|
Nguyên tác: Good Life, Good Death
Gehlek Rimpoche cùng với Gini Alhadeff và Mark Magill
Lời giới thiệu
Trong nhiều năm qua có lẽ tôi có nhiều niềm vui khi giao du với Gehlek Rimpoche hơn bất kỳ vị lạt-ma nào mà tôi quen biết. Rất thông minh và nhạy cảm, ông lại c̣n có óc khôi hài và thích tṛ chuyện, khi th́ bằng tiếng Tây Tạng, khi th́ tiếng Anh. Ông ấy có tấm ḷng nhân hậu, và bao dung với mọi lỗi lầm ; ông không hề bận tâm khi người khác trêu chọc ḿnh. Tôi học hỏi được rất nhiều từ ông, về nhiều tầng lớp ư nghĩa của Phật pháp, những thứ mà ông sống và thở. Nó ở trong tâm trí ông như một triết lư sống, trong nền văn hóa của ông như một lối sống, và ở trong máu ông như một nghệ thuật sống và chết an lành – đó là sống v́ người khác và, thật tuyệt làm sao, cũng là v́ ḿnh. Rimpoche sinh ra trong một gia đ́nh thuộc tầng lớp thượng lưu của Tây Tạng, trong ḍng họ của vị Đạt-lai Lạt-ma thứ mười ba vĩ đại, Thubten Gyatso (1876-1933) - « đệ nhất danh gia » của thời đó - giống như ḍng họ Roosevelt ở Mỹ vậy. Cha ông cũng là một vị tái sinh danh tiếng. Mặc dầu cha ông cố làm sao để Gehlek Rimpoche sống một cuộc đời b́nh thường th́ Gehlek vẫn được công nhận là vị tái sinh của một lạt-ma cao cấp. V́ thế ngay từ thuở bé, Gehlek Rimpoche đă phải xa ĺa ngôi nhà êm ấm, tiện nghi để sống cuộc đời tương đối khắc khổ trong thời gian huấn luyện theo truyền thống của một vị lạt-ma tái sinh. Là một chú tiểu, Gehlek đă trải qua sự giáo dục trí thức, tinh thần và đạo đức rất chặt chẽ. Chú đă phải cố học từng giờ để ghi nhớ những hàng trăm trang kinh điển cao siêu và khó hiểu, hầu như quá bí hiểm và chán ngán đối với một thiếu niên. Nếu không đọc lại thuộc làu th́ sẽ bị đ̣n rất đau, không được ngủ và học lại bài, nhưng may mắn thay chú là người rất thông minh – có thể nhớ hàng chục trang mỗi lần học, thuộc hàng trăm câu kệ, cho dù không hiểu ǵ hết. Gehlek Rimpoche có kể cho tôi nghe một câu chuyện, với sự chứng thực của các thầy học mà tôi cũng có quen, rằng ông đă làm các vị giáo thọ bực như thế nào khi ông thuộc bài đến mức vừa trả bài vừa ngủ, và như thế vừa đảm bảo chỉ tiêu ḍ bài vừa tranh thủ vài phút nghỉ ngơi. Các vị bực ḿnh quá bèn bắt chú tiểu này đọc bài trong khi phải đứng trên thành cửa sổ pḥng học trên tầng ba, để cho chú v́ sợ té không dám ngủ. Thế là chú tập ngủ trong khi đứng, chỉ tựa nhẹ vào khung cửa sổ. Cuối cùng các vị giáo thọ phải đỡ chú xuống v́ sợ chú ngă. Trong quăng thời gian cuối thời niên thiếu và trong tuổi thanh niên, Gehlek bắt đầu học để hiểu ư nghĩa của các pho kinh mà chú đă ghi nhớ, và bắt đầu trở thành đề tài bàn tán của các tăng sinh ở trường đại học của ḿnh – trường Cao đẳng Loseling của tu viện Drepung, với hơn mười ngàn tu sĩ, là trường đại học đào tạo tu sĩ lớn nhất thế giới – do trí óc nhanh nhạy, sự sắc sảo trong các cuộc tranh luận, phong thái oai nghi trong khi hành lễ, và sự hiểu biết sâu rộng của ḿnh. Không giống các tu sĩ thiền tông, các tu sĩ Tây Tạng không ngồi thiền cùng nhau, mà ngồi thiền một ḿnh ở trong pḥng riêng, dùng thiền định để hoàn thành quá tŕnh khai mở tuệ giác - có được qua sự học rộng bằng cách ghi nhớ kinh văn và nghiên cứu các bài luận giải cùng với một vị thầy, và rồi tranh biện với các bạn đồng học trong những buổi thảo luận, phân tích để t́m cho ra ư nghĩa sâu xa. Rimpoche là một nhà hùng biện nổi bật trong giờ thảo luận, và đạt được tiến bộ rất nhanh trong việc học của ḿnh. Rimpoche sau đó trở thành người được các vị lạt-ma quan trọng nhất của thời ấy bảo trợ, đặc biệt là Lingtsang Rimpoche và Trijang Rimpoche, là hai vị giáo thọ của đức Đạt-lai Lạt-ma, người có uy tín cao nhất trong việc truyền các giới mật tông và giảng giải ư nghĩa uyên áo của Du Già Hành Tông. Rơ ràng là Gehlek Rimpoche thừa hưởng được sự giáo dục tốt nhất có thể được trong thời đại và hoàn cảnh của ḿnh : Gehlek cũng không tránh khỏi bị đ̣n roi, và đă trưởng thành trong giới luật khắt khe. Ông đă hoàn thành việc học hành một cách xuất sắc và tốt nghiệp trong một thời gian kỷ lục. Ông cũng trải qua một thời kỳ xuống đốc cùng với gia đ́nh, và v́ cha ông không chỉ là thành viên của giới thượng lưu xă hội mà c̣n là một nhà ngoại cảm (psychic) nổi danh và thậm chí là một vị tiên tri, ông quen biết tất cả những nhân vật quan trọng ở Lhasa trong những thập niên bốn mươi và năm mươi và hiểu biết về đất nước và xă hội Tây Tạng, bao gồm những thay đổi đau đớn diễn ra trong cuộc tấn công của Trung Quốc trong những năm dẫn đến cuộc đào thoát của đức Đạt-lai Lạt-ma vào năm 1959. Vào năm 1959 thế giới của Rimpoche hoàn toàn sụp đổ. Trung Quốc không c̣n kiên nhẫn duy tŕ sự ḥa giải giả vờ các nguyên tắc của họ để dung nạp văn hóa, xă hội và nhà cầm quyền Phật giáo ở Tây Tạng và quyết định ra tay kiểm soát tất cả. Hằng trăm ngàn người Tây Tạng bị tàn sát và tù đày, đức Đạt- lai Lạt-ma và nhiều vị chức sắc, cả tu sĩ và cư sĩ đào thoát, các tu viện bị phá hủy, nhiều tu sĩ đă bỏ ḿnh ở những nơi hoang vắng khi cố vượt qua dăy Hi Mă Lạp Sơn để thoát qua Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Sikkim. Giống như Đạt-lai Lạt-ma, Rimpoche vừa tốt nghiệp th́ cũng suưt mất mạng. Ông đă mất tu viện của ḿnh, nhiều vị thầy và bạn học, gia đ́nh, xă hội, đất nước, các tài sản quí giá nhất, và toàn bộ nền văn minh Phật giáo Tây Tạng. Thật khó tưởng tượng có một bài học nào lớn lao hơn thế về sự vô thường, khổ đau và tha hóa. Trải qua bao cuộc bể dâu, nào là đào thoát, nào là tái định cư, sống lưu vong cùng với hàng trăm ngàn người tỵ nạn Tây Tạng khác, Rimpoche nổi loạn chống lại toàn bộ lối sống trước đây. Ông từ bỏ lời thệ nguyện xuất gia. Ông lập gia đ́nh. Ông đi thăm nước Mỹ, học tiếng Anh, và rồi kiếm một việc làm trong một thành phố lớn, thành phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, quốc gia vừa giành được độc lập. Ông cũng đảm nhận một trách nhiệm hướng về quê hương bị tàn phá của ông, đó là làm việc ở Nhà Tây Tạng ở New Delhi, trung tâm văn hóa đầu tiên do đức Đạt-lai Lạt-ma thành lập nhằm ǵn giữ một số hạt giống văn minh Tây Tạng đă bị phân tán khắp nơi theo ngọn gió lịch sử. Ông bước vào một giai đoạn mới trong việc huấn luyện, đó là học hỏi về một thế giới rộng lớn hơn, về người Ấn và người phương Tây, về người Ấn giáo và Thiên Chúa giáo, người Do Thái và các nhà nhân văn phi tôn giáo, và cả những người vô thần. Ông t́m hiểu về những người này bằng cách sống ḥa ḿnh vào mọi người, như một người tỵ nạn, không có địa vị xă hội. Ông trở thành một người b́nh thường trên đời – mặc dầu, trong cuộc sống riêng tư, mặc cho bao nỗi hoài nghi trỗi dậy do kiếp nạn kinh hoàng, ông vẫn duy tŕ sự thực tập. Tôi bắt đầu làm quen với với Rimpoche trong giai đoạn này. Tôi trẻ hơn ông khoảng một hai tuổi, là người dân New York, đă trải qua một thời gian sống vô tư ở truờng dự bị đại học và cao đẳng. Tôi đă một lần lập gia đ́nh và có một đứa con gái c̣n nhỏ. Tôi nổi loạn theo chiều hướng ngược lại và trở thành một triết gia lang thang đi t́m sự giác ngộ. Lúc ấy tôi chưa hề biết đến những sự việc khủng khiếp đang diễn ra ở Tây Tạng. Tôi ḥa ḿnh vào những người Tây Tạng lưu vong, xin xuất gia, và tiếp nhận sự huấn luyện mà Rimpoche đă trải qua. Đi theo hướng đời trái ngược, chúng tôi nhanh chóng xích lại gần nhau. Trong các giai đoạn tiến bộ khác nhau của tôi trong hai thập niên ’60 và ’70 đi về giữa Delhi và Mỹ, Rimpoche luôn luôn là một con người tử tế, hiểu biết và giúp đỡ tôi rất nhiều. Những thầy giáo chính của tôi cũng là thầy giáo của Rimpoche, và v́ thế vào lúc ấy tôi không xem ông là thầy của tôi. Nhưng rồi cuối thập niên ’70 khi tôi bắt đầu sang Ấn Độ nghiên cứu về Du Già Hành Tông (Varjrana yoga), tôi bắt đầu học tập trực tiếp với Rimpoche, và sự cảm phục học vấn uyên áo của Rimpoche tăng lên rất nhiều. Ông biết mọi điều tôi muốn t́m hiểu, ấy thế nhưng ông vẫn giữ một thái độ b́nh thường của một người bạn, giải thích mọi chuyện không những theo truyền thống xưa cũ mà c̣n từ kinh nghiệm của ḿnh trong thế giới trần tục. Các thầy giáo của ông, đặc biệt là Lingtsang Rimpoche, đă bắt đầu thúc giục ông nhận trách nhiệm làm giáo thọ. Các thầy đánh giá ông rất cao, do thế tôi cũng mời ông sang Mỹ giảng dạy tại một viện nhỏ của chúng tôi : Viện Nghiên Cứu Phật Học ở Amherst, bang Massachusettes, và những nơi khác. Do được huấn luyện bởi những bậc thầy – các vị lạt- ma vĩ đại nhất của thế hệ trước – tôi có thể nói rằng Rimpoche đang chuyển tải được thông điệp của các vị thầy bằng một phong cách hết sức hoàn hảo, sắc sảo, và thậm chí là hấp dẫn hơn, v́ ông tŕnh bày cùng với sự hiểu biết cuộc sống đương đại, hiểu biết về những con người đến từ khắp nơi trên thế giới, ông biết họ đến từ đâu, họ muốn ǵ và cần ǵ. Điều tôi thích ở Rimpoche là tính kiên tŕ và mềm dẻo. Tôi cũng thấy ở ông những dấu hiệu của sự hiểu biết sâu sắc về vô ngă, một pháp ấn của Phật pháp. Ông có thể là một vị lạt-ma oai nghi trong khung cảnh trang nghiêm, một đại diện xứng đáng của ḍng truyền thừa nổi tiếng của ông. Ông có thể là một vị cố vấn minh triết trong một khung cảnh khác, đặt trách nhiệm về sự phát triển vào nơi đúng đắn nhất: đó là vào cá nhân. Ông có thể là một người đồng nghiệp chung thủy và có nhiều sáng kiến, trong công việc bất tận là hoằng dương giáo pháp. Trong tất cả mọi chuyện ông là một con người vui vẻ và dễ thương, một người bạn tốt. Tôi chào mừng tác phẩm Sống Chết An Lành của người bạn tốt này; trong đó có nhiều lời khuyên minh triết và gợi ư thực tế cho những con người của thời hiện đại – làm sao để lấy được nhiều hơn từ cuộc đời này, và có nhiều niềm vui hơn trong cuộc trao đổi với đời.
Robert A. F. Thurman Ganden Dekyiling, Woodstock, New York Tháng 4, 2001
|