Trần Ngọc Bảo

 

 THĂM LẠI LĂNG THIÊN THỌ

 

Phần 2

 




          Nhóm du khảo lăo niên không vội qua cầu v́ không mấy khi đi qua một cầu phao với cảm giác thú vị như thế này. C̣n nhớ hồi xưa, khoảng năm 1970-71, trước khi xây cầu Phú Xuân, tức là Cầu Mới qua sông Hương, ở đấy cũng có một cầu phao rộng hơn cầu này, chịu tải lớn hơn, v́ cho phép mọi loại xe, kể cả xe tăng (!) qua (một chiều) nhưng đi xe đạp hay xe máy th́ không dễ dàng v́ bánh xe dễ bị mắc kẹt vào những thanh sắt lót mặt cầu và người lái không khéo sẽ bị ngă.



Phó nḥm dừng lại trên cầu chụp ảnh.
Cầu phao do ông Trần Văn Trường, người Quảng Trị, đầu tư xây dựng vào tháng 4/2013. Ông Trường đă có kinh nghiệm lắp cầu phao ở sông Bến Hải và hai cầu phao khác ở sông Thạch Hăn.Ông đă dùng 100 giàn thùng phuy nhựa dung tích 120 lít, mỗi giàn 10 thùng, như vậy có tới 1.000 thùng phuy được sử dụng. Những tấm sắt lót mặt cầu dài 6m, dày 3 ly, và mặt cầu rộng 2,5 m, chiều dài cầu 170m. Phần cho thuyền chui qua rộng 10m, cao 4,5 m so với mặt nước. Tiền đầu tư khoảng 3 tỷ đồng. Ông Trường và những nhà đầu tư khác được phép thu phí xe máy 3.000đ/lượt, xe đạp 2.000đ/lượt, người đi bộ 1.000đ/lượt. Riêng cán bộ, giáo viên, học sinh được miễn phí.



Như vậy cầu phao không cho phép xe hơi qua.


Trạm thu phí qua cầu.



Thay v́ rẽ trái để đi dọc bờ sông (con đường này bị xói lở chưa sửa) th́ phải đi thẳng khoảng 100m rồi mới rẽ trái, đi tiếp khoảng 5m lại rẽ trái một lần nữa và đi tiếp trên con đường bê tông.


Chúng tôi đi ngang qua những vườn trồng thanh trà, là loại cây đặc sản của vùng Bằng Lăng, Kim Ngọc.



Con đường lại uốn cong ra phía bờ sông và đây là con đường đất rải sỏi. Tuy có mở rộng nhưng chưa lát bê tông hay rải nhựa.


Đi qua cổng làng Định Môn khoảng 100 m sẽ gặp một ngă ba, rẽ tay phải, đi theo con đường có hàng cột điện kiểu xưa th́ yên tâm là đúng đường vào lăng.


Chắc chắn là có sự lấn chiếm khu vực lăng v́ nhà cửa che lấp không thấy đường đến lăng Vĩnh Mậu, là lăng vợ chúa Nguyễn Phúc Thái, nằm về phía tay phải con đường, không thấy đường vào lăng Hoàng Cô, tức là lăng Công Chúa Long Thành, chị vua Gia Long, cũng không thấy biển chỉ đường vào các lăng ấy. Đến một ngă ba chúng tôi thấy biển báo khu vực lăng Thánh Thoại, tức là lăng mẹ vua Gia Long. Chúng tôi rẽ tay trái đi tới lăng vua trước.



Con đường dẫn vào lăng xanh mướt với băi cỏ và hàng thông ở hai bên.



Khi dừng xe để nghe điện thoại chúng tôi cũng bắt gặp "sát thủ" của những ngọn đèn: một chú bé cầm ná vừa thực hiện xong một cú trực xạ và cũng thấy những ngọn đèn kế tiếp bị bắn bể toang do "chiến công" của chú bé này. Bích Vân hét lên: "Chơi chi mà hoang rứa? Đừng bắn bậy nữa nghe!"




Chúng tôi ngừng xe trước điện Minh Thành. Những con rồng nơi đây được đắp bằng gạch đơn giản. Điều đặc biệt ở lăng Gia Long là đường nét kiến trúc đơn giản mà mạnh mẽ.


Khi Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu mất - năm 1814 - vua mới bắt đầu bàn với triều thần xây lăng cho bà và dành cho ông một chỗ bên cạnh theo lối "càn khôn hiệp đức". Vua cho người đi t́m đất. Thầy địa lư Lê Duy Thanh, con của nhà bác học Lê Quí Đôn, là người t́m ra cuộc đất này. Đích thân vua đến đây xem xét và rất hài ḷng. Cuộc đất này có đầy đủ các yếu tố phong thủy đem lại sự tốt lành cho con cháu mai sau: có núi cao để làm hậu chẩm, tức là chỗ dựa vững chắc, trước mặt là khoảng không gian thoáng rộng, là yếu tố minh đường, mang ư nghĩa tương lai sáng lạn, xung quanh có hồ bao bọc, là yếu tố thủy tụ, mang lại sự giàu sang, xung quanh có 42 ngọn núi chầu hầu, đó là yếu tố tả phù hữu bậc, có nhiều người pḥ trợ để xây dựng sự nghiệp. Nhà vua đặt tên cho quần thể núi là Thiên Thọ Sơn và lăng cũng mang tên Thiên Thọ. Vua đề ra ư tưởng xây dựng và hai đại thần Tống Phúc Lương và Phạm Như Đăng được giao nhiệm vụ thực hiện.



Lăng được xây dựng thành ba cụm hàng ngang. Đầu tiên là điện Minh Thành- đây là nơi thờ tự. Bên phía phải (từ ngoài nh́n vào) là khu lăng mộ và bên kia nữa là bi đ́nh hay nhà bia.


Sau lưng hai du khách là Bửu Thành Môn và vào trong là điện Minh Thành. Lúc đầu, Bửu Thành Môn được làm bằng gỗ. Đến năm 1847 vua Thiệu Trị lệnh cho bộ Công làm cổng bằng đồng thay thế. Nhưng cổng đồng cũng bị hủy hoại trong thời chiến tranh và mới được phục dựng bằng gỗ gần đây.



Bên trong điện Minh Thành là bàn thờ vua Gia Long và Hoàng Hậu. Trang trí các cổ diềm là những chữ thọ cách điệu. Điện cũng hư hại gần như hoàn toàn trong thời chiến và chỉ được sửa sang vào năm 1995.



Di ảnh của vua Gia Long (1762 - 1820).


Cha ngài mất lúc ngài mới 4 tuổi. Lúc ngài 14 tuổi (1774) th́ Thuận Hóa mất vào tay quân Trịnh. Ngài theo Chúa Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần lánh vào Gia Định. Năm 1777 Gia Định bị quân Tây Sơn chiếm, ngài phải chạy vào Long Xuyên. Sau đó Duệ Tông và Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương bị quân Tây Sơn bắt giết. Ngài được các tướng tôn làm Đại Nguyên Soái lúc mới 17 tuổi. Ngài thất trận nhiều lần trước quân Tây Sơn, phải lánh ḿnh ra Phú Quốc, Côn Lôn, Xiêm La (Thái Lan), phải gửi Hoàng Tử Cảnh theo Giám Mục Bá Đa Lộc (phiên âm tên thánh Pedro hay Pierre của GM Pigneau de Béhaine) sang Pháp cầu viện. Đến năm 1788 mới lấy được thành Gia Định, năm 1801 lấy lại Thuận Hóa. Năm 1802 ngài hiệp tế trời đất, đặt niên hiệu là Gia Long và sau đó tiến quân ra Bắc, thu phục Thăng Long, thống nhất sơn hà. Năm 1802 đổi quốc hiệu là Việt Nam và 1806 mới làm lễ lên ngôi Hoàng Đế.



Bên trong thờ linh vị của Hoàng Đế và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu Tống Thị Lan. Hoàng Hậu là con của Qui Quốc Công Tống Phúc Khuông, quê ở Tống Sơn, Thanh Hóa. Khi Phú Xuân thất thủ vào năm 1774 bà theo cha vào Gia Định, sau đó tiến cung vào lúc 18 tuổi (1778), được phong làm Nguyên Phi. Bà là người thận trọng, lễ phép cho nên được sủng ái. Khi chúa Nguyễn lưu vong (1783), bà ở Phú Quốc, chăm sóc quốc mẫu chu đáo. Một thời gian sau, khi Nguyễn Vương lấy lại thành Gia Định (1788) bà luôn ở cạnh ngài kể cả trong chiến trận. Bà cũng là người nhân hậu, thương yêu tất cả mọi người, đức hạnh của bà được nhiều người xung quanh ca tụng, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ.



Đi sang phía bên phải ta sẽ gặp sân chầu hay bái đ́nh, có hai hàng quan (2 quan văn và ba quan vơ) cùng voi và ngựa. Tượng đá chầu vua là tác phẩm của thời Minh Mạng, năm 1838. Do chiến tranh tàn phá các tượng này bị sứt mẻ hay mất đầu, chỉ mới được chỉnh sửa vào năm 2002.



Ngoài các quan văn, vơ, c̣n có ngựa và voi làm nghi vệ



Đây là tế đ́nh và huyền cung có la thành hai lớp.



Đây là mộ song táng của Hoàng Đế và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu. Hai mộ như hai ngôi nhà bằng đá thanh màu xám, không chạm trổ, sơn phết, lộ vẻ uy nghiêm, cũng như tính sắt son, chung thủy. Mộ vua ở bên phải (từ ngoài nh́n vào). Kiểu mộ này chỉ có ở lăng vua Gia Long.


Trước mặt lăng có hồ sen, xa xa có trụ biểu để chỉ báo nơi tôn nghiêm, xa hơn là ngọn núi Đại Thiên Thọ làm tiền án.



Phía bên phải lăng là bi đ́nh hay nhà bia.



Bia Thánh Đức Thần Công do chính vua Minh Mạng viết (1820) để ca ngợi công trạng và sự nghiệp của vua cha. H́nh dáng, cách trang trí và chữ viết đều thể hiện tính thẩm mỹ cao.
Bên ngoài nhà bia là rừng thông yên tĩnh.


Ngoài ba cụm kiến trúc vừa kể không có đ́nh, tạ nào nữa. Cũng không có la thành bao bọc quần thể như lăng Minh Mạng hay Tự Đức. La thành chính là rừng núi xung quanh. Lăng tẩm được bao bọc bởi thiên nhiên bao la, lặng lẽ và u tịch.

Trần Ngọc Bảo


xem tiếp phần 3

 

 

 

art2all.net