|
ba dt hoa Tao đi đường ni có bông có ba, Mi đi đường nớ có con ma chặn đàng. (đồng dao)
· Canh một thơ thẩn vào ra, Chờ trăng trăng xế, chờ ba ba tàn. (lý năm canh) · Gió đưa mây, mây lên rực rỡ, Ba kia cười, hớn hở mùi hương. Rượu kinh kiền đem rót chén quỳnh tương, Giọng cười đỏng đảnh ta thương chút tình. (hò) ba trgt kế đó: Con trả lời không có ai ở nhà, ba ông ta quay lưng lại bước đi liền. lt thì (chỉ kết quả) Chờ anh ba tuổi em cao, Ba duyên em lợt, má đào em phai. (hò) ba bị dt 1.người ăn xin 2. một nhân vật tưởng tượng mà người lớn hay dùng để dọa trẻ con: Nín đi con; ông ba bị mà nghe được ông tới bắt đi đó!· Không nín há, tao kêu ông ba bị đây này! 3. Theo Hoà Thương Thích Mật Thể, ông ba bị chính là thiền sư Trung Đình. Ngài tu theo hạnh đầu đà, thường đi khất thực ở nhiều nơi. Lúc đi ngài mang theo ba cái bị (túi vải). Một bị đựng thức ăn chay, một bị để nhận thức ăn mặn do thí chủ cúng và sau đó bố thí lại cho người nghèo, và một bị để làm túi ngủ khi ngài nghỉ qua đêm ở một đình, miếu nào đó. Vì ngài ăn mặc rách rưới, tóc tai bù xù, cổ quái mà người ta sợ hãi. Nhưng ngài là bậc đắc đạo. Vào thời chúa Nguyễn Phúc Thuần ngài xin chúa Nguyễn cho lập hỏa đàn tại chùa Thiên Mụ để tự thiêu và bố cáo cho thiên hạ biết. Người đi dự rất đông. Ngồi trong lửa ngài còn đưa tay sửa chiếc mũ quan âm bị lửa làm lệch. Thiêu xong còn một ngón tay không cháy. Người ta đã nhặt ngón tay và tro của ngài đưa vào một tháp thờ bên triền núi phía tây chùa, hiện nay vẫn còn, gọi là tháp Ba Bị. ba bớp tt lếu láo, không đáng tin: Ai mà nghe lời thằng nớ. Hắn là một thằng ba bớp. ba chớp ba nhoáng ng ba chớp ba nháng (N), ba chớp bảy nhoáng (B), hấp tấp, không cần thận: Bây làm chi cũng phải làm cho cẩn thận, đừng có làm ba chớp ba nhoáng như rứa! ba dẻm tt tầm phào (B), tầm ruồng (N): Tụi bây không có chuyện chi làm hay răng mà cứ ngồi nói chuyện ba dẻm hoài rứa? ba đàng ba sá tt du côn; du đãng: Đừng có hao hơi đôi co với cái đồ ba đàng ba sá như thằng nớ. ba đời vương ng lâu lắm rồi. Ngữ này có biến thể là bảy đời vương: Cậu Ba vô Sài Gòn lại đã ba đời vương rồi mà chừ mệ còn hỏi! ba hồi ba chặp ng ba hồi vầy ba hồi khác (N): hay thay đổi ý kiến: Thôi đừng chấp trách chi, mụ nớ xưa nay vẫn cứ ba hồi ba chặp như rứa! ba mặt bảy mày ng ba mặt một lời, có nhiều người chứng kiến: Hôm qua eng đòi để tui, chừ có ba mạ đây, ba mặt bảy mày, eng nói lại cho rõ đi! Hôm qua anh đòi ly dị tôi, bây giờ có cha mẹ đây, ba mặt một lời, anh nói lại cho rõ đi! ba vạn cũng bỏ, lấy mười hai trự đi đò ng giàu bao nhiêu đi nữa thì chết cũng không đem theo được gì ngoài 12 đồng để đi đò qua con sông Nại Hà, mà theo niềm tin dân gian là ranh giới giữa cõi dương với cõi âm: Thôi eng nờ, tai qua nạn khỏi là mờng rồi; eng khôn nghe người ta nói ba vạn cũng bỏ, lấy mười hai trự đi đò hay răng? ba xàm ba láp (+N) ng không đúng đắn: Thằng Tẹo nói ba xàm ba láp như rứa mà ông cũng hả mỏ nghe cả buổi, răng rứa? bá đgt (biến âm) vá: Mạ ơi, bá cái áo ni cho con với! bả đgt vả, tát tai: Nói năng như rứa tao bả vô miệng cho chừ! bạc giác dt đồng tiền bằng kim loại trị giá 1/10 đồng. bách xách tt phiền phức: Lần sau mệ tới chơi đừng đem bánh đem trái chi cho nó bách xách! Bài bạc dân gian
bài chòi loại bài chơi vào dịp lễ tế, hội hè và sử dụng bộ bài tới. Người ta dựng trên một sân rộng 10 hoặc 11 chòi tranh nhỏ vừa một người ngồi. Khi chơi người tham gia sẽ ngồi vào chòi, nhà cái sẽ phát cho mỗi người chơi 3 con bài dán trên các thẻ tre có cán dài và nhận tiền cược. Có khi người ta bỏ không dùng cặp bài yêu là nọc đượng và bạch tuyết vì chúng tượng trưng cho bộ phận sinh dục nam và nữ. Nhưng ở nhiều hội chợ người ta vẫn để nhằm tạo không khí hài hước tươi vui. Nhà cái như vậy sẽ có 1 con bài để đi chợ. Người diễn xướng gọi là anh hiệu sẽ đọc tên của con bài bằng cách hò một câu để những người chơi đoán xem là con gì, rồi mới đọc tên con bài giống như trò chơi lô tô. Câu hò chỉ là để tăng thêm phần hồi hộp và hứng thú cho người chơi và người xem. Người chơi nào có con bài đó sẽ gõ mõ 3 tiếng, anh hiệu sẽ chạy đến để nhận thẻ này và so với thẻ được hô. Người chơi nào trúng tới con bài thứ ba sẽ gõ một tràng mõ báo tin là tới rồi. Anh hiệu sẽ trao cho người đó một lá cờ để giắt lên mái chòi và tiền thắng cược. Cứ tiếp tục tám ván chơi là hết một hội. Trên sân chơi có ban nhạc để mở đầu cuộc chơi và chúc mừng người thắng ván bài. Sau đó có thể đốt một phong pháo và trẻ con sẽ hò reo giành giật pháo lép cho nên cuộc chơi rất rộn ràng. Anh hiệu thường hò mở đầu: Hai bên lẳng lặng mà nghe con bài đi chợ: Khi rút ra con rún chẳng hạn, anh sẽ hò: Rủ nhau đi đánh bài chòi, Để cho con khóc mà lòi rún ra. (Uớ Ngũ Rún) -Khi xưa em nói rằng thương, để anh về, Bán nhà bán cửa, bán ông táo thổ công. Nay chừ em nói rằng không, Anh nghe như sấm sét giữa đồng ơi em. (Ôn Ầm) Em có cái chuông vàng em cho bằng quí, Anh đây có cái ống thiên lý bên Tàu mới qua trả hai vạn đồng. Đầu hổ đuôi rồng trước có cái lỗ nước chảy đồng xuy. Dẫu chuông vàng em có rộng lỗ anh đây có cái cục chì trám vô. (là con Nọc Đượng) Năng cường, năng nhược, Năng khuất, năng sanh. Nó thiệt cục gân, Ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu. (là con Nọc Đượng) Bến Than trồng khoai lang to củ, Đất Thừa Phủ trồng thù đủ tốt cây. Mấy lâu nay ơn tượng nghĩa dày, Anh giang tay mở dây lưng rút mà em cứ hẹn chày hẹn mai. (là con BạchTuyết) Những câu hát làn điệu rất tự do. Anh hiệu có thể thuộc sẵn hoặc tự sáng tác sao cho vui nhộn. Bài chòi cũng phổ biến ở Bình Định, Phú Yên. Ở các địa phương này gọi là hô bài chòi. X bài tới bài ghế loại bài giống như bài chòi, chỉ thay chòi bằng ghế đẩu xếp theo hình chữ U. Nhà cái ngồi ở đáy chữ U và mỗi nhánh chữ U ngồi 5 người. Người ta sử dụng cả 60 con bài.Ai tới sẽ có quyền đi chợ trong ván kế tiếp. X bài tới bài nọc loại bài cũng sử dụng bộ bài tới. Thông thường có 8 người chơi, trong đó có 1 người làm cái. Các con bài xếp thành một chồng ở giữa chiếu, gọi là nọc. Mỗi người sẽ bốc một con, nhà cái bốc sau cùng. Sau đó so ra, ai cao điểm thì ăn. Điểm được tính từ các nút trong hình vẽ con chim, đồng tiền, v.v. trên lá bài. Nếu lá bài đầu tiên dưới sáu nút người chơi phải bốc thêm một lá. Nếu đủ chín nút sẽ ăn, nếu quá sẽ bị bù, hay là thua. X bài tới
bài tới một loại bài gồm 60 con bài (30 cặp), trong đó có ba pho: văn, vạn, sách và 3 cặp bài yêu. Pho văn gồm các con: (trường) hai, (trường) ba, voi, rún, sáu tiền, liễu, tám tiền, xe. Pho vạn có các con bài: trò, đấu, quăng (cẳng), hương, ngủ (trưa), xơ, dọn, bồng, thầy. Pho sách có các con bài (nọc) đượng, nghèo, gà, gióng, giày, sáu hột (sáu nút), sưa, tám giây, gối, mỏ. Ba cặp yêu là ông ầm, thái tử, bạch tuyết. Tác giả Trần Viết Điền xếp bạch tuyết vào pho vạn, ầm và tử vào pho văn. Bài được in trên giấy bản dài 12 phân, rộng 3 phân, dán lên giấy cứng có nhuộm đỏ. Tên gọi và hình vẽ các con bài mang ý nghĩa lạ lùng và kỳ bí. Trên con bài có hình vẽ như bùa chú, và có họa tiết như hoa văn trên áo quần của người thượng. Khi chơi một người sẽ rút ra con bài đầu tiên, hô to lên và ném xuống chiếu, gọi là đi chợ, chẳng hạn con xe. Người có con xe sẽ trả lời xe đây, rồi ném con bài ra chiếu và đi tiếp một con khác. Đến khi trong tay người nào đó còn hai lá bài thì sẽ hô lên là chực. Khi còn trong tay một con và có người xướng lên quân bài trùng tên đó thì người này sẽ tới, có nghĩa là thắng ván đó. Bộ bài tới được dùng trong bài chòi, bài ghế và bài thai. Bộ bài tới cũng được dùng cho trò chơi bài chòi ở Bình Định, Phú Yên tuy có một số biến thể nhưng chỉ ở Huế mới có bài nọc, bài thai. Bài tới ở Bình Định pho văn gồm có ông ầm, tráng hai, ba bụng, tứ tượng, ngũ ruột, sáu mập, lá liễu, tám miểng, chín cu, chín gối; pho vạn có bạch huê, nhứt trò, nhì bí, tam quăng, tứ ghế, ngũ trợt, lục chạng, thất vung, bát bồng, cửu chùa; pho sách có ông tử, nhứt nọc, nhì nghèo, ba gà, tứ xách, ngũ dụm, sáu bường, bảy thưa, tám dây, cửu điều. X bài chòi, bài ghế, bài nọc, hò bài chòi, hò bài thai bại dt (biến âm) bãi, đống: Trời túi quá, không chộ đường, tui đạp trúng bại cứt tru. Trời tối quá, không thấy đường tôi đạp trúng bãi cứt trâu. ban (+N) đgt san cho bằng phẳng: Bữa ni anh cho ban đất rồi nện cho chặt cái đã, mai mới cho tráng xi măng nghe! bàn bóng dt máy ảnh: Mai đi lên đồi Từ Hiếu chơi nhớ đem theo cái bàn bóng nghe. Tụi mình phải chụp vài pô làm kỷ niệmmới được. bàn chữ U dt loại bàn gỗ có hai chân đà hình chữ U đặt trong phòng khách, đi cùng với bộ ghế dựa có sáu chiếc, được xem là sang trọng. Hạng em giàu sang, ngồi bàn chữ U có hai hàng ghế dựa, Thương chi phận chàng, gạo chợ nước sông cho bạn cười. (hát bài chòi) bán tt (biến âm) ngắn (vùng giáp Quảng Trị) (còn phát âm là bắn, vắn) -Sông su trào bán khôn dò, Anh năng qua lợi sợ đò khôn đưa. Sông su: sông sâu; trào bán: sào ngắn; năng: thường hay; qua lợi: qua lại; khôn: không -Đò răng đò lại khôn đưa? Bởi anh đi sớm về trưa khôn chừng. (hò) bán sỉ (+N) ng bán buôn (B), bán với số lượng lớn (từ bán sỉ ở miền Bắc có nghĩa là bán lẻ): Hàng tui bán sỉ chứ không bán lẻ bác nờ, bác chịu khó qua hàng khác nghe! bạn dt người đi làm thuê, như cất nhà, gặt lúa: Chiều ni anh em được nghỉ sớm, ông chủ làm cơm đãi bạn đó. bạn dì (+N) dt quan hệ do hai bà mẹ là hai chị em gái: Thưa thầy, tụi con là chị em bạn dì. bạng đgt báng (N), húc bằng sừng;: Bác ơi, đàng tê có hai con tâu đương bạng chắc. (Bác ơi, đằng kia có hai con trâu đang húc nhau.) banh đgt bành (N), phanh ra;: Đừng bắt chước đồ du côn, mặc áo banh ngực ra rứa . Bánh trong bữa ăn điểm tâm và bữa lỡ Huế là quê hương của nhiều loại bánh thường được thưởng thức vào buổi sáng hoặc vào khoảng 2 đến 4 giờ chiều sau giấc ngủ trưa. Các thứ bánh sau đây đã lan truyền đến nhiều địa phương, tuy nhiên vẫn được ghi lại ở đây như là những món tiêu biểu của văn hóa ẩm thực xứ Huế. bánh bèo món ăn làm bằng bột gạo xay nhuyễn, thêm nước, đổ vào chén bằng đất nung và hấp cách thủy. Món bánh bèo được nhiều địa phương làm, nhưng ở Huế vẫn khác ở cách làm nước chấm, tôm chấy và cách dọn ăn. Nước chấm làm bằng nước mắm nhĩ hòa với đường cát, thêm ớt, có nơi thêm nước luộc vỏ tôm, làm sao cho hơi ngọt và phải ngon đến độ người ăn sau khi ăn hết bánh vẫn cố húp sạch nước chấm còn lại. Ớt cho vào nước chấm là loại ớt xanh vừa cay vừa thơm. Khi dọn người ta để bánh bèo nguyên trong chén, dùng cuống lá chuối có đánh tơi một đầu nhúng vào một hủ dầu thực vật rồi “chầy” lên mặt bánh, kế đó là rắc hành tăm, tóp mỡ và tôm chấy. Khi ăn dùng một chiếc dao tre có dạng mái chèo để cắt, xiên và đưa lên miệng. Sau đó là chồng các chén đã ăn xong lên nhau cho gọn gàng và dễ đếm. Đôi khi người ta đua tài ăn bằng cách so các chồng chén cao ngất nghểu. Quán bánh bèo nổi tiếng là quán ở Tây Thượng, gần Vỹ Dạ, quán ở chân núi Ngự Bình và ở Kim Long. Ngày nay thì có mấy quán gần cung An Định. Còn các o đi bán dạo ngon có tiếng là ở Cồn Hến. X tôm chấy
bánh bột lọc bánh được làm bằng tinh bột sắn có nhân tôm thịt, chấm nước mắm nguyên, không pha đường. Bột sắn lọc được ngâm nước lạnh trước nửa ngày, tẻ nước cho thật trong. Sau đó thêm nước, muối, bắc lên lò để giáo bột cho hơi đặc. Lấy bột đó cho vào lá chuối, thêm nhụy tôm thịt, gói lại rồi đưa vào xửng để hấp. Bánh bột lọc không gói lá chuối được gọi là bánh bột lọc trần hay bánh quai vạc. X bánh quai vạc bánh canh món ăn làm bằng sợi bột gạo cán dẹp hoặc bột sắn lọc, dài khoảng 6-7 phân, nấu trong nước dùng gồm xương heo, gà, mỡ, nước mắm, nghệ, ớt. Khi ăn bỏ thêm cá, tôm, da heo xắt hạt lựu đã luộc chín sẵn và các loại gia vị như tiêu, hành lá, ngò. Ở Huế nơi làm bánh canh (bột gạo) nổi tiếng là làng Nam Phổ, thuộc huyện Phú Vang, An Cựu ở thành phố và Phát Lát thuộc Hương Thủy. Ca tụng món bánh canh, cụ Ưng Bình Thúc Giạ có câu hò như sau: Mời chị mời anh chén bánh canh Nam Phổ, Xơi vô khoẻ cổ có chút bợ có mùi hương. Lại thêm mát mẻ can trường, Sâm Cao Ly cũng sút, rượu Quỳnh Tương không bì. bánh gói bánh bột gạo có nhụy đậu xanh, gói trong lá chuối có hình khum lên như mái nhà nhưng không nhọn. bánh ít bánh này trong Nam ngòai Bắc đều có. Bánh có hai loại: bánh ít tôm thịt và bánh ít đen, hay bánh ít lá gai. Cả hai loại đều làm bằng bột nếp. Bánh ít tôm thịt có tôm thẻ, thịt heo, đậu xanh làm nhân, và chấm với nước mắm chua ngọt. Còn bánh ít đen là bánh ngọt, dùng lá gai giã nhuyễn nhuộm đen bột nếp, nhân làm bằng đậu xanh quết nhuyễn trộn đường trắng, mè trắng, dừa nạo và vani. bánh khoái bánh khuấy bằng bột gạo tẻ (có thêm một ít bột bắp để giữ bánh giòn lâu) trộn với trứng, hành, giá, mỡ, tôm, thịt giống như bánh xèo ở miền Nam, nhưng dày hơn, cỡ nhỏ hơn. Khi ăn mới bắc khuôn lên bếp, đổ mỡ tráng đều, bỏ vào vài lát mỡ, thịt, tôm, chờ cho chín mới đổ bột đã khuấy vào, thêm một muỗng trứng và giá sống rồi đậy nắp vung lại. Bánh vàng gập đôi dọn ra dĩa. Ăn khi bánh còn nóng, chấm với nước lèo cùng với các loại rau sống, rau xà lách, cải con, vả, chuối chát và khế. Những hàng ăn trong các chợ đều có bán bánh khoái, nhưng khách dạo phố thường hay tìm đến quán Lạc Thiện ngoài cửa Thượng Tứ , các quán trong thành và trên đường Chi Lăng để thưởng thức món đặc sản này. X nước lèo
bánh nậm bánh bột gạo, gói bằng lá dong, có nhụy tôm chấy, và thịt xắt nhỏ. Người ta làm nhụy trước sau đó mới đổ bột đã khuấy nước vào lá thành một lớp mỏng rồi cho nhụy lên, gói lại và hấp trong xửng. Khi ăn có thể mở lá ra, sắp vào dĩa, ăn với nước mắm. Bánh nậm chay thì nhụy làm bằng bột đậu xanh và nấm mèo xắt nhỏ. bánh phất bánh làm bằng bột lọc cuốn nhân tôm chấy. Người ta hòa bột với nước và tráng như làm bánh ướt. Đến khi bột trong, có nghĩa là vừa chín người ta lấy bánh ra để nguội, sau đó rải tôm chấy vào giữa. Người ta dùng một que tre phất hai mép hai bên vào giữa để gấp bánh làm ba, hai đầu để hở. Khi ăn chấm bánh với nước mắm chua ngọt, có giã ớt tỏi. bánh quai vạc bánh làm bằng bột sắn lọc có nhụy tôm thịt như bánh bột lọc nhưng luộc chín chứ không gói lá chuối và hấp như bánh bột lọc. Ngâm bột trong nước lạnh, để bột lóng, tẻ nước. Sau đó vắt bột thành từng nắm thả vào nồi nước sôi. Khi bột trong thì vớt ra ngắt thành từng miếng nhỏ, nhồi với bột sống cho thật nhuyễn, rồi nặn thành từng miếng mỏng, cho nhụy tôm thịt vào và gấp đôi lại thành hình bán nguyệt, bẻ đường viền rồi thả lại vào trong nồi nước sôi. Sau đó xả bằng nước lạnh. Người ta có thể dùng dầu phi lá hành áo quanh bánh quai vac cho khỏi dính nhau. Chấm với nước mắm có pha đường và thêm ớt. Bánh quai vạc chay dùng nhân đậu xanh. bánh ram-ít hai loại bánh bột nếp thường kẹp ăn chung: bánh ram hình viên tròn như trái chanh được chiên vàng giống như bánh rán nhưng không ngọt, đặt dưới, bên trên có một miếng bánh ít trắng có nhân tôm thịt được hấp chín. Khi ăn chấm với nước mắm ngọt, thêm ớt. bánh ướt bánh làm bằng bột gạo tẻ xay nhỏ rồi tráng trên một nồi hấp để có bánh tròn, thật mỏng và mềm dịu. Bánh thường được xếp thành từng xấp, kẹp bằng một dung lá chuối nhỏ. Bánh ướt được đổ mỏng hay dày, đường kính (gọi là gương) nhỏ hay lớn là tùy bánh đó sẽ được dùng làm món bánh gì, cuốn nhân gì như bánh ướt tôm chấy, bánh ướt thịt nướng hay bánh ướt tôm chua. X cuốn bánh vả là loại bánh làm từ nguyên liệu dư ra sau khi làm bánh phu thê. Người ta lấy lá chuối cuốn bột lọc có nhân tôm chấy hay nhân đậu xanh thành hình ống dài khoảng 15 cm, đường kính khoảng hơn 1cm rồi đem hấp. Khi chín người ta lấy ra cắt hai đầu cho đẹp và gói lại bằng lá dong. Bánh ngọt
bánh bó là loại bánh nếp dẻo với nhiều loại mứt trái cây, tạo thành những đường vân nhiều màu sắc. Bánh được làm bằng bột nếp trộn với nước đường sên và nhồi cho dẻo. Sau đó cán thành một tấm dẹp hình chữ nhật. Các loại mứt trái cây như cà chua, cà rốt, chuối, cam quật (tắc), mít khô được cắt thành sợi dài và đặt song song theo chiều dọc. Cuốn lại thành bó theo chiều dài để thành khối lăng trụ như đòn bánh tét. Sau đó cắt thành từng lát mỏng và gói bằng giấy dầu trong (giấy bóng kính). bánh in loại bánh làm bằng bột, có thể là bột đậu xanh, đậu quyên, nếp, hay bột bình tinh đã nấu chín, xay hoặc giã bột thật nhuyễn, trộn đường, xong đổ vào khuôn kim loại để “in”, tức là đúc thành chiếc bánh có hình khối vuông, khối chữ nhật, hay khối lăng trụ (riêng bánh sen tán thì có hình viên tròn), trên mặt bánh có chữ thọ (chữ Hán) hay bông sen in nổi. Sau đó bỏ bánh lên sề (nia lớn) và đặt sề trên một cái bồ, bên dưới có một chậu than nóng để sấy. Cuối cùng là gói bằng giấy dầu trong màu đỏ, vàng, xanh hoặc gói bằng giấy dày có màu ở mặt ngoài. bánh đậu xanh khô là loại bánh in làm bằng đậu xanh. Người ta thường dùng đậu xanh cà, ngâm nước để bóc vỏ. Sau đó ngâm tiếp khoảng hai giờ. Lấy đậu bỏ vào xửng hấp cho chín, trộn với đường rồi đem giã bằng cối hoặc dùng máy xay nghiền cho thật mịn. Dùng khuôn kim loại để in. Cuối cùng là sấy bánh bằng lò nướng hay bằng lò than. Bánh đậu xanh khô nếu được trộn đường nhiều thì có thể giữ được lâu từ 1-2 tháng. bánh đậu xanh ướt là một loại bánh in làm bằng đậu xanh hay đậu quyên. Đậu sau khi ngâm, bóc vỏ, hấp chín, giáo với đường. Dùng đũa bếp đánh cho thật nhuyễn cho đến khi tới (thử tới hay chưa bằng cách dùng ngón tay ấn vào, nếu thấy không dính tay thì biết là tới). Để cho nguội rồi đặt bột vào khuôn có tráng dầu (để cho bột khỏi dính khuôn). Gói bằng giấy dầu trong. bánh măng bánh làm bằng bột nếp và măng tươi được chải ra bằng lược dày thành sợi rất nhỏ, rim với đường. Bột sau khi giáo, trộn với đường và sợi măng, rồi vắt thành cục nhỏ, thả vào nước và luộc. Sau đó đổ vào một hộc bằng gỗ, rồi ép cho phẳng. Tấm bánh to được cắt thành khối vuông như bánh in và dùng hai dung giấy quyến bắt chéo nhau tạo thành hình chữ thập, gói lại, bọc ngoài bằng giấy dầu trong (giấy kính).
bánh mận bánh như bánh măng nhưng không có măng (có thể thay bằng hạt dưa) và lăn mè trắng bên ngoài. Gói bằng hai dung giấy quyến theo hình chữ thập và bọc ngoài bằng giấy dầu trong. bánh nếp một loại bánh in, làm bằng bột nếp khô, đổ vào khuôn đồng hình khối vuông, có nhân làm bằng bí đao xắt hột lựu đã rim đường và mè bóc vỏ, gói trong giấy kính màu. Có khi người ta thêm tóp mỡ gáy cũng xắt hột lựu và ngũ vị hương vào trong nhân. Cũng có loại bánh nếp dùng khuôn hình tròn và dẹp. Khi gói người ta buộc túm ở phía trên và dưới, rồi cho phần giấy dư xòe ra cho nên cũng gọi là bánh bông sen. Các địa phương khác như Quảng Ngãi, Bình Định cũng có làm nhưng bánh rất to, đúc thành từng miếng hình khối chữ nhật dẹp, dài 15 – 20 cm, rộng khoảng 8 cm, cao 4 cm, gọi là bánh khảo. bánh phục linh là một loại bánh in giống như bánh đậu xanh khô hay ướt có hình khối chữ nhật. Bánh này hồi xưa làm bằng bột bình tinh, sau này làm bằng bột năng, là loại tinh bột làm từ củ sắn (củ mì) trộn với nước đường, có thể là đường phèn và nước ướp hoa lài. Ở miền Nam bánh phục linh được đổ khuôn tròn và dẹp, bên trên đúc hình bông hoa hay con cá, con mèo, v.v.. Người ta cũng dùng bột năng nhưng nước đường thì pha nước cốt dừa và lá dứa. Bánh còn được trộn màu thực phẩm để có màu hồng hay xanh lục. bánh rơm bánh làm bằng khoai lang xắt lát mỏng, và cả khoai xắt rối, trộn với một ít bột gạo hoặc bột mì, rán trong mỡ. Dùng đũa để làm cho bánh có hình tròn, hơi dẹp. Khi bánh vàng sắp vào đĩa rắc thêm đường cát lên trên. bánh sen tán bánh có dạng viên tròn, làm bằng bột hột sen hoặc đậu quyên hay đậu xanh. Hột sen hay đậu được ngâm và bóc vỏ, nấu chín, nghiền cho nhuyễn. Sau đó mới sên nước đường (lượng đường và bột ngang nhau), trộn bột và giáo cho thật khô. Bột này trở thành rất cứng cho nên người ta bỏ vào cối đá giã (gọi là tán) và rây kỹ một lần nữa mới nắn thành viên tròn, sấy lại rồi gói bằng giấy kính màu có túm hai đầu và cắt giấy ở hai đầu thành nhiều tua nhỏ để trang trí. bánh sen vò là bánh giống như sen tán nhưng giáo bột chưa tới – còn ướt. Lấy ra vò thành viên tròn, đặt lên sề sấy. Khi khô bánh này sẽ có ba lớp: lới ngoài cứng, lớp trong mềm, và ở giữa là lớp bột rất mềm. Cũng gói bằng giấy dầu trong, buộc túm hai đầu, có nhiều tua. bánh su sê hay bánh phu thê là bánh làm bằng bột sắn lọc đun sôi trong nước đường, có trộn sợi dừa nạo, (gọt từng lớp mỏng từ ngoài trái dừa vào trong rồi xắt rối), thêm một ít dầu và giáo bột kỹ. Sau đó đổ vào khuôn hình vuông làm bằng lá dừa, cho thêm nhân đậu xanh vào giữa, dùng một dung lá dứa lót chữ L và hấp chín trong xửng. Khi nguội úp thêm ngoài một nắp hộp cũng làm bằng lá dừa. Bánh thường được làm quà cho nhà gái trong lễ hỏi, lễ cưới. Bánh su sê khác với bánh xu xê của miền Bắc làm bằng bột nếp trộn với bột đao, làm thành viên tròn, không có khuôn, thường pha màu đỏ, trắng và cũng khác với bánh su sê ở trong Nam làm bằng bột năng, pha màu xanh lục gói trong giấy làm màng PE. Sách tham khảo: Hoàng Thị Kim Cúc. Nghệ Thuật Nấu Món Ăn Huế. Đà Nẵng: Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 1999.
bánh tày dt loại bánh giống bánh tét nhưng nhỏ hơn và nếp được trộn với đậu đỏ để nguyên hột. Thường thường cũng có nhụy đậu xanh và thịt mỡ, nhưng có khi không có. Thường gói và nấu khi cúng giỗ ở nông thôn. bánh tét (+N) dt bánh chày (B), loại bánh giống như bánh chưng nhưng gói thành hình trụ, gọi là đòn bánh. Chỉ dùng lá chuối chứ không có lá dong. Khi cắt bánh thì dùng sợi lạt khoanh một vòng xung quanh đòn bánh và siết lại. Động tác này gọi là tét bánh. Đây là loại bánh truyền thống trong ngày tết ở Huế. Ngoài Bắc ngày tết chỉ có bánh chưng.
bánh tráng (dày) dt bánh đa (B). Bánh tráng nướng thường bẻ nhỏ để ăn với giấm nuốc, bún khô-thịt nướng, cỗ lạt, bẻ miếng to để xúc mít trộn. Bánh tráng nhúng nước có thể cuốn với bún, khoai lang, rau muống chấm với nước lèo. bánh tráng mỏng dt bánh đa nem (B) có thể cuốn nem, tré, bún, rau sống, khế, vả chấm nước lèo hoặc làm món ram.
bao báp dt (thv) cây bao báp nguồn gốc ở châu Phi, tên khoa học Adansonia Gradieri L., thuộc họ Gạo Bombacaceae, có thể sống tới hàng ngàn năm. Cây được trồng trong sân nhà số 116 đường Mai Thúc Loan, trước đây là Sở Thủy Lâm, nay là khách sạn Festival. Người địa phương gọi là cây trái chuột. Ngoài ra còn một cây ở ngã ba Thánh Giá, sau lưng nhà thờ Phủ Cam. Gần đây (2003) Huế đã ươm thành công loại cây hiếm này.
bát bát dt (thv)1. dây miểng bát, dây bình bát (N) là cây leo hoang dại, có tên khoa học là Coccinia cordifolia L., họ bí, Cucurbitaceae . Bát bát có hoa 5 cánh trắng, lá hình tim, chia làm 3 thùy, mép có khía răng cưa, trái giống dưa, chỉ dài 5cm. Người ta thường hái nấu canh. Theo Đông y, lá bát bát có tính mát, có thể trị mụn nhọt bằng cách giã nhỏ đắp lên, hoặc trị cảm sốt bằng cách giã rồi xoa khắp người. Con ve ve kêu hòn núi Chén, Dây bát bát leo núi Ngự Bình … (hò) 2. loài cây giống như cây bình bát trong miền Nam (Annona reticulata L.) là cây thân gỗ nhỏ, cao 5-10m, lá dài 10-15cm, rộng 5-10cm, nhọn ở hai đầu. Trái như mãng cầu (na) nhưng to hơn gấp 2, 3 lần, và có hình trái tim giống mãng cầu dai, đôi khi có hình dáng bất định như mãng cầu xiêm. Khi chín, vỏ màu xanh lục nở gai và chuyển sang màu vàng pha đỏ, rồi chuyển sang nâu. Trong miền Nam cây bình bát thường mọc hoang dại dọc theo bờ kinh, mương. Ở Huế cây bát bát được trồng làm cây ăn trái, nhưng giống cây này gần đây trở nên rất hiếm. bàu (+N) dt đầm, phá, trên đó người ta chia ô giống như thửa ruộng, vây lại bằng lưới để nuôi tôm, cá, gọi là ô bàu. báu (+B) tt quý: Đồ nớ thì báu chi mà khoe! bảy đgt thổi bay: Ba ơi, tờ giấy chi của ba bị gió bảy tê tề!. Nhà qua không đói không giàu, Nấu nồi canh hẹ bảy màu thơm xa. (... bay mùi thơm xa) (hò) bảy mươi chưa què chớ khoe mình lành ng đừng khoe khoang là mình luôn tốt hoặc đẹp đẽ vì không ai biết được ngày mai mình sẽ ra sao. Ngữ này thường được dùng để ngăn chặn những lời lẽ tự phụ của người đối thoại. bảy rảy tt bứt rứt, bực bội: Ai làm chi hắn mà khi hồi chừ hắn cứ bảy rảy rứa hè? bằm (+N) đgt vằm, băm: Bằm thịt cho mềm rồi nấu cháo cho em ăn. bẳm đgt hút (vùng Phong Điền) Mời eng bẳm điếu thuốc cho ấm. bặm trợn (+N) tt dữ dằn: Thằng nớ mặt mày bặm trợn ai thấy cũng ngán. băn hăn bó hó (+N) tt nhăn nhó, bực bội; bặc hặc (N): Ai làm chi mi mà mi băn hăn bó hó rứa thằng tê? bằng (cúng) dt bốn hoặc sáu chiếc đò kết với nhau bằng những tấm ván, trên đó đặt bàn thờ để nhiều người có thể đến làm lễ.
bắp chuối (+N) dt (thv) hoa chuối (B) là hoa chuối chưa trổ buồng hay đang trổ nhưng chưa hết. Ở Huế bắp chuối được dùng trong nhiều món ăn như bắp chuối xắt sợi thành một món rau sống, bắp chuối trộn tôm thịt, mà miền Bắc gọi là nộm hoa chuối và miền Nam gọi là gỏi bắp chuối, canh bắp chuối nấu với tôm, ram bắp chuối, v.v. Bắp chuối thường được dùng trong món ăn là bắp chuối sứ. bắp lòn dt (thv) ngô tẻ (B) là loại bắp có hột vàng, nhưng do hiện tượng lai tự nhiên nên cũng có hột trắng và tím: Nếp lộn lòn, trẻ con mau nậy.(tục ngữ) (Ăn bắp nếp chung với bắp lòn, giúp trẻ con mau lớn; cũng có ý nói con trai và con gái gần gũi nhau thì sẽ mau lớn.) X bắp nếp bắp lớ dt món ăn làm bằng bắp rang, giã nhỏ và trộn với đường. Trẻ con khi ăn thường dùng lá (phát âm là lớ) mít để xúc. bắp mỏ dt (tiếng lóng) miệng (ý miệt thị): Mi mà còn láu lưỡi tao tát cho toe bắp mỏ a chừ! bắp mọi dt (thv) bắp có hột toàn màu tím sẫm. bắp nếp (+N) dt (thv) ngô nếp (B) là loài bắp có hột trắng ngà, khi nấu trở nên rất dẻo hay có khi nhão. Bắp nếp thường được dùng để nấu món xôi bắp, chè bắp. bắp ram dt món ăn còn gọi là chả bắp, làm bằng bắp giã nhỏ và chiên vàng sẫm. bắp rang (+N) dt bỏng ngô (B) món ăn làm bằng hột bắp khô rang trong nồi đất. Ngày nay có thể rang bằng máy, thường có tẩm bơ hay rang trong microwave. bắt đgt 1.phát: Mi làm tao chờ bắt mệt. · Trễ một chút mà ôn la dữ quá làm tụi tui bắt ớn luôn. 2. nhồi, nặn: Chiều ni mạ con mình bắt bột làm bánh quai vạc ăn hè! · Để ba bắt đất sét làm cho con con chó nghe! bắt bết trgt vội vàng: Ôn hối quá làm tụi tui mần bắt bết. · Nghe con khóc mụ Tư chạy về nhà bắt bết. bắt bíu đgt níu lấy, bám theo: Thấy thằng anh dắt chiếc xe đạp ra là con em cứ bắt bíu đòi chở đi chơi. bắt cặt chó đái ng cũng nói “cầm cặt chó đái”, ý nghĩa giống như “công dã tràng”, là làm một việc tốn công vô ích: Mi làm cái việc nớ là bắt cặt chó đái, vô duyên hết sức. bắt chết trgt rất, lắm (đặt sau tính từ): Trời mưa không đi mần được ở nhà buồn bắt chết. · Eng nớ cứ hứa lèo hoài tức bắt chết. bắt kinh trgt lắm: Thấy ôn nớ là tụi em sợ bắt kinh, không đứa mô dám hó hé. bắt loạn tt nhiều: Ngoài đầm cá tôm bắt loạn, làng tui không lo đói. bắt lươn đằng đuôi ng (nghĩa bóng) dại dột: Mi làm rứa là bắt lươn đằng đuôi rồi. Hắn không trả nợ thì mi cũng không có bằng chứng chi mà đòi mô! bắt lý bắt lẽ ng hay chỉ trích, bắt lỗi: Em nói ra câu chi cũng bị mấy mụ o bắt lý bắt lẽ, em sợ quá. bắt nằm chộ ng làm cho bị ám ảnh: Mặt mũi chi mô mà dễ sợ, thấy bắt nằm chộ luôn! bắt tận tay day tận cánh ng bắt tận tay day tận trán (B), bắt quả tang: Muốn nói thằng Bé hay leo qua vười nhà mi ăn trộm thì mi phải bắt tận tay day tận cánh chơ đừng có đứng mà chưởi đổng như rứa. bẩm tt, trgt 1. lắm, nhiều: Năm ni lúa cả làng miềng tốt bẩm: Năm nay luá cả làng mình tốt lắm.2. sưng (do máu tụ): Chưn mới vấp cục gạch ngoài tê mà chừ đã bị bẩm máu rối. 3. mập mạp: Thiếp với chàng như cây bàng rễ bẩm, Vì thầy với mẹ tham nơi đệm gấm thêu hoa, Xiêu lòng lạc dạ bỏ duyên nợ đôi ta nửa chừng. (hò ru em) bần quân dt 1.(thv) bồ quân, mồng quân (N), loài cây có tên khoa học là Flacourtia jangomas. Cây nhỏ, cao 6-10m, lá to và dài 7-10cm, mặt trên láng. Trái tròn, đường kính 1,5-2,5 cm, vỏ màu nâu đỏ, thịt màu nâu sẫm hay tím, mọng nước, vị ngọt, chua và chát, có 4-5 hột lép. Có truyền thuyết cho rằng cây này có lần đã giúp chúa Nguyễn Ánh ăn cho qua cơn đói khi bị quân Tây Sơn truy đuổi ở miền Nam nên được gọi là trái “phù quân”. Cây bần quân có mặt từ Huế vào Nam, gọi là bồ quân lá nhỏ. Ngoài ra còn có bồ quân lá to, Flacourtia rukam ở miền Nam, và bồ quân Ấn Độ, Flacourtina indica ở vùng từ Nha Trang đến Phan Rang. Trái bồ quân có tác dụng kích thích tiết nhiều mật, giúp phòng bệnh viêm túi mật và sỏi mật. 2. (màu da) nâu: Da bần quân cổi quần không kịp. (tục ngữ) bận (+N) đgt mặc, vận: Thiếp nguyện với chàng có cơm ăn cơm, không có cơm ăn cháo. Chàng nguyện với thiếp có áo thì bận, không có thì bận áo da. Ở răng cho trên thuận dưới hòa, Như Phạm Công thuở trước làm bạn với Cúc Hoa cho trọn niềm. (hò) bấp đgt (biến âm) vấp: Ui cha! bấp cục đá đau quá. bất loạn Nh bắt loạn: Chi chơ nhỡn thì vườn tau có bất loạn. Thứ gì chứ nhãn thì vườn tôi có rất nhiều. bấu dt mấu: Móc triêng vô cái bấu ni nì! bây (+N) đt mày, chúng mày: Bây có giỏi thì đánh nhau với tao này; đánh chi thằng nhỏ ốm o xo bại nớ. đgt để đồ đạc bừa bộn: Một người dọn, ba bốn người bây, ai mà chịu cho thấu! bây chừ trgt bây giờ: Bây chừ anh em mình phải hiệp sức nhau mới làm được việc. bầy choa đt chúng tôi: Eng cứ yên tâm mà đi đi. Chuyện cấy hái để bầy choa lo cho. bầy tui đt tôi: Bầy tui đạ nói là giữ lời. bầy quân đt 1. chúng nó. 2. bà ấy, bà xã tôi. bẫy chờng dt một loại bẫy chim làm giống như cái giường bẫy đạp dt một loại bẫy chim theo nguyên tắc đạp thì sẽ mắc bẫy. bẫy lồng dt một loại bẫy chim có cấu tạo như cái lồng. bẫy lộ dt một loại bẫy chim theo nguyên tắc nhảy vào lỗ thì sẽ mắc bẫy. be he (+N) tt sàm sỡ với phụ nữ: Anh chàng nớ đi mô cũng be he quen thói, không chừng có ngày bị đập sập mũi. bẻ đgt tái phát: Con mới đau dậy, ăn chuối tiêu thôi đừng ăn chuối ba lùn mà bị bẻ. bẹ bẹ tt (giọng nói) trọ trẹ: Cụ Phan nói giọng Nghệ bẹ bẹ. bẻm xẻm tt 1. nói nhiều: Con ni cái miệng bẻm xẻm suốt ngày, không giống ai trong cái nhà ni cả! 2. hay kể những chuyện lẽ ra phải giữ kín: Mi đừng có bẻm xẻm, tao không hơi mô nghe ba cái chuyên lăng nhăng lí nhít nớ! béng dt (biến âm) bánh (vùng ven biển huyện Phú Lộc): Con thích ăn béng chi, béng gói hay béng nậm? beo (+N) dt (đv) con báo: Người chi mà hung dữ như cọp beo! béo đgt véo (B), nhéo (N): Mạ ơi, chị Tí béo má con. béo bạo tt rất béo; mập: Mi ăn chi mà mi béo bạo rứa? béo thù lu thúc lúc tt béo trục béo tròn (B) O nớ còn trẻ mà đã béo thù lu thúc lúc, không biết có ai ưa không? béo ù nu úc núc Nh béo thù lu thúc lúc bẹp dt (tiếng lóng) 1. bộ phận sinh dục nữ (thường nói về trẻ con) 2. con gái: Chị Ba sinh rồi há? Tằm hay bẹp? (trai hay gái) bét tt toét: Cụ mi thấy không, dân miền biển ni nhiều người bị mắt bét, chắc vì gió cát dữ quá. bét (+N) đgt phanh ra, mở to ra (phát âm là béc): Bét mũi ra mà rửa cho sạch. · Bét mắt ra mà coi, có ngày mi cũng phải đi xin xỏ, năn nỉ người ta đó! bẹt (+N) trgt bẹt dèm, bẹt hiệu (N), chót, cuối: Lêu lêu, về chót bẹt! Lần sau đừng nói dốc. bê dt 1. dụng cụ làm bằng mây để đập ruồi gồm một đọan mây dài chừng 1 m, ở đầu chẻ thành năm nhánh như ngón tay xòe ra rồi dùng lạt đan thành một tấm dẹp hình tam giác. 2. dụng cụ của thợ nề dùng làm bằng một miếng ván gỗ hình chữ nhật để đựng vữa bên trên, phía dưới đóng một khúc gỗ nhỏ thẳng góc để nắm tay. bề tt tốt, đẹp: Cái áo bề quá hè! bề tui Nh bầy tui bể (+N) đgt vỡ (B) Khéo rớt bể cái chén! · Con mèo nhảy bể nồi rang, Con chó chạy lại, chó mang lấy đòn. (ca dao) bể nồi gạo ng (nghĩa bóng) bị mất việc, hỏng việc: Ở nơi công sở con phải nói năng cho cẩn thận, coi chừng bể nồi gạo đó. bên mặt (+N) dt bên phải: Đi đàng nhớ đi bên mặt nghe con. bên ni dt bên này: Nhà bác Tề ở bên tê sông, đứng bên ni ngó không thấy. bên nớ dt bên kia: Con qua bên nớ mà ngồi học, để chỗ ni cho hai bác ngồi nói chuyện với mạ. bên tê Nh bên nớ bên tê tề ng bên kia kìa: Ngó bên tê tề! Chộ chưa? (Nhìn bên kia kìa! Thấy chưa?) bệt đgt quệt: Bình vôi đây! Mấy chị bệt mà ăn mỗi người một miếng trầu cho vui. bệt rệt tt yếu ớt: Tui bị cảm cúm cả tuần ni, chừ người hắn bệt rệt, đi đứng không nổi. bi dt vây: Cá ni phải lóc bi lóc bảy thiệt kỹ mới ăn được. Lóc bảy: lóc vảy. bi kê dt (gốc tiếng Pháp briquet) bật lửa: Đố mi cái chi không tròn mà gọi là bi, không gáy mà gọi là kê? bì lời dt (thv) cây bụi, mọc hoang, giống như cây ngũ sắc, cho trái tròn, nhỏ bằng hạt đậu xanh. Trẻ con thường bỏ vào ống hóp (tre thân nhỏ), và dùng một que để thụt như bắn súng. Khi bắn cũng có tiếng nổ và người bị bắn ở tầm gần cũng hơi đau. X ngũ sắc bì lời tt kèm nhèm, không thấy rõ : Chữ trong sách người ta to như ri mà mi đọc không ra, đúng là mắt bì lời rồi. bí ngô (+B) dt (thv) bí đỏ, bí rợ (N) là loài cây có tên khoa học là Cucurbita pepo, họ bầu bí Cucurbitaceae. Bí thân bò, có trái to, thường là hình cầu (cũng có loại dài như bí đao), dùng làm thực phẩm. Thân bí có tua cuốn, lá có phiến rộng, xẻ thùy. Hoa bí màu vàng. Vỏ có màu xanh, có thể trở thành hồng, vàng, pha trắng. Bí là loài cây mà người ta có thể ăn đọt non, hoa, trái non, trái chín, và cả hột. Đọt bí thường xào, um, nấu canh với cà chua, có tác dụng thanh nhiệt, nhuận trường. Bông bí có nhiều beta-caroten, được biến thành vitamin A trong cơ thể và cũng thường được um với cà chua. Bí non có thể ăn bằng cách luộc, nấu canh. Trái bí là một món ăn quen thuộc, nhất là với những người ăn chay. Bí có thể được um, xào, chiên, và nhất là nấu canh, cùng với đậu xanh và đậu phụng. Mùa hè ăn bí sẽ giải nhiệt, bớt táo bón, phòng ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường, chống bệnh mắt quáng gà. Hột bí rang ăn để xổ giun sán. Hột bí ăn chung với hột cau sẽ xổ được cả sán xơ mít. bí mọi dt (thv) bí sáp (N) một loại bí ngô trái nhỏ, ruột đỏ. bìa dt (nghề đúc) khuôn ngoài.X cốt, thịt. biền (+N) dt đất, ruộng sát bờ sông, bờ kênh: Trồng dừa ngoài biền mà giữ đất cho khỏi lở bác nờ. biệng (+N) đgt đánh đòn: Có im đi không, tao biệng cho một trận chừ. biết mô ng không biết: Đồ đạc của anh thì anh giữ, tui biết mô. · Thằng nớ còn nhỏ hắn biết mô cái chuyện đó. trgt có thể, có khả năng: Biết mô hắn có tay trong tay ngoài. biết mô đó ng chưa chắc là như vậy: Thằng nớ con nhà giàu, chắc không ăn cắp mô. – Biết mô đó, bộ nhà giàu là không tham lam à? biết mô được ng Nh biết mô đó biết mô mà mò ng 1. không biết ở đâu: Hắn để chìa khóa lộ mô quên rồi, chừ bắt tao đi tìm, biết mô mà mò! 2. không biết phải làm gì hay làm sao: Cả đời không đi chợ, chừ vợ sai đi mua gà về làm thịt, biết mô mà mò đây? biết mô mà rờ ng Nh biết mô mà mò. biết răng chừ ng biết làm sao bây giờ: Ôn la thì phải ráng chịu chứ biết răng chừ? · Con dại thì cái phải mang chơ biết răng chừ? biết răng không ng biết chuyện gì không (dùng trong văn nói để mở đầu một thông báo): Biết răng không? Thằng Hậu sứt rủ được con Nga đi xi nê túi qua đó! biết ri ng nếu biết như thế này: Biết ri thì trước tê đừng lấy chồng cho rồi! biết rứa ng Nh biết ri biểu răng ng làm sao (mà): Bà cưng chiều hắn như rứa biểu răng hắn không hư được? · Học hành nhác nhớm như mi biểu răng mà lên lớp được? binh (+N) đgt (biến âm) bênh: Mạ khi mô cũng binh chị mà la con hoài! bình thân đgt (gốc Hán) đứng thẳng lên sau khi lạy. bình tinh dt (thv) hoàng tinh, là một loài cây có tên khoa học là Maranta arundinacea, thuộc họ hoàng tinh Marataceae (cùng họ với lá dong), còn gọi là dong tây, dong củ (B), dong đao, mì tinh (N). Đây là loài cây thân thảo, cao 0,5 – 0,7 m. Lá tròn có gân song song, hoa màu trắng. Củ dài, có hai lớp vảy bao quanh. Củ chứa nhiều tinh bột và xơ, có thể luộc ăn, chấm với đường, hoặc lấy bột làm bánh in, bánh thuẫn. Người Huế thích ăn món bột bình tinh vào buổi chiều (bữa lỡ): khuấy bột với nước, đun sôi cho đến khi vừa đặc và trong veo thì trộn thêm đường cát. Theo đông y, bình tinh có tác dụng giải nhiệt, bổ phổi. bình trà (+N) dt ấm trà (B) : Con đem bình trà ra rót nước mời bác Dưỡng đi ! bịnh hoạn (+N) tt ốm (B), bịnh (N): Hắn nhác đi mần đó chơ bịnh hoạn chi.
bịp bịp dt 1. (đv) chim bìm bịp, một loại chim nước, tên khoa học là Centropus sinensis, họ cu cu cuculidae, bộ cu cu cuculiformes. Chim có đầu, cổ, ngực, và đuôi màu đen, nhưng vai và cánh màu hung nâu. 2. (thv) loại trái cây giống như chôm chôm không tróc (N) trong Nam (Nephelium lappaceum), nhưng vỏ có màu vàng, cơm vàng nhạt, vị hơi chua. bịt khăn (+N) đgt quấn khăn khi để tang: Ôn chú bên chồng con chết con có bịt khăn không mạ? bịt tai cài trôốt đgt không muốn nghe: Bác vô nói với ôn dùm cho cháu một tiếng. Cháu nói mấy ôn cũng bịt tai cài trôốt. bíu đgt níu: Thằng cu Tẹo mà chộ tui là hắn cứ bíu bắt bồng, không làm ăn chi được. bo đgt 1. (biến âm) vo (gạo): Bo gạo nấu cơm cho rồi con, trưa rồi đó. 2. gội (đầu): Tao đi bo cái trốt cái đã, ngứa quá rồi. 3. xắn: Chỗ ni nước su, bo quần lên mà lội. bó chày buộc chặt ng tính tóan chi li: Mụ mi tính như rứa là bó chày buộc chặt quá, cũng phải để cho người khác ăn lời chút ít chơ! bỏ khăn dt một trò chơi trẻ em, trong đó các em ngồi thành một vòng tròn, một em cầm chiếc khăn tay đi sau lưng các bạn và nhẹ nhàng bỏ chiếc khăn ở sau lưng một bạn, rồi tiếp tục đi vòng tròn. Nếu bạn kia không phát hiện thì em này khi đi giáp vòng sẽ nhặt khăn quất vào lưng bạn kia, bạn kia phải đứng dậy và chạy vòng tròn để tránh bị quất, sau khi rượt đuổi hết một vòng em sẽ ngồi vào chỗ của bạn và bạn sẽ đi bỏ khăn. Nếu bạn kia phát hiện được sẽ nhặt khăn và đứng dậy đuổi theo và quất vào lưng bạn bỏ khăn, đến khi giáp vòng thì được ngồi vào chỗ cũ còn em kia lại tiếp tục đi bỏ khăn. bỏ mứa (+N) đgt bỏ thừa (B); không ăn hết: Đừng ăn bỏ mứa, tội trời lắm đó con ơi. (Không ăn hết, bỏ thúc ăn sẽ có tội với trời đó.) bỏ phân đgt bón phân: Ngày mơi con đi bỏ phân cho vạt ló gần côi mương nghe. bọ mắt (+N) dt (đv) bù mắt (N), loài côn trùng nhỏ hơn muỗi, thường bu vào mắt hoặc trái cây chín : Con canh chừng, thấy mấy con bọ mắt bu trên mắt em thì đuổi đi hí ! Mạ đi vô bếp nấu cơm cái đã. bọc dt túi (áo, quần): Mạ ơi mấy hòn bi con bỏ trong bọc chừ mô hết rồi? bòn (+N) đgt 1. kiếm và để dành từng chút một: Vợ chồng hắn đang cố bòn mót để sang cái sạp ngoài chợ. 2. xin xỏ, rút tỉa: Làm ăn thất bát, chừ hắn về nhà chực bòn tiền của hai ông bà già thôi. bòn bon (+N) dt (thv) còn gọi là lòong boong, Lansium domesticum Hierr.var, dâu đất, cây thường mọc hoang, trái kết chùm ở thân và cành, vị hơi chua chua, ngọt ngọt, còn gọi là nam trân. X nam trân Trái bòn bon trong tròn ngoài méo, Trái thầu đâu trong héo ngoài tươi, Em thương anh ít nói ít cưới, Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng. (ca dao) bòn tro đãi trú ng bòn tro đãi trấu (nghĩa bóng) nhặt nhạnh ; bòn táy, cắp nắp, cắp ca cắp củm (N) :Để làm được cái nhà ni tui phải bòn tro đãi trú ngót hai mươi năm đó ! bón (+N) tt táo (B), khó đi cầu: Mấy bữa ni trời nóng quá cả nhà ai cũng bị bón. Chắc phải kiếm long tu nấu chè ăn cho giải nhiệt. bỏng đèn dt bóng đèn : Chiều ni đi học về con ghé chợ mua một cái bỏng đèn thay cho bỏng ở nhà bếp bị cháy rồi nghe con ! bọp đgt bóp: Lựa thì rờ là được rồi; đừng có bọp, hư của tui hết. dt. (đv) một loại sò rất to, đường kính 8-10cm, màu trắng bót đánh răng dt bàn chải răng: Mạ ơi, mua cho con cái bót đánh răng mới đi, bót của con mòn hết rồi. bô (+N) dt bố mẹ (giống tiếng Mường): Ông bô bà bô mi có dữ không? Tụi tao tới nhà chơi có được không? bô lô chi trợt ng tay trắng, không có của cải gì: Lụt lịt mà chín mà mười, vừa nói vừa cười bô lô chi trợt. (phong dao) bồ đgt bù: Đưa em cho tới làng Hồ, Anh mua trái mít em bồ trái thơm. (ca dao) (Hồ là làng Hồ Xá, Vĩnh Linh, Quảng Trị, hồi xưa hay có cướp) bồ chao dt (đv) chim khướu, garulax chinensis, loài chim có cánh đen, hay nhảy, hay hót : Lao xao như bồ chao bể ổ. (tục ngữ) bồ côi tt (biến âm) mồ côi. bồ hôi dt (biến âm) mồ hôi.
bồ ngót (+N) dt (thv) rau ngót (B), loài cây thân thảo có tên khoa học là Sauropus androgynus, thường dùng để nấu canh ăn, có tác dụng giải nhiệt: Mạ mi đi chợ nhớ mua bồ ngót nấu canh ăn cho mát. bồ xa bồ xót đgt xuýt xoa, than vãn: Thôi mất thì thôi, để ba mua cho cái khác, đừng bồ xa bồ xót nữa. bổ đgt ngã (B), té (N): Cẩn thận cả bổ con nghe! Đừng lầp lởn, khéo bổ con! · Thương ai nên phải đi đêm, Bổ ba keo thịch, đất mềm không đau. (lý hoài nam) bổ béo tt bổ dưỡng: Đồ ba con ốc thì bổ béo chi mà bây mê dữ rứa? bổ cái oạch đgt ngã uỵch (B): Cái cươi trơn quá, thằng cu nhà tui buổi sáng mới chạy ra đã bổ cái oạch. bổ cái thịch Nh bổ cái oạch bổ chổng cọng đgt ngã lăn kềnh (B), té chỏng gọng (N), té lật gọng (N), té ngửa, chân tay đưa lên trời: Mấy bữa ni đường ra hói trơn quá, có mấy người bổ chổng cọng rồi. bổ chổng cọng dơ que Nh bổ chổng cọng bổ chổng mông đgt ngã sấp, mông chổng lên trời: Ra giếng cẩn thận. Coi chừng bổ chổng mông đa! bổ chúi đgt ngã, đầu chúi xuống trước: Thằng Tẹo đi phía sau vấp cục đá bổ chúi vô vũng nước. bổ lăn chiêng đổ đèn đgt ngã, té lăn quay: Tụi con chơi rồng rắn đứa mô cũng bổ lăn chiêng đổ đèn. bổ lăn cù đgt ngã lăn quay. bổ ngửa đgt 1. ngã ngửa. 2. sửng sốt, bàng hoàng: Nghe tin thằng Nhơn bỏ nhà ra đi tui bổ ngữa. bổ sấp đgt ngã sấp, úp mặt xuống đất: Con Tí chơi đạp mạng mà còn mang guốc. Rứa là bổ sấp gãy mất cái răng cửa. bổ xiên bổ xẹo ng ngả nghiêng: Cái ôn ni uống mới có một ly mà đã đi bổ xiên bổ xẹo. Hồi hôm gió to quá, cây cối trong vườn bổ xiên bổ xẹo cả. bộ đgt dần gạo để tách trấu ra cho hết: Bữa ni eng nhớ bộ ló cho thiệt sạch để mơi làm cơm cúng đó. trgt 1. có phải? Bộ bác quên cháu rồi hay răng? · Bộ hết chuyện nói hay răng mà đem tui ra làm đề tài rứa? 2. ý chừng: Bộ mi tưởng tao không không dám đánh hắn à? · Bộ anh cho rằng anh là ông trời con đó chắc? bộ giàn trò dt (kiến trúc) bộ khung bằng gỗ của một ngôi nhà gồm cột, kèo, đòn tay, xuyến, trến, v.v. bộ ngũ sự dt bộ đồ thờ gồm bộ tam sự, thêm lư trầm và bình bông. bộ ngựa (+N) dt phản để nằm gồm một hai hai tấm gỗ dày ghép lại, kê trên hai con đà có chân. Còn gọi là bộ phản hay bộ ván. bộ tam sự dt bộ đồ thờ gồm lư hương và hai chân đèn bằng đồng. bôi lọ đgt bôi nhọ: Nói chi thì nói, nhưng đừng có bôi lọ nhau. bối (+N) đgt búi tóc: Con thích mạ bối tóc chơ đừng phi dê. Để tóc dài và búi, không uốn tóc. bổi dt 1. cây dương xỉ ở trên núi, thường dùng để đun bếp: Thằng Tẹo đi bứt bổi côi rú rồi. Thằng Tẹo đi hái dương xỉ trên núi rồi. 2. lá khô, cỏ rác để đun nấu: Con đi gom bổi chụm cho ba ấm nác. Con đi nhặt lá đun cho ba ấm nước. bôn chôn (+N) tt nôn nóng: Trời chưa sáng mà anh bôn chôn dữ rứa. Đợi trời rợn rồi hãy đi! bộn (+N) tt nhiều: Chi chơ khoai củ thì làng tui có bộn. Gì chứ khoai thì ở làng tôi có nhiều lắm. Eng ni tuổi cũng bộn rồi mà còn kén chọn. bông (+N) dt hoa, có nơi phát âm là bôôn: Ôn ngoại thích trồng bông trong vườn. bông ba dt hoa (nói chung): Ba mươi, mùng một nhớ mua bông ba, hoa quả cúng bàn Phật nghe con. bông đũa dt hoa giả dùng để trang trí trên trang thờ thổ công làm bằng một thanh tre vót nhỏ như chiếc đũa, ở đầu được tướt cho xơ ra và xoắn lại với nhau tạo hình một bông hoa và nhuộm màu. bông lùng dt hoa trang trí trên trang thờ thần bổn mạng làm thành từ một loại cây có tên là cây lùng. Cây này có lõi trắng, mềm. Người ta dùng một cây vót nhỏ để đẩy phần lõi này ra, sau đó cuốn thành một vòng tròn phẳng. Cuối cùng người ta làm cuống hoa và cành bằng tre, bọc giấy và làm lá cũng bằng giấy nhuộm màu. Đây là một sản phẩm của làng Thanh Tiên. bồng (+N) đgt bế (B): Xay lúa thì khỏi bồng em. bộng (+N) dt 1. hang, lỗ: Ngày mai đi đào bộng lôn mấy cơn bưởi. 2. dụng cụ nhà nông dùng để cán đất cho nhỏ do trâu kéo bơ lt Nh ba.1. rồi thì: Bác uống xong ly nước bơ bác đứng dậy đi về, không nói chi nữa cả. 2. thì (chỉ kết quả): Để hắn theo anh lên dinh bơ tui chết. Hắn ở nhà hắn đỡ đần tui biết bao nhiêu việc. bơ ngơ (+N) tt bơ vơ: Cam đời mô mà cam không ngọt, Ớt đời mô mà ớt chẳng cay. Sao anh nghe lời phờ phỉnh, lá lay, Bỏ em bơ ngơ báo ngáo giữa chốn này anh ơi? (hò) bời chời bợt chợt tt hời hợt; nông cạn: Suy nghĩ như rứa là còn bời chời bợt chợt lắm! bới (+N) đgt mang theo: Mơi nhớ bới cơm trưa mà ăn rồi mần luôn cho tiện. · Răng chừ cho ló vàng vang, Cho eng đi cắt, cho nàng bới cơm. (ca dao) (Mong sao đến mùa lúa chín để anh đi cắt và nàng mang cơm.) bởi rứa ng chính vì lẽ đó: Bởi rứa, hắn thi rớt là phải. lt vì vậy: Hắn hay làm cao, bởi rứa khi hắn thất thế không ai muốn giúp đỡ. bơn đgt (biến âm) bưng: Bơn cái nong đậu phụng ra ngoài cươi phơi đi con. bớp tai đgt bốp tai (N), tát tai : Ở đây làm ăn phải cẩn thận; làm mà trái ý ông là ông bớp tai cho đó. bợp tai (+N) Nh bớp tai. bợt dt bờ (sông) Eng ngồi côi bợt, eng câu. (Anh ngồi trên bờ anh câu.) · Chàng đà vô bợt chàng ơi, Không thương thân thiếp giữa phá, giữa vời lênh đênh? (hò) bợt bạt tt nhợt nhạt, bơ phờ: Răng mà mặt mày mi bợt bạt rứa? Có đau ốm chi không? bu (+N) đgt bâu: Lấy lồng bàn mà đậy đồ ăn lại cả ruồi bu, kiến đậu chừ. bù dt (thv) (biến âm) trái bầu, Curcubita lagenaria vulgaris. bù chì đgt cho thêm tình cảm, chứ không phải là vật chất. Mẹ già mẹ nỏ có chi, Thương con thì lại bù chì cho con. (hò ru em) (Có chuyện kể rằng một gia đình nọ các anh em thay phiên nhau nuôi mẹ già. Trước khi đi sang nhà khác mẹ phải cân để biết người con nuôi mẹ đàng hoàng. Người mẹ trước khi rời nhà một đứa con nghèo đã lén mang chì vào cho nặng khi bước lên cân để các anh khác không trách cứ người em nghèo này.) bù đài dt (biến âm) bồ đài, gàu múc nước: Chưa đầy miệng mo lấy mô cho bù đài. (tục ngữ) bụ dt vú: Thằng ni lớn rồi mà còn rờ bụ mạ, ốt dột lắm nờ! (Thằng này lớn rồi mà còn sờ vú mẹ, xấu hổ lắm.) bui tt (biến âm) vui:
Tới đây hò hát năm ba chuyện cho bui, Keo sơn chi đó sợ chùi không đi. (hò đối đáp) bui bẻ tt (biến âm) vui vẻ: Ngó ngoài mặt thì rứa đó chơ trong bụng có bui bẻ chi mô. bùi đgt (biến âm) vùi: Bùi củ khoai trong bếp chút khuya mà ăn.
bùi dt (thv) trám (B) cà na (N), tên khoa học là Canarium nigrum. Trái bùi màu tím thẫm, ngoài Bắc gọi là trám đen (phân biệt với trám trắng có vỏ màu xanh lục, dùng làm thuốc trị ho, giải say, giải độc do cua, cá, v.v.). Trái hơi dài, khoảng 3-4cm, có hột to. Ở Huế trái bùi thường được muối làm thức ăn với cơm hay dùng để nhâm nhi trong khi uống trà. búi (+N) tt 1. rối: Chị mi bắt chí cho mi xong không chải đầu hay răng mà tóc mi búi xờm xờm rứa? 2. bối rối: Đừng nói nữa. Tao búi ruột búi gan đây rồi. bun tt (biến âm) vun: Bới cơm chi mà đầy bun rứa, chỗ mô mà để đồ ăn? bun bê tt đầy ắp: Hôm qua dì Út đãi bún khô thịt nướng; dì làm cho con hai tô bun bê tràn trề luôn. bun tưới đgt (biến âm) vun tưới: Trồng hường thì phải bun tưới quanh năm bông mới bề. Bún Huế
bún bò món bún nấu bằng nước xương bò và cuống sả, hành củ, tiêu, ớt, ruốc, thịt bò và khoanh giò heo. Khi ăn, khách có thể chọn một trong bốn loại bún: bún nạc thì trong tô bún có nhiều thịt nạc, bún gân thì có nhiều gân bò hơn là thịt, bún huyết thì ngoài thịt bò còn có một hay hai cục huyết to bằng nửa bàn tay, và bún giò thì có một chân giò còn nguyên móng. Khi ăn có thể bỏ thêm ớt tương, bắp chuối, hành, ngò. Nhưng người Huế không thêm nhiều rau sống hoặc giá như món bún bò Huế ở miền nam, và ăn bằng đũa chứ không có muỗng. Nước bún thì cứ húp thẳng từ tô. Bún bò phải ăn thật nóng cho nên những người bán bún ở Huế thường dùng nồi tròn có cổ eo vào để giữ nhiệt, đó là không kể luôn luôn có một lò than hồng bên dưới nồi nước. Muốn ngon ăn bún bò, muốn no ăn bánh đúc. (tục ngữ) bún khô-thịt nướng dt món bún ướt trộn với thịt bò nướng, tỏi, rau thơm và ăn với nước lèo. bún tàu dt miến (B), hủ tiếu (N), là loại thực vật dạng sợi khô được chế biến từ bột đậu xanh, hay bột sắn, hay bột củ dong. Ở Huế bún tàu thường dùng để nấu món canh kim châm với nấm mèo hoặc làm nguyên liệu trong món ram. bún ướt bún tươi (B), sợi bún làm bằng bột gạo pha với bột lọc, thường dùng làm nguyên liệu cho các món bún. Có ba loại bún: bún con, bún lá và bún mớ. Bún con là loại bún sợi quấn thành một khối tròn như cuộn chỉ thêu. Bún lá là loại bún có sợi được trải thành một lớp gồm nhiều vòng tròn đồng tâm trên một miếng lá chuối tươi gần bằng bàn tay. Hai loại này thường để ăn với nước mắm hoặc vị tâm (xì dầu) hoặc mắm nêm pha với chanh, tỏi, ớt. Bún mớ là loại bún thường được bán cân ki lô để làm nguyên liệu cho món bún bò và bún khô thịt nướng. Nơi làm bún nổi tiếng ở Huế là làng Tuần (ở thượng lưu sông Hương), và làng Vân Cù (ở hạ lưu sông Bồ, giáp với Thanh Hà, thuộc huyện Quảng Điền). Sách tham khảo: Hoàng Thị Kim Cúc. Nghệ Thuật Nấu Món Ăn Huế. Đà Nẵng: Nhà Xuất Bản Đà Nẵng, 1999. Trần Kiêm Đoàn. Chuyện Khảo Về Huế. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ, 2000. bung dt 1. (biến âm) cái vung. 2. nồi: Bung ba mươi đúc lại còn niêu. Duyên em không bán, chứ bán cũng nhiều người mua. (ca dao) bùng dt thuyền rồng. buôn gặp chầu, câu gặp chỗ ng gặp thời, gặp hoàn cảnh thuận lợi: Nói chung là bề tui chẳng có tài cán chi, chỉ là buôn gặp chầu, câu gặp chỗ thôi. buồn (hôi) dt mồ hôi: Thương em nỏ biết cho chi, Cho em thước lụa để khi lau buồn. (ca dao) bự chác tt to lớn; bự chảng, bự chà bá (N): Ba tao mới đi Sài gòn về mua mấy trái ổi xá lỵ bự chác. bưa tt 1. (biến âm) vừa lòng, thỏa mãn: Chị nói khi hồi tới chừ, rứa là đã bưa chưa? Chừ đã im để nghe tui nói chưa? · Để mai mạ nấu một nồi chè thiệt to cho mấy con ăn cho bưa. 2. ngán; chán: Ôn Bường tới đây là cứ nói chuyện họ chuyện hàng nghe cho bưa luôn. 3. hợp: Chờ chờ đợi đợi làm chi, Nơi mô bưa nút bưa khuy cứ gài. (hò) bưa bưa trgt. (biến âm) vừa vừa: Nói thì nói bưa bưa thôi nghe, nói quá không ai chịu nổi mô đó! bưa sức trgt tha hồ: Mấy cháu cứ về làng chơi. Cá tôm, gà vịt khi mô cũng sẵn, ăn bưa sức. bừa cấy đgt bừa ở miếng đất có nước để chuẩn bị cấy lúa: Mưa xuống là bắt đầu bừa cấy. bừa dập đgt bừa cho đất tơi ra, rồi để một thời gian mới trồng trọt: Cứ bừa dập đi cái đã rồi lo giống, lo má sau. bừa đạp đgt bừa có hai thanh ngang có cắm răng, người đứng lên trên để trâu kéo đi. bứa dt (thv) cây thân gỗ mọc hoang dại, có tên khoa học là Garcinia oblongifolia, họ măng cụt Clusiaceae. Cây cao 6-7m. Cành non thường vuông, xòe ngang và rủ xuống. Lá hình thuẫn, hơi dài, đuôi và chóp nhọn. Trái có vỏ dày, có khía múi, khi chín cơm màu vàng, chứa 6-10 hạt, vị rất chua. Người ta có thể dùng lá và trái để nấu canh chua. Ngày nay trong phạm vi thành phố không còn thấy. bửa (+N) đgt bổ (B). Bửa cho mạ mấy trái cau để đơm cúng ôn con! Còn con thì lấy rìu bửa củi nấu xôi. bữa diếp dt hôm kìa (trước ngày hôm kia): Tui có chộ hắn bữa tê, bữa diếp chi đó.( Tôi có thấy nó hôm qua, hôm kia gì đó.) bữa lỡ dt bữa ăn phụ thường là vào khoảng từ ba đến bốn giờ chiều. Ở Huế thường ăn các loại bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ướt, bánh ít (kẹp với ram) gọi chung là ram ít. bữa mô trgt hôm nào: Bữa mô mới thượng lương? (Hôm nào mới cất nóc nhà?) bữa mốt dt ngày kia (sau ngày mai) : Bữa mốt là ngày rằm, là ngày kỵ ôn nội đó. trgt ngày kia: Bữa mốt tui qua nhà anh rồi anh em mình cùng đi. bữa ni dt hôm nay: Bữa ni đi bừa, mai bỏ phân. bữa nớ dt hôm ấy: À, bữa nớ tui mắc lôn khoai không tới được. (À, hôm ấy tôi bận trồng khoai.) bữa tê dt hôm kia (trước ngày hôm qua): Anh gặp cụ Nậy bữa qua hay bữa tê? bựa dt (biến âm) bữa: Ăn cho đúng bựa, đúng bèng, con nờ! pht bữa: Trời đánh tránh bựa ăn. · Hắn đau chi rứa? Mới bựa qua, bựa tê còn chộ hắn nôm trâu đi ăn mà! bực (+N) dt (biến âm) bậc: Vô nhà ôn ngoại mệt lắm, phải leo bảy tám bực thềm! bửng lửng bơ lơ tt sững sờ: Nghe tin thầy Lễ bị tai nạn tụi em đứa mô đứa nấy bửng lửng bơ lơ. bường (+N) tt (biến âm) bằng: Ba anh em họ tụi tui bường tuổi nhau hết. dt (biến âm) ấm tích(B); bình trà (N): Lấy cái bường pha trà mời bác, con.
|