỏi qua các cuộc tranh luận, qua thiền định và thực hành. Sau những thứ đó, bây giờ tôi có thể nói rằng tôi có một niềm tin chắc chắn và không ǵ lay chuyển được về sự tái sinh. Nó phát sinh từ sâu xa trong tâm thức, một sự hiểu biết tràn đầy. Nó không phải là một tiếng nói, mà là một sự thấu hiểu từ bên trong chứ không đến từ bên ngoài. Đấy là lư do v́ sao tôi tin vào sự tái sinh – không phải chỉ do đức Phật nói là mọi người nên tin. Một số bạn bè của tôi nói rằng việc này là do điều kiện ở Tây Tạng tạo ra, nhưng cũng có thể nói về sự thiếu niềm tin vào tái sinh ở Tây phương như thế. Ở Tây Tạng chúng tôi thấy hoặc nghe những đứa trẻ tṛ chuyện với cha mẹ và kể chúng nó sống ở đâu trong kiếp trước, chúng thực hiện những nghi lễ chưa học trong kiếp này, hoặc nhất quyết cho rằng chúng đă sống trong những thành phố xa xôi mà kiếp này chưa từng đến, và sống với những người chúng chưa từng gặp gỡ trong kiếp này. Nếu tôi không tin vào sự tái sinh th́ rơ ràng mọi thứ này sẽ tạo ra những mâu thuẫn.
Các nguyên nhân và điều kiện Niềm xác tín của tôi cũng sinh ra từ việc xem xét nguyên nhân và điều kiện, nguyên nhân và kết quả. Khi chúng ta nh́n vào thực tế, chúng ta có thể thấy rằng mọi việc không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Luôn luôn có một lư do, một nguyên nhân, và luôn luôn có một số điều kiện. Có những nguyên nhân và điều kiện cho việc sinh ra đời, cho cái chết, cho bệnh tật hoặc sức khoẻ, cho hạnh phúc và cho niềm vui. Có những nguyên nhân và điều kiện để tôi được nuôi dưỡng như một vị lạt-ma tái sinh ở Tây Tạng xưa, để bị buộc phải rời quê hương và cuối cùng là sang Mỹ. Đức Phật đă quán sát các nguyên nhân và điều kiện để t́m nguồn gốc của mọi khó khăn và người đă t́m thấy. Nhưng người đă khéo phân biệt nguyên nhân và điều kiện. Khi có người chết một cách đột ngột, như trong vụ sập một cây cầu, người ta hỏi đức Phật v́ sao người ấy chết. Ngài đă đưa ra hai câu trả lời khác nhau. Có một nguyên nhân khởi thủy và có các điều kiện. Nguyên nhân khởi thủy là người chết ấy đă gây tổn hại cho một người nào khác ở một thời điểm nào đó, dù anh ta ư thức về điều đó hay không. Câu trả lời thứ hai là có một số điều kiện làm cho cây cầu sụp đổ - do ḍng nước mạnh, do dầm cầu bị găy, hoặc một trụ cầu bị nước cuốn trôi. Người gọi các thứ này là điều kiện. Từ góc độ tâm linh, khi quan sát lư do làm người ta đau khổ, bạn sẽ nh́n thấy hai lư do khác nhau, nguyên nhân khởi thủy và điều kiện. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường gặp phải những chuyện phiền toái, những hoàn cảnh bất như ư, rất nhiều là đằng khác, thậm chí cả lúc ta không làm ǵ để gây nên những chuyện ấy. Chúng ta gặp phải tai nạn chẳng hạn. Cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất, chúng ta đều phải đối đầu với những chuyện như vậy, và cố t́m hiểu tại sao những thứ ấy lại xảy ra cho ta. Chúng ta thường t́m ṭi câu trả lời bằng mọi phương tiện. Chúng ta có những cuộc khám nghiệm tử thi để giải thích cái chết của một người nào đó. Hay khi có một chiếc máy bay bị rơi, người ta bỏ tiền bạc, công sức để t́m cho ra chiếc hộp đen để t́m cho ra lư do. Nhưng thật ra người ta chỉ đi t́m những điều kiện. Nguyên nhân khởi thủy của nó người ta thường không xem xét, có thể v́ khoa học không chấp nhận hoặc không đưa ra được lời giải thích nào cho nó. Ở Tây Tạng, có lẽ chúng tôi luôn quán sát nguyên nhân khởi thủy – v́ chúng tôi thường nh́n sự vật trên b́nh diện tâm linh – mà lại không nh́n một cách đầy đủ các điều kiện. Có lẽ người Tây Tạng quá lo nghĩ cho đời sống tương lai cho nên đă tạo điều kiện cho người Trung Quốc cọng sản chiếm Tây Tạng. Những người cọng sản, có lẽ chẳng bao giờ nghĩ đến nguyên nhân khởi thủy, đă hành quân vào đây. Là một người Mỹ gốc Tây Tạng, tôi có được cơ hội đặc biệt là nh́n thấy cả hai nền văn hóa. Điểm bất lợi của việc tập trung thời gian và nguồn lực vào việc phân tích các điều kiện là ta không bao giờ biết được nguyên nhân khởi thủy, nguồn gốc của vấn đề. Người ta có thể t́m ra một lư do tạm thời để giải thích về một tai nạn, những chừng nào người ta không khám phá ra nguyên nhân khởi thủy th́ người ta không thể nào ngăn ngừa để nó không xảy ra lần nữa. Nếu không có nguyên nhân khởi thủy th́ dù cho điều kiện có đầy đủ th́ sự việc không thể xảy ra. Đất đai dù đă đủ độ ẩm và được bón phân kỹ lưỡng nhưng không có hạt giống th́ không có hoa, cũng như trường hợp có hạt giống mà thiếu điều kiện th́ cũng không có hoa trái. Là những người thực dụng chúng ta chỉ nh́n vào điều kiện cho nên chúng ta đă xây dựng luật pháp và các qui tắc an toàn – rất nhiều thứ để bảo vệ chúng ta tránh các tai họa. Chúng ta làm mọi chuyện để ngăn ngừa khổ đau, và dĩ nhiên không có lư do ǵ không làm trong phạm vi khả năng của ḿnh. Nhưng cũng cần phải có sự nghiên cứu sâu xa hơn để t́m ra nguyên nhân khởi thủy của khổ đau, nguyên nhân khởi thủy của việc sinh ra, bệnh tật, già cả và chết chóc từ kiếp này sang kiếp khác mà không có sự chọn lựa nào. Tâm lư học t́m ṭi các nguyên nhân gây ra đau khổ, nhưng nó chỉ có thể tiếp cận những sự kiện xảy ra trong một cuộc đời – đó chỉ là những điều kiện dẫn đến khổ đau. Trong cố gắng t́m về nguồn gốc vấn đề, người ta truy cứu về thời thanh niên, thời thơ ấu, và đôi khi cả thời gian thai nhi c̣n nằm trong bụng mẹ. Điều này có thể có ích, đôi khi có thể mang lại sự b́nh yên trong tâm hồn, cảm giác an ổn và tự tin; tuy nhiên vẫn chưa đến được nguyên nhân sâu xa nhất, và có khi lại tạo ra những rắc rối mới. Khi hồi tưởng quá khứ cách đây hai mươi hoặc ba mươi năm, mấy ai nhớ được chính xác những ǵ ḿnh đă trải qua. Những ǵ xảy ra ngày hôm qua, hay thậm chí giờ vừa qua cũng khó ḷng nhớ được.Sự cố gắng hồi tưởng dẫn đến rất nhiều ức đoán. một kư ức về một nỗi sợ hăi mơ hồ có thể trở thành đối tượng cho một cuộc điều tra. V́ thế, một ông bố hay ông bác “có bộ râu dê” có thể trở thành tâm điểm của cuộc điều tra về nguồn gốc của nỗi sợ hăi. Người ta bắt đầu tự hỏi “Ông ấy đă làm ǵ nhỉ? V́ sao ta lại sợ? Phải chăng ông ấy đánh đập ta? Phải chăng ông ấy đă lạm dụng t́nh dục ta?” Từ mảnh kư ức nổi lên trong ư thức và ta tưởng ḿnh đă thực hiện được những bước đột phá sâu sắc. Nhưng làm sao để khẳng định điều ấy có xảy ra hay không. Có người bị lạm dụng thật, nhưng nhiều người khác không hề bị như thế. Điều này lại tạo ra thêm nghi vấn và đau khổ cho cả gia đ́nh và đặc biệt là người “có bộ râu dê” và cho cả người đang đau khổ. Thế th́ chúng ta không nên t́m hiểu nguyên nhân gây đau khổ cho ḿnh ư? Điều này cũng không phải là giải pháp. Chắc là nên. Có điều là phải t́m hiểu cho thấu đáo. Nhưng đi sâu vào nguồn gốc vấn đề th́ phải điều tra cả thời kỳ trước thời thơ ấu. Cần phải t́n cho ra nguyên nhân khởi thủy. Chúng ta cố gắng rất nhiều để đạt mục đích, nhưng chỉ với tới được một nửa. Nếu tới đó th́ cũng xem như may mắn lắm rồi. Thật ra, việc chúng ta chỉ đạt được một nửa những ǵ muốn làm là dấu hiệu của sự thiếu tự do. Không những chúng ta không có tự do để đạt được mục tiêu của ḿnh, chúng ta cũng không thoát được các đau khổ như già, bệnh, chết. Đó là chân lư về khổ đau mà đức Phật đă nh́n thấy. Cái ǵ gây ra khổ đau? Chính các thói quen t́nh cảm bất thiện của chúng ta gây ra đau khổ và ngăn cản sự giải thoát. Chúng ta có khả năng tự do, giải thoát nhưng chúng ta không tạo ra các điều kiện để đạt được giải thoát. Khi đức Phật nói rằng người đă t́m ra con đường thoát khỏi khổ đau th́ chúng ta có thể xem như ngài đă t́m ra con đường dẫn đến tự do. Loại tự do nào? Đó là tự do xây dựng cuộc sống cho ḿnh và cho người. Các vị thầy trong truyền thống của chúng tôi dạy rằng mỗi người đều có những hành động thiện và bất thiện trong kiếp này và trong những kiếp khác. Chính hành động bất thiện dẫn đến khổ đau và mất tự do, và đây là lư do khiến chúng ta phải sửa đổi các thói quen bất thiện. Hành động thiện dẫn đến tự do và cuộc sống tốt lành. Đó là lư do v́ sao chúng ta cần nhanh chóng xây dựng nếp sống đạo đức, v́ chúng ta đă quen với những hành vi bất thiện mất rồi. Các vị thầy cũng dạy rằng chúng ta may mắn lắm mới được sinh ra trong cuộc đời này v́ trong những kiếp trước chúng ta đă từng có các hành vi thiện hảo, đă từng kham nhẫn, bao dung, và sống có đạo đức. Đó là lư do v́ sao ta nên phát huy các phẩm chất ấy.
* * *
Ở đây tôi không cố thuyết phục các bạn về việc tái sinh. Đó là nền văn hóa của chúng tôi, niềm tin của chúng tôi – không phải của các bạn. Tôi chỉ muốn các bạn suy nghĩ về việc này một chút, nghi ngờ một chút và xem thử nó sẽ làm thay đổi quan niệm về sự sống và cái chết của bạn như thế nào. Có thể bạn không thể khẳng định rằng có hiện tượng tái sinh, nhưng bạn cũng không thể loại bỏ hoàn toàn ư tưởng đó. Không ai có thể chứng minh là việc ấy không xảy ra. Nếu các bạn cho phép ḿnh nghi ngờ, th́ câu hỏi chúng ta là ai và chúng ta từ đâu đến sẽ trở thành: “Điều ǵ xảy ra giữa kiếp trước của chúng ta với kiếp này? Hoặc điều ǵ xảy ra trong kiếp trước?” Khi chúng ta suy nghĩ về việc này, quan niệm của chúng ta sẽ thay đổi. Các bậc thầy giác ngộ đă t́m ra nguồn gốc của đau khổ, nguyên nhân thật sự của phiền năo, chướng ngại ngăn cản sự giải thoát. Họ nhấn mạnh rằng chính những cảm xúc bất thiện – giận dữ, luyến ái, ghét bỏ, và đố kỵ - là nguyên nhân khởi thủy khiến chúng ta vướng mắc măi trong ṿng sinh tử luân hồi. Từ các cảm xúc bất thiện sinh ra hành động bất thiện, từ hành động bất thiện sinh ra nghiệp bất thiện, và từ nghiệp bất thiện sinh ra các hậu quả bất thiện. Sự giải thoát khỏi ṿng luân hồi này bắt đầu từ nhận thức rằng chúng ta có giận dữ, luyến ái, ghét bỏ, và đố kỵ. Chúng ta phải nhận trách nhiệm về ḿnh và hành vi của ḿnh. Đó là điều hợp lư. Khi chúng ta nhận ra được vấn đề th́ chúng ta mới có thể giải quyết. Nếu không chúng ta phải trả giá cho các hành vi bất thiện của ḿnh bằng cả thể xác lẫn tâm hồn, trong kiếp sống bây giờ và kiếp sau. Đây không phải là một ư tưởng mới mẻ - rằng hành động bất thiện sẽ dẫn đến kết quả bất thiện. Nhiều nền văn hóa cũng dùng sự sợ hăi để kiềm chế công chúng. Các tôn giáo cũng thường dùng lời đe dọa về địa ngục làm phương tiện để giữ kỷ cương. Ở Tây Tạng xưa, thậm chí kẻ cướp cũng ngập ngừng khi ra tay giết người v́ họ tin rằng họ sẽ phải trả giá cho nỗi đau khổ bằng chính bản thân ḿnh. Nhưng các bạn không thể nói rằng tôn giáo sở dĩ tồn tại chỉ là để dọa dẫm, bắt con người phải khuất phục. Các bạn hăy bỏ th́ giờ phân tích làm sao mà các cảm xúc bất thiện có thể gây ra đau khổ và làm cho chúng ta khổ sở từ kiếp này sang kiếp khác. Hăy suy nghĩ về khả năng đó trên chính bản thân ḿnh. Nếu bạn không suy nghĩ về việc này th́ thật là uổng phí v́ con người chúng ta có một khả năng suy tư rất kỳ diệu. Bầu trời cao vọi là giới hạn cho những ǵ chúng ta có thể làm. Chúng ta cũng có những năng lực như những bậc vĩ nhân trong quá khứ. Sự khác biệt chỉ là họ tận dụng được các cơ hội đến với họ. Thế nên chúng ta hăy suy nghĩ và thay đổi tư tưởng. Chúng ta hăy tận dụng mọi khả năng của ḿnh, đặc biệt là năng lực của trí óc. Chúng ta có thể thay đổi hướng đi cho cuộc hành tŕnh của ḿnh một lần và măi măi. Các bậc thầy xưa nói rằng cuộc đời giống như một ngă ba đường. Nó có thể đưa người ta đi theo hai hướng, một hướng sẽ đưa đến mức giác ngộ diệu kỳ. Tại sao chúng ta không tận dụng cơ hội này? Không lúc nào tốt hơn hôm nay. Huyền thoại Phật giáo Ấn độ có kể chuyện về một loài hoa gọi là hoa ưu đàm (utamwara). Loài hoa này chỉ xuất hiện lúc đức Phật sinh ra, nở khi đức Phật giác ngộ và chỉ tồn tại trong thời gian đức Phật thuyết pháp. Các tín đồ Phật giáo cho rằng chúng ta vẫn ở trong thời kỳ ảnh hưởng của hoa ưu đàm. Khả năng mỗi chúng ta phát triển trọn vẹn khả năng của ḿnh và đạt được giác ngộ hoàn toàn vẫn c̣n. Và thậm chí khi chúng ta không thể đạt được giác ngộ hoàn toàn trong một kiếp người ngắn ngủi, chúng ta có thể tiếp tục trong kiếp sau và hoàn thành mục tiêu của ḿnh.
|