|
ha nê trt không biết có đúng không (đặt ở cuối câu): Phía tây có ráng đỏ e bão ha nê? hà đgt há miệng: Con hà đi, con hà đi, để mạ đút cơm cho: dt 1. hàu, loại sò nước mặn thường bám vào thân ghe thuyền làm hư gỗ. 2. loại nấm làm hư khoai lang, hoặc ăn da chân. hà bao dt túi vải thường mang ở thắt lưng. Hồi xưa hà bao gồm hai túi, còn gọi là đảy, nối với nhau bằng một dải lụa, dùng để đựng cau trầu và thuốc hút. hả (+N) đgt há: Hả miệng cho mạ coi cái răng mô làm con đau. hạ bạn dt người miền biển, thường đi làm thuê ở vùng đồng bằng vào mùa gặt lúa. hạ giá đgt (cung đình) (công chúa) lấy chồng. X nạp phi hạ hưởng lễ cúng tổ tiên vào đầu mùa hạ vào ngày 1 tháng 4 âm lịch. X thu hưởng hạ liêu đt (cung đình) từ xưng hô ngôi thứ nhất của quan cấp thấp nói chuyện với quan cấp cao hơn. hách xìa đgt hắt hơi: Mới sáng sớm đã hách xìa mấy cái liền, không biết có ai nhắc đây. (theo niềm tin dân gian, nếu có ai nhắc đến tên mình, mình sẽ bị hắt hơi) (thv)
hải đường dt (thv) loài hoa có tên khoa học là Camellia amplexicaulis, thuộc chi trà Camellia, họ chè Theaceae. Cây thân gỗ nhỏ, cao hơn 2 m, lá dày, dài 3-17cm, mặt trên bóng láng, mép có khía răng cưa. Hoa lớn, đường kính 1-12cm. Hoa thường có màu đỏ, hoặc trắng, hồng. Ở giữa có nhụy vàng. Hoa này thường có ở trong các khu vườn xưa, ngày nay ít thấy. Hoa hải đường được khắc vào Nghị đỉnh. hàm hồ hàm chứa ng nói bừa, không có lý lẽ: Mụ nớ ăn nói hàm hồ hàm chứa, ai cũng ngán. hạm đgt 1. (biến âm) hãm: Cỏ nhiều như rứa hắn hạm lúa hết; 2. hãm hiếp: Làng miền cũng có mấy o bị Tây hạm. hàng kỉnh dt tổ chức phường hội của những người thợ rèn ở làng Hiền Lương và Phú Bài. hàng thịt ngúyt hàng cá ng (nghĩa bóng) ganh ghét nhau: Chuyện giữa vợ eng với vợ tui chỉ là chuyện hàng thịt nguýt hàng cá, nỏ có chi quan trọng. háng (+N) dt bẹn (B) hanh hao tt nóng và khô (nói về thời tiết): Trời mấy bữa ni hanh hao quá, hay mình đi Bạch Mã một hai hôm cho mát hè? hành lá (thv) dt loại hành không củ, lá nhỏ; hành hoa (B), danh pháp khoa học là Allium fistulosum L. thường được xắt nhỏ và rắc vào phở. hạnh dt (thv) trái giống như chanh, tên khoa học là Citrofortunella microcarpa. Trái hạnh không chua như chanh và mùi cũng khác, do đó không được ưa chuộng bằng chanh. háo hớt tt háo hức, mong muốn có ngay lập tức: Không phải dễ mô tề, đừng có háo hớt! hạp (+N) tt (biến âm) hợp: Hai đưa tui hạp nhau ở chỗ thích ăn xôi và ghét ăn thịt mỡ. hau hau tt còn nhỏ; choai choai: (N) Hau hau như mấy đứa nớ thì mần được cấy chi? hay mô ng không ngờ: Tui cứ tưởng anh ấy thương tui; hay mô khi gặp con nớ anh ơ mê mệt rồi lấy hắn luôn. háy (+N) đgt lườm (B), liếc mắt để tỏ ý tức bực: Người chi mô mà động một chút là háy với với nguýt. Ai mà chịu cho được! hẳm (+N) tt sâu: Bao Vinh cao bợt hẳm bờ, Ghe mành lui tới, mẹ nhờ duyên con. (ca dao) hẩm hẩm tt hơi nóng: Trời lạnh trời nóng chi tui cũng thích uống nước hẩm hẩm cho dễ tiêu. hấn đt (biến âm) hắn: Lúc trước hấn không nghe lời tau, thì chừ tau mặc kệ hấn. hấng đt (biến âm) hứng: Con đem thùng ra máng xối hấng nước mưa vô mà tắm. hầu dt vợ hầu: vợ bé; vợ lẻ: Chị cưới hầu cho eng răng chừ rứa? Chị cưới vợ bé cho anh khi nào vậy? hẩu lốn tt&dt hổ lốn; món ăn gồm nhiều món còn thừa sau buổi kỵ giỗ, v.v. trộn chung và hâm lại: Đừng lo ế. Sáng mai tụi nó sẽ xực hết nồi hẩu lốn ni cho mà coi. he dt ráng (trời): He vàng thì gió, he đỏ thì mưahè (+N) dt 1. hồi; phần đất dưới mái hiên ở hai bên nhà: Ra đầu hè chơi đánh đáo đi! 2. sân sau: Mấy đứa bây ra ngoài hè mà chơi cho rộng rãi. pht 1.nhỉ (B) (đặt ở cuối câu): Thằng nớ mới đó mà đi mô rồi hè? 2. nào; nhé (B), hé, hén (N): Tụi mình chơi nhảy dây hè? đgt hợp sức: Việc nớ thì mấy anh em con hè nhau làm một buổi là xong chơ mạ 1o chi! hẹ (+N) (thv) dt là một loại rau có danh pháp khoa học là Allium ramosum (hoang dại) hoặc Allium tuberosum (gieo trồng), hoặc Allium odorum L., chữ Hán gọi là cửu thái, cửu thái tử, khởi dương thảo. Hẹ có vị cay, hơi chua. Ở Huế hẹ thường dùng trong món bún nghệ ăn để giải độc, trợ thận, bổ dương, tiêu đờm. Trong Nam người ta nấu canh, dùng cả lá và hoa. hẹc dt (biến âm) hạch: Không biết răng mà hắn nổi cục hẹc nơi háng thiệt to. hen đgt ho (trẻ con): Mua thuốc hen cho cháu uống chưa rứa chị? hèn chi (+N) lt hèn nào, thảo nào (B): Mụ nớ ăn nói hàm hồ thiệt; hèn chi mà không ai ưa cả. X cậm hèn chi héng đgt hửng; hé: Trời héng nắng rồi đó. heo (+N) dt lợn (B): Chị ra chuồng heo mà coi. Mấy con mới đẻ ngó kháu lắm. heo nọc (+N) dt lợn nòi (B): Quanh đây có ai nuôi heo nọc không hè? heo cám dt heo cỏ nuôi toàn bằng cám để có thịt ngon. heo cấy dt heo cái. heo cỏ dt một giống heo nhỏ con nhưng thịt ngon, thường được nuôi thả. heo mẹo dt heo lai, không phải giống địa phương. hét om đgt la lớn: Không có chi mô mạ. Con mượn cục gôm của hắn một chút mà hắn hét om như rứa đó. hê răng ng hay sao (dùng để hỏi hay để bày tỏ sự ngạc nhiên) Tao nói với mi hồi sáng mà mi không nghe hê răng? · Mạ dặn rồi mà mi không làm hê răng? hết cỡ (+N) trgt hết mức: Mình ăn ở với hấn như rứa là tử tế hết cỡ rồi mà hấn nỏ biết điều chi cả. Mình ăn ở với nó như thế là tử tế hết sức rồi mà nó chẳng biết điều gì cả. hí trt 1. nhé (B); nghen, hen (N) (đặt ở cuối câu để thuyết phục): Chiều ni đi xinê hí? · Mai qua nhà tao chơi hí! 2. nhỉ (B), hả (N) (để bày tỏ nhận thức của mình): Phim hay quá hí! hỉ mũi đgt xì mũi (N), xỉ (B): Khi mô hỉ mũi con phải bóp một bên, hỉ một bên thôi mới khỏi bị đau thốn lên đầu. hiện ngụy tt lạ thật; phi lý: Nói chi mà hiện ngụy rứa? hỉnh hỉnh tt kiêu căng: Thằng nớ không biết có tài cán chi mà cái mặt khi mô cũng hỉnh hỉnh, không thèm ngó ai cả. hỉnh hỉnh như chó chê cứt ng làm cao: Tui thấy ôn nớ mới tới nhận nhiệm sở, cũng định chào hỏi làm thân nhưng cái mặt ôn hỉnh hỉnh như chó chê cứt cho nên tui ô rờ lui. hỉnh mũi (+N) đgt nở mũi, vui sướng trong lòng: Nghe khen mấy tiếng nó hỉnh mũi liền. hò dt vạt áo nhỏ bên trong áo dài, sát với cổ và một bên tay để cài khuy: Thương trò may áo cho trò Sớm khuya thiếu nút, thiếu hò, trời ơi! (ca dao)
· Áo xa bâu răng đành ơi áo, Bâu xa hò áo là ngãi đạo mần răng? Lời thề núi lở non băng, Chàng mà xa thiếp họa trăng xa trời! (hò mái nhì) đgt ra lệnh dừng lại: Hò trâu lại đi. Lên đây uống miếng nác cái đã! Hò Huế Hò là một loại hình dân ca có các làn điệu đặc thù được diễn xướng trong môi trường lao động, sinh hoạt, lễ hội và cả trên sàn diễn. Những người nông dân, người thợ, giới trí thức đều có thể dựa trên làn điệu có sẵn để sáng tác, ứng tác ca từ. Lời hò cũng có thể là những bài ca dao, những câu thơ được truyền tụng, thường ở hình thức thơ lục bát, lục bát biến thể và thể tự do. Bên cạnh các tác giả vô danh có hai nhà thơ nổi tiếng tham gia sáng tác hò là cụ Ưng Bình và cụ Nguyễn Khoa Vy. hò bài chòi một loại hò do một người nhà cái diễn xướng khi những người chơi bài ngồi trong chòi chờ nghe kết quả. Trò chơi bài chòi được tổ chức trong các dịp hội hè ở làng. Xuất xứ của điệu hò này có lẽ là tỉnh Bình Định. X bài chòi hò bài thai một loại hò đi với một trò chơi bài bạc ở lễ hội dân gian, thường là vào dịp tết. Người ta cũng dùng bộ bài tới (X bài tới) 30 con, mỗi lá bài dán trên một ô vuông làm nơi đặt tiền trên một tấm bảng rộng đặt trên mặt đất. Nhà cái cầm một bộ, rút tình cờ một lá rồi đặt lên một đĩa nhỏ, lấy chén úp lại, hoặc chuồi con bài dưới chiếu. Thế rồi bắt đầu hò (X hò bài chòi). Người xung quanh đoán ra thì tự đặt tiền vào ô. Xong nhà cái mới mở chén hoặc rút lá bài ra trình làng con bài thai. Nhà cái hô to lên tên con bài, giải thích và chung tiền cho những người đoán đúng và lùa tiền ở những cửa sai. Sau đó tiếp tục bốc bài và hò. Thiếp đừng nhắc cảnh gia đình mà trăm hờn ngàn giận. Chàng ra đi cũng muốn lui về thăm con viếng vợ, nhưng chàng chưa về được vì thấy mắt trận đang dàn. Em ở nhà nuôi thầy dưỡng mẹ tạm một thời gian, Đợi ngày quân thù rút hết khi nước lặng thành an chàng về. Con bài thai: con liễu. Giải thích: Chàng ra đi, việc nhà giao cho thiếp là phận bồ liễu phải gánh vác. hò bài tiệm một lối chơi bài như hò bài thai, nhưng cách chơi lại khác. Nhà cái hò câu tiệm xong bỏ con bài vào trong một cái hộp kín, mắc lên cây cao với một giải lụa đào phất phơ trong gió. Câu hò tiệm cũng được viết trên giấy chữ lớn dán vào thân cây để ai đi qua cũng đọc được. Ngày hôm sau nhà cái mới nhận tiền đặt cược và lời đoán của người chơi. Xong nhà cái hạ hộp xuống và công bố tên con bài. Ví dụ: Dưới gởi thơ lên, trên gởi thơ xuống, Đang ăn đang uống bỏ đũa xem thơ, Hai hàng nước mắt dặm tờ, Duyên chàng nợ thiếp ai ngờ mà xa. Đây là con liễu, được giải thích là cuộc tình duyên đã kết liễu. hò đẩy nôốt là thể loại được hát lên khi người ta bắt đầu đẩy đò, nôốt từ trên bờ xuống sông hoặc vượt qua các chỗ cạn cho nên nó cũng giống hò mắc cạn ở Thanh Hóa. Ơ...ơ...ơ... Ai sinh cồn cạn này ra, Ao quần rách nát, thịt da gầy mòn, la hè, la hè... Ơ...ơ...ơ... Trước mũi xu xa sau lái cũng xu xa, Đứa mô không đẩy thì trôi cả bà liền con, la he, la hè … hò đưa linh Không chỉ là một điệu hò, hò đưa linh là tập hợp nhiều điệu hát, múa trong đêm cúng chuẩn bị đưa linh cửu đi an táng kéo dài cho đến khi hạ huyệt, lấp đất. Làm lễ đưa linh là một đội hát dưới hình thức một đội chèo thuyền để đư a vong hồn người quá cố về quê theo quan niệm sống gửi thác về. Buổi lễ bắt đầu bằng hai bài múa: múa bát dật và múa đi lộn đằng xà (múa giống như rắn bò). Dẫn đầu đội hình múa là kép, rồi đến 12 chèo con và sau cùng là lái. Múa xong 2 điệu kép xướng điệu hường, một hình thức nói lối như trong hát bội, sau đó hát nam linh: Nhè nhẹ chèo đưa ba mái, Đưa người về qua bến trần ai. Gắng tới ơi bá trạo!
(bá trạo: người chèo thuyền) Các chèo con đáp:Dạ Sau đó cả đội hát bắt bài và múa như động tác chèo thuyền Cảm thương nỗi thân đem gởi đất, Đoái trông chừng hồn hóa theo mây. Chèo con: Hò là hò rước linh, rước linh phản hồi (trở về) Sau đó tùy vào người quá cố là cha, mẹ, v.v. của gia chủ, lái sẽ hát bài phù hợp. Thí dụ hát bài con khóc mẹ: Lái: Đưa mẹ về quê, mẹ về đất Phật. Trời hỡi trời sao dời vật đổi, Nên chi cỏ héo hoa sầu. Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục gia, Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu. Tây Phương đất Phật mẹ đi không về. Chèo con: Hụi bơ hò hụi khoan bơ hò khoan Phản hồi đưa linh, đưa linh phản hồi. Sau đó đến nói lái đưa linh, rồi lý đưa linh và hát lui thuyền gồm hai điệu lý ta lý và điệu hò chèo thuyền. Lái: Thuyền lui khỏi bến Giang Tân Chèo con: Ta lý tình tang mà nghe ta hò ta lý tình tang. Lái: Phất phơ buồm liễu Chèo con Là hò ô hô hồ khoan Lái: Tay lần chèo ba Chèo con: Khoan hô khoan là hò ô hộ hò khoan. Trên đường đưa đám đội hát tiếp tục hát những bài thương khóc hoặc an ủi bằng lời hát về số phận kiếp người: Lái: Bây giờ lão muốn Bắc thang lên hỏi ông trời Để cho người chúng ta Sống mãi đời đời không chết Có được không hỡi bá trạo? Chèo con: Việc đó không được mô Lái: Rứa là số càn khôn đã quyết Lò tạo hóa khôn dò Ai ai thì cũng một chuyến đò Người người dễ mấy lần qua bến Bớ bá trạo kia kìa: mây trắng đã kéo đến Đó đó thấy không: sắp phủ kín sơn chà Vậy: Phiền bà con cổi trật áo ra Rắc buồm lại cho lái chèo mái xấp. Khi linh cửu đã được hạ huyệt, lấp đất thì sẽ hò nện để đầm đất cho chặt và hát vè. hò giã gạo loại hò đi với công việc giã gạo. Đến lúc hết gạo người ta vẫn còn hứng thú hát hò cho nên thường ở lại để qua lời hát trao đổi ân tình hoặc chọc ghẹo nhau. Do đó phát sinh hai hình thức hò giã gạo là hò đâm bắt (trêu chọc) và hò ân tình. Về sau người ta tổ chức thi hò đối đáp. Thường thì một cối giã người ta cho một cặp nam nữ giã và hò. Cũng có thể có hai cặp hay ba cặp. Sau câu hò chào, hò mời là hò đối đáp, còn gọi là hò vay trả hay hò đâm bắt: Nữ: Ơ...hơ Cây chi trên rừng không la, Cá chi dưới biển không xương. Trai nam nhơn đối đặng, thiếp xin kết nghĩa tào khương với cùng.
Nam: Ơ...hơ Cây xương rồng trên rừng không lá, Cá sứa dưới biển không xương. Anh đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh.
Nam: Thùng bánh nhiều răng em kêu thùng bánh ít? Quả trầu đầy răng em bảo quả trầu không? Ai xui em ăn ở hai lòng, Nói xuôi cũng được mà nói ngược dòng cũng hay.
Nữ: Đá không chưn, răng anh gọi là đá nhảy? Cát không miệng, răng anh bảo cát gầm? Ở xa không biết nên lầm, Khoai lang xắt lát em cứ ngỡ sâm bên tàu. (hò đâm bắt) Sau những câu đố, trêu chọc thử tài, dần dần phát sinh tình cảm nên cuối cùng là hát hò ân tình Nữ xướng: Hơ hơ hơ khoan mời bạn ta lại hò khoan. Nam xô : Hơ hơ hơ …hơ Nữ xướng: Hơ.. hơ Thiếp gặp chàng như rồng mây kia mà gặp hội, Chàng mà gặp thiếp như chim phụng hoàng mà gặp cội ngô với cành ngô. Nam xô : Hơ hơ hơ …hơ Nữ xướng: Mấy lâu ni kẻ Hán người Hồ, Bữa ni thiên tri lý ngộ, quyết phân phô cho tận tình. Nam xô: Hơ hơ hơ …hơ Cuối cùng buổi hò là hò từ tạ Nữ: Ơ hơ... Con sao hôm đã lặn, Con sao mai đã mọc bên tê tề. Anh ơi anh có điều chi phân đi nói lại cho em về kẻo khuya.
Nam: Mình về răng được mà về, Câu thơ chưa gởi, lời thề chưa trao. hò kéo thác điệu hò gắn với hoạt động kéo bè qua thác, hay kéo gỗ qua đèo. Nhịp điệu mạnh mẽ, tiết tấu nhanh. Hò là hò lên ta ơi hò Hò lên cho gỗ ta về ơ hơ hơ hơ, ơ hơ hơ hơ ơ Xem lên trời, trời cao mà lồng lộng ơ ơ ơ, hơ ơ ơ ơ ơ ơ hơ ơ... Ngó xuống dưới đất mà đất rộng mênh mông , Trăm năm mình duyên thắm a tình nồng. Lòng chung thủy thề rằng sắt son là hơ hơ là hò lên ta ơi, Ơ hơ hò lên cho gỗ ta về... Ơ hơ hơ ơ hoò hơ ơ...ơ hò mái đẩy loại hò gắn với hoạt động chèo mạnh tay khi có gió ngược hoặc chèo đi ngược dòng nước. Lúc này người chèo ngồi quay lưng với hướng tiến và kéo mạnh hai mái chèo từ xa hướng vào ngực mình. Làn điệu giống như hò mái nhì nhưng nhịp điệu nhanh hơn. Từ đó cũng sinh ra hai loại hò nữa là hò mái xấp nhịp điệu nhanh gấp đôi và hò mái ba,nhịp điệu nhanh gấp ba. Cả chống hơ cả chèo hơ hơ một ha hơ mình hơ... hơ hơ. Một mình cả chống cả chèo rứa không ai hơ hơ tát hơ. Ơ hơ hơ hội tát nước rứa... đỡ hơ hơ hơ hơ hơ nghèo. Hơ hơ hơ hơ ơ hơ, A ha... ha phen một phen hơ hô phen hơ hơ hơ hơ hơ... hò mái nhì loại hò gắn với nhịp điệu chèo đò chậm rãi khi thuyền trôi theo dòng. Lúc này có hai người chèo cho nên có thể vừa chèo vừa hát nhẹ nhàng. Phần ơ hò được kéo dài, và ca từ được lặp lại. Hơ...hơ …hơ...à...hơ... Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá, Đò về Vỹ Dạ thẳng ngã ba Sình ơ... ơ... Hơ...hơ …hơ...à...hơ...Đoái nhìn sông Hương nước chảy xinh xinh, Rứa chừ sông bao nhiêu nước à ơ...ơ..ơ Hơ...hơ …hơ...à...hơ.. sông bao nhiêu nước dạ em si tình nhiêu với chừ ừ...ư...ơ...ơ... bấy nhiêu ờ...ờ...ờ... (lời khuyết danh) Biết đâu là cầu Ô Thước, Mênh mông nguyện ước dưới nước trên trời. Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi, Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng. (lời của Ưng Bình Thúc Giạ) Loại hò này có thể hát chung, có xướng, có xô hai lần Hò cái xướng: Hơ hơ hơ hơ ơ hời Trước bến hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ Văn Lâu chiều hà ha hơ chiều hơ hư Hò con xô: Hơ hơ hơ hơ hơ hơ...hơ Hò cái: Chiều chiều trước bến Văn Lâu ai ngồi, ai câu, sai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông, hơ hơ hơ hơ hơ hơ... Thuyền ai thấp thoáng bên sông, lại đưa câu thì mái đẩy hà hy Hơ hơ hơ hơ mái đẩy nên cho chạnh tấm ha hơ lòng Hò con: Hơ hơ hơ hơ hơ hơ ơ hơ hơ hơ ơ hơ hơ hơ... Hò cái: Chạnh lòng non nước là non hơ hơ hà hơ (lời Ưng Bình Thúc Giạ) Ở Quảng Bình cũng có hò mái nhì nhưng làn điệu có khác vì cao độ của âm giai ngũ cung có khác. Người Quảng Bình hát theo ngũ cung đúng, còn người Huế hát theo ngũ cung hơi nam, giọng ai. Đây là điệu hò thể hiện phong cách ngọt ngào, duyên dáng, tình cảm sâu lắng nhất của người Huế. hò nện loại hò gắn với hình thức lao động của một tập thể . Khi hò tay cầm vồ hay đầm nện xuống đất trong trường hợp làm nền nhà, làm sân hay đắp mộ. Loại hò này có một người xướng lời ca, những người còn lại hát xô hay phụ họa lạ hù là khoan rất mạnh mẽ. Chim khôn, lạ hù là khoan, đậu nóc nhà quan, lạ hù là khoan Trai khôn mà tìm vợ, lạ hù là khoan, gái ngoan mà tìm chồng, lạ hù là khoan Hết khoan rồi tới hụi, ơ..hò hụi, hết hụi rồi tới khoan, ơ hơ khoan hụi hò khoan., ơ hơ khoan hụi hò khoan. hò ô là loại hò chủ yếu là hò đơn, do một người hát khi đi đạp nước, nhổ cỏ, đi bừa, nhất là khi đi làm việc trên cánh đồng một mình trong đêm. Âm điệu hò tha thiết, trầm lắng, do tiếng ô…ô kéo dài mênh mang Ô...ô...ô...ô...ô...ô Chán chi nơi ơ...ơ Ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô Quốc sắc mỹ miều ờ...ơ Ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô Anh làm bạn chi đây với đứng bóng tội lắm trăng chiều ơ...ơ Với lửng lơ ờ...ơ Ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô...ô Có khi nhiều người cùng đạp nước thì điệu hò ô có xướng (do hò cái) và có xô (do hò con phụ họa) Hò cái: Ô...ô Em không nhớ lời... Khi mô khi à má úa à...ừ...ô...ô...ô Ruộng khô a...hơ Hò con: Ơ...à...à...ơ Ố...a...a...ơ...ô Hò cái: Ơ...a Nay chự chừ em dậm chân kêu một tiếng Anh đạp nước bên ô... A...ờ Ờ...a...ê...à...ê Cũng phải về Ơ...hơ... Hò con: Ơ...a...ê Ơ...ô...á Ô...ồ...hơ hò quết vôi điệu hò đi với hoạt động giã đá vôi để làm vữa trong xây dựng, còn gọi là hò đâm vôi, tương truyền được hình thành khi Đào Duy Từ xây lũy Trường Dục và Lũy Thầy ngoài Quảng Bình. Âm điệu giống như hò nện, có xướng có xô. Mỗi cối có từ 10 đến 20 người chia ra đứng hai bên. Người thợ hò đứng ngoài cầm đôi sanh đánh nhịp. Người này hô lên một tiếng và đánh một tiếng sanh thì tất cả giơ chày lên, đánh tiếp một tiếng sanh mọi người nện chày xuống và hát hô khoan hụi. Người hò đánh tiếp một tiếng sanh mọi người đưa chày lên, thợ hò hò tiếp và lại đánh sanh để mọi người nện xuống và xô hô khoan hụi. hò ru con loại hò để ru con ngủ; cũng gọi là hò ru em vì các bà mẹ khi nói về các em bé đều gọi là em. Thí dụ: Eng ơi, bữa ni em nóng đầu rồi, eng đi tìm thầy về coi một chút. Ạ ơ hờ Ru con /em, con/ em théc cho muồi, ì mà để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu hờ... A ơ hờ Mua vôi chợ Quán chợ Cầu ư mà mua cau rồi Nam Phổ cái đã mua trầu, mà trầu chợ Dinh ơ hờ... Ạ ơ...hờ Chợ Dinh bán áo con trai i à Triều Sơn mà cái đã bán nón, mà Mậu Tài cái đã bán kim ơ.. hờ hò thai một trò chơi đố chữ tao nhã của người xưa. Câu đố là bài thơ được các cụ hò cho vui với bạn bè hoặc với học trò. Thí dụ: Ngã lưng cho chúng lên ngồi, Chẳng thương lại đặt cho lời bất trung. Lời giải là cái phản. hò xay lúa điệu hò khi xay lúa; bộc lộ tình cảm của người hò trong công việc. Tiết điệu khoan thai, đều đặn với tiếng phụ họa là hô. Hò cái: Đêm năm canh hơ hơ mơ màng bóng bạn, Mà ngày sáu khắc thì nhớ nhang trầm với nhang ơ trầm. Hò con: Là hô Hò cái: Nào ai nhắc đến bạn tri âm, Thì lá gan khô từng chặng a chặng. Hò con: Là hô Hò cái: Lá gan khô từng chặng là ruột héo bầm khi lại từng khi. Hò con: Là hô. Sách tham khảo: Tôn Thất Bình. Dân Ca Bình Trị Thiên. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1997. Trần Thùy Mai. Dân Ca Thừa Thiên, bản thảo, 2002. hoách lác tt ra vẻ có quyền thế, giàu sang: Anh Quý làm chức chi mà đi làm có xe đưa đón ngó hoách lác rứa hè? hoang tt nghịch ngợm: Mấy đứa ni chơi hoang quá hè! hoang sớm tt biết chuyện yêu đương sớm: Mi mới ba mươi mà đã có con lớn hè! Chắc hồi nhỏ hoang sớm. hoang trổ trời ng rất nghịch ngợm: Ngó cái mặt hắn hiền khô như rứa mà hoang trổ trời đó eng nờ. hoàng án dt (cung đình, gốc Hán) bàn sơn màu vàng hoặc phủ khăn vàng.
hoàng hậu dt (thv) loài cây thân gỗ, lá hoặc nguyên phiến hoặc ở đầu lõm vào như móng chân bò, cho hoa màu tím nhạt, hình cánh bướm, tên khoa học là Bauhinia variegata, thuộc họ đậu Fabaceae, hoa ban nước (B), hoa móng bò (B+N). Trong Nam có móng bò hoa trắng, gọi là móng bò Sài gòn. hoàng phái dt họ hàng vua chúa nhà Nguyễn: Mấy o nớ cũng thuộc hoàng phái đó, vua chúa mà còn là ăn trên ngồi trốc chứ không phải cực như rứa mô. hoằm xừ tt vạm vỡ: Thằng Ni lớn chút nữa cũng hoằm xừ lắm nghe – đúng là dân đi biển mà! hóc dt góc: Hòn bi của con lăn vô trong hóc rồi ba nờ. hóc bò tó dt hóc bà tó (N), nơi xa xôi hẻo lánh: Nhà ôn Thám ở trong hóc bò tó cho nên ít ai tới thăm. học đgt mách: Đứa mô đi học lại chuyện ni cho ba biết thì coi chừng tao đó. X méc học lóm (+N) đgt học lỏm (B), nghe, nhìn rồi bắt chước làm: Nghề sửa xe đạp ni tui cũng học lóm thôi chơ không đi học trường mô cả. học sinh dt người thi đỗ vào các trường của các quan Huấn Đạo ở các địa phương. học theo (+N) đgt bắt chước: Con đừng học theo cái thói ngang tàng, lêu lổng rồi đâm ra hư thân mất nết. hói dt sông nhỏ: Tao cuộc mi lặn một nghỉn qua bên tê hói đó! · Tối trời chẳng quản chi ma, Thương nhau chẳng quản hói hà cạn sâu. (ca dao)
· Thương anh cách hói trở đò, Khôn thuyền lỡ bộ, khó dò nợ duyên. (hò) hỏi tt ngứa (vùng Dạ Lê): Mới ăn canh môn chừ thấy hỏi cổ quá. hòm (+N) dt quan tài. hỏng (+N) trgt hẫng (B): Trời túi mà đường thì lại lỗ hà lỗ hổng làm tui hỏng cẳng mấy lần. hoong đgt (biến âm) hong; đặt vào chỗ nóng cho khô: Mạ giặt xong rồi con quạt một thau than để hoon mấy cái đồ nghe! hóp dt (thv) một loại trúc thân nhỏ, thường mọc thành bụi, dùng làm hàng rào, có tên khoa học là Arundo multiplex. Người ta thường lấy thân cây này làm cần câu, còn trẻ con hay dùng làm súng (giống như cái bơm xe) và hột bì lời làm đạn - tiếng nổ nghe cũng dòn dã và trúng đạn cũng khá đau: Con cá tróc vi bởi vì nước chảy, Cần câu nọ gãy bởi bụi hóp cong. Bởi anh mượn người mối lái không xong, Nên duyên em trắc trở, xui tấm lòng khó nguôi. (hò Huế) hoọng trgt quách: Mần hoọng đi. Làm quách đi. hô (+N) tt vẩu (B); chỉ hàm răng nhô ra phía trước: O nớ mặt mày đẹp đẽ, chỉ có hàm răng hơi bị hô, tiếc thiệt! hổ ngai tt (biến âm) hổ ngươi; mắc cỡ (N): Cái đồ ăn nói không biết hổ ngai! hổ ngươi dt (thv) cây mắc cỡ (N), trinh nữ, là loài cây bụi, mọc hoang dại, có tên khoa học là Mimosa pudica L.. Loại cây hổ ngươi thường gặp có gai tên là Mimosa diplotriocha, cao 30-40 cm, thân có gai móc. Lá kép chân vịt, cuống lá có nhiều lông, mang bốn nhánh lá chét hình lông chim. Phiến lá chét nhỏ, gồm 15-20 đôi, khi đụng thì cụp lại. Hoa màu tím, tụ lại thành hình cầu. Lá cây được dùng để trị chứng mất ngủ, suy nhược thần kinh. hộc (+N) dt ngăn kéo: Mạ ơi cây thước con để trong hộc bàn chừ mô rồi a? hồi (+N) đgt từ chối làm một việc đã hứa: Để tui chạy qua nhà bác Triền hồi lại việc hái dừa rồi về đưa con Tẻo đi bác sĩ. hồi loan đgt dt (cung đình, gốc Hán) (vua) ngự giá trở về. hồi nớ dt thuở ấy: Hồi nớ không biết anh có để ý cái o hàng xóm tóc đánh con rít hay không? hồi sớm (+N) dt lúc sáng: Dạ thưa bác ba con đi làm từ hồi sớm rồi. hồi tê Nh hồi nớ hổi hổi trgt hôi hổi (B): Nóng hổi hổi vừa thổi vừa ăn. (thành ngữ) hỗn đẩu tt & trgt hỗn hào: Các em đừng ăn nói hỗn đẩu với người lớn. Người ta sẽ nói là ba mạ mình không biết dạy con, nghe chưa? hông (+N) đgt đồ (B), hấp, nấu bằng hơi nước: Nấu món xôi vò phải hông xôi trước đã con nờ! dt cái chõ (B), xửng (N) làm bằng nhôm, có hai lớp đáy: đáy dưới để chứa nước đun sôi, đáy trên có lỗ để hơi nước bốc lên. hôông dt 1. (đv) con ba ba. 2. hông (biến âm): Mệ bị đau cái hôông quá. hốt dt (cung đình) thẻ cầm tay của vua quan, thường cầm bằng hai tay để tăng vẻ trang trọng. Hốt của vua làm bằng ngọc, gọi là ngọc khuê, hốt của các vương hầu và quan lớn làm bằng ngà voi, hốt của quan nhỏ làm bằng xương cá, hoặc làm bằng gỗ sơn trắng, một mặt có gắn gương soi để xem dung mạo, áo quần đã chỉnh tề chưa trước khi vào chầu vua. Ngoài ra còn có hai cái hốt mang chữ tấu trung nghiêm, tấu ngoại chỉnh do một vị quan đưa lên báo cho vua biết trong ngoài đều nghiêm chỉnh, có thể bắt đầu lễ thiết triều. hột (+N) dt hạt (B): Có mấy hột cơm mà ăn không hết làm răng mà mau mạnh được? hột nổ dt hột tròn làm bằng gạo rang phồng to, đường kính khoảng 5 ly, có nhuộm màu hồng và trắng, xanh, vàng, dùng để cúng cô hồn cùng với gạo muối. hột tào cáo dt hột súc sắc. Mấy hột tào cáo ôn để trong hộp ni chừ mô rồi hè? hỡi hờ tt hớ hênh: Răng mà cửa nẻo để hỡi hờ rứa con? Mạ đã dặn là khi mô mạ đi khỏi con phải khóa cửa lại. Có ngày ăn trộm hắn vô hắn dọn sạch nhà đó con nờ! hờm đgt thủ; giấu sẵn: Thằng ăn trộm không ngờ là tui đã hờm sẵn cái đùi. Hắn vừa lò đầu vô là tui phang liền. hơng đgt (biến âm) hưng (gốc Hán), đứng lên (sau khi lạy): Lễ tam bái! Hơng!Bình thân! hớng đgt (biến âm) hứng: Hớng nước mưa mà tắm cho hết sảy. hu tht ơi (từ dùng để gọi): Hu ba hồn, bảy vía con tui! đgt kêu (chó):Con chó mô rồi? Hu vô dọn cứt em một chút. hũ mắm treo đầu giàn dt người con hay cháu rất quí (hoặc là con một, hoặc là cháu đích tôn): Thằng nớ là con một, là hũ mắm treo đầu giàn của ba mạ hắn đó. hụ dt hũ (biến âm): Thằng Hỉ đi mô mà để hụ đọi nghinh ngang ri hè? huân tước dt (quan chế) tước vị để tặng cho người ngoài hoàng tộc có công lớn. Có năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Tước Công có Quốc Công, Quận Công lấy tên một phủ, tước Hầu có Huyện Hầu lấy tên một huyện, tước Bá lấy tên một tổng, tước Tử lấy tên một xã, tước Nam lấy tên một làng. Những tước này dưới thời nhà Nguyễn chỉ là mỹ hiệu, không có thái ấp, đất đai thực sự như dưới thời Lý, Trần. huện đgt đánh: Mấy đứa bây có im không? Tao huện một trận bây chừ. hui đgt thui: Mạ ơi, họ làm chi mà hui cả con bò, ngó bắt khiếp rứa? hun (+N) đgt hôn: Coi xi nê thấy trai gái bên Tây hun chắc ngoài đường không ốt dột chi cả, ngụy tặc thiệt. hung tt nhiều: Có mấy đứa thôi mà chị cho chi mà hung rứa? hứa lèo (+N) đgt hứa mà không thực hiện: Đừng tin thằng cha nớ; hắn hay hứa lèo lắm. hừng hậy đgt sừng sộ: Mi dám hừng hậy với tao à? Mi về hỏi ba mi coi có biết ông Cửu Khuê hay không. hườm hườm (+N) tt (trái cây) ửng vàng, hay ửng đỏ, dấu hiệu gần chín: Con ni thiệt lá lay; trái mới hườm hườm răng mi đã hái rồi? hương nhu(+B) dt (thv) é rừng, é tía (N), là loài cây nhỏ, mọc hoang dại, có tên khoa học là Ocimum tenuiflorum. Hương nhu có hai loại : trắng và tía, nhưng người ta thấy loài có màu tía nhiều hơn. Cây cao 1, 5-2m, hình gần như vuông. Thân và cành đều có màu tía. Lá thuôn dài hình mác, dài 1-5 cm. Hoa màu tím, mọc thành chùm. Lá và hoa vò ra có mùi thơm đinh hương, cho nên người ta dùng để gội đầu. Lá và thân cây phơi khô hay để tươi được dùng làm thuốc chữa bệnh cảm nắng. Do hương nhu tính ấm, giúp cơ thể tháo mồ hôi, giảm đau đầu. hường (+N) dt hoa hồng (biến âm do húy kỵ): Trồng hường bẻ lá che hường, Thương nhau bất quản đỗi đường xa xuôi.(ca dao)
tt màu hồng: Tết mạ may cho con một cái áo đầm hường nghe mạ.
|