|
Đàm Trung Phán THÁNG CHÍN VÀ CHA TÔI
Để tưởng nhớ thân phụ của anh chị em chúng tôi Đàm Trung Pháp Đàm Trung Phán
Sáng nay, khi thức dậy, tôi chợt thấy lành lạnh. Cái lạnh từ ngọn gió thổi qua cửa sổ vào nhà. Dụi mắt, nh́n cái hàn thử biểu thấy 12 độ C, tôi thầm nghĩ: - Nàng Thu thực sự đến rồi! Tôi định bụng sẽ ra khỏi nhà ngay để đi bộ ra cái park gần nhà với ư định vừa tập thể dục và vừa để chụp h́nh lá vàng rồi “ngồi trên ghế gỗ công viên” mà viết bài . Tôi muốn tránh những cú phôn, tôi cũng muốn tạm lánh cái computer để mà được thực sự đối diện với con người tôi và lật trang nhật kư dĩ văng cuộc đời để t́m kiếm lại những h́nh ảnh về cha tôi và những cảm xúc đă từng làm tôi vui buồn lẫn lộn trong nhiều năm qua. Nhiều người xung quanh thường có bà mẹ già sống ở một nơi chốn xa xôi để mà thương, mà nhớ. Riêng tôi, tôi không có cái “may mắn” đó v́ anh chị em chúng tôi đă phải mất mẹ từ lâu lắm rồi, khi chúng tôi c̣n nhỏ dại . Mất mẹ, ba anh em trai nhỏ tuổi nhất trong gia đ́nh chúng tôi sống với bố. Chúng tôi được cụ dậy dỗ trong tinh thần Khổng giáo. Nhưng cảnh “gà trống nuôi con” cũng có những cái thiếu sót của nó: ba anh em chúng tôi và ngay cả thân phụ chúng tôi có nhiều lúc thấy trống vắng nội tâm. Điều này, khi chúng tôi c̣n nhỏ, cụ không hề nói ra, chỉ khi tất cả các anh chị em tôi đă có gia đ́nh, lâu lâu cụ mới “tiết lộ” cho chúng tôi hay: - Ta sống đủ rồi, tất cả các anh chị em tụi bay đă khôn lớn và có gia đ́nh. Ta sống cũng bằng thừa, xin ông Trời cho ta được đi sớm, thế là vui rồi! Đă nhiều lần, tôi đă định viết một bài về thân phụ chúng tôi, nhưng cứ mỗi lần đặt bút xuống, tự nhiên tôi thấy rất khó viết v́ tôi đă được cụ dậy bảo là sống phải nghiêm túc, cứng cỏi và không để lộ phần t́nh cảm. Tôi bàn với anh Đàm Trung Pháp, anh ruột của tôi là tôi “có nên viết về Cụ” hay không, anh ấy góp ư liền: - Th́ Phán cứ viết đi, anh sẽ viết thêm những phần nào Phán viết c̣n thiếu. Hai đứa tụi ḿnh viết dùm cho tất cả các anh chị em ḿnh để tưởng nhớ về cụ, OK? Hôm nay, tôi “phá lệ” và viết đại v́ biết đâu đấy, ngày mai, v́ một lư lẽ ǵ, tôi không c̣n có thể viết ra được, th́ sao? Và nếu mai này, tôi không c̣n khả năng viết lách và nhớ lại những ǵ mà tôi muốn viết, tôi sẽ hối hận là tôi chưa có cơ hội viết ra những ǵ mà các anh chị em chúng tôi vẫn hằng tưởng nhớ và hay nhắc nhau về cụ . Bạn bè cùng trang lứa với tôi, cả nam lẫn nữ, thường hay nói với nhau: - Bọn ḿnh thuộc vào “thế hệ sandwich”! Có nghĩa là thế hệ của chúng tôi bị kẹp giữa hai thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái. Thế hệ chúng tôi đă bị đảo lộn giữa hai nền văn hóa Đông và Tây. Hai thế hệ này thật là khác biệt và đôi lúc cũng rất khác biệt với thế hệ của chúng tôi nữa, ấy vậy mà thế hệ chúng tôi phải đóng vai của “thế hệ sen kẽ” để móc nối thế hệ ông bà và thế hệ con cháu với nhau. Những lúc tĩnh lặng, một ḿnh trong đêm khuya hay khi đi bộ dọc theo bờ hồ, ngoài park, nghĩ về thế hệ cha mẹ của chúng tôi, tôi chỉ thấy thương cảm mà thôi. Cha tôi “sinh bất phùng thời” và mẹ tôi đă luôn luôn phải đầu tắt mặt tối và lo âu. Hoàn cảnh gia đ́nh của ông nội tôi đă không thể giúp cha tôi được đi học như ư muốn. Theo Nho học th́ đă lỗi thời, theo Tây học và chữ quốc ngữ th́ đă “hơi già”. Cụ phải tự học để trở thành một ông giáo trường làng tại Phúc Yên, Bắc Việt. Tuy chỉ tự học trong vài năm thôi, tiếng Pháp của cụ vững lắm, nhất là về văn viết. Cụ dậy học rất nghiêm trang và kỹ lưỡng, học tṛ ai cũng kính phục. Quê nội tôi tại Bắc Ninh nên cha tôi phải đạp xe đạp đi đi về về, mỗi tuần ít nhất một lần, giữa Bắc Ninh và Phúc Yên, có khi phải đi ban đêm nữa. Mẹ tôi ở nhà tại Bắc Ninh để thuê người làm ruộng và chăm nom đàn con c̣n nhỏ dại. Cha tôi có rất nhiều sách chữ Nho, chữ Nôm, chữ Tây, chữ Quốc ngữ. Thuở c̣n bé tí teo, thú vui của tôi là lấy sách chữ Nho của bố ra làm đồ chơi v́ tôi thích lấy ra và bỏ vào những tờ lá khô được ép giữa các trang sách. Cha tôi chỉ vui vẻ nh́n tôi và không hề la mắng tôi. Tôi cũng rất thích dở các sách chữ Tây ra để mà xem h́nh, chữ nghĩa lúc đó th́ chưa biết một tí ǵ! Nạn lụt năm Ất Dậu 1945 đă làm hư hại nhiều sách của cụ và cụ đă phải tốn nhiều th́ giờ để “chữa” cho từng cuốn sách. Cha tôi lập gia đ́nh sớm, và vài năm sau khi có con trai đầu ḷng th́ cha tôi góa vợ. Cha tôi “đi bước nữa” khi lấy mẹ tôi, và hai cụ có thêm bốn trai và một gái. Anh cả của chúng tôi được gửi lên Hà Nội để học trường Bưởi và được hai cụ cưới vợ cho theo phong tục Việt Nam. Chị gái duy nhất của chúng tôi, cũng “được” theo phong tục Việt Nam hồi bấy giờ: chị không được cha mẹ cho đi học lên cao và bắt buộc phải ở nhà để trông nom các em trai và công việc đồng áng. Tới tuổi khôn lớn, các em trai của chị rất thương cảm v́ chị sinh vào thời buổi và xă hội với quan niệm “cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai và về làm dâu người ta, phí của!” Khi anh em trai chúng tôi c̣n trẻ, nhiều lần, chị tức khí và la chúng tôi: - Chỉ v́ tụi mày mà tao phải ở nhà và không được đi học! Tôi “hứng trí” trả lời chị: - Đi học để chị viết thư cho trai ấy à! Nói xong, tôi chạy cho lẹ, nhưng nếu lỡ mà chị tóm được th́ cuơng chỉ ăn vài cái củng đầu mà thôi! Bây giờ, chúng tôi đă ở tuổi có con, có cháu, mỗi khi nhắc đên truyện xưa, tích cũ, chúng tôi , nhất là chị chỉ ḅ lăn ra mà cười với nhau cho … huề cả làng . Sau khi em trai út của chúng tôi sinh ra được ít lâu, chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp lan tràn đến làng quê của gia đ́nh chúng tôi tại Bắc Ninh, và cha tôi phải mang anh chị em chúng tôi chạy loạn trên Thái Nguyên. Mẹ tôi và em út phải ở lại nhà v́ sức khỏe không cho phép. Chạy loạn th́ phải chạy ban đêm v́ ban ngày, máy bay của Tây trông thấy sẽ bắn chết. Tôi rất buồn ngủ và đói bụng và nhiều lúc ngỗ nghịch tôi đă chu chéo lên: - Con không thèm đi chạy loạn nữa đâu, Bố ơi! Tội nghiệp, thế là cha tôi phải cơng tôi mà đi, nếu không cả gia đ́nh chạy loạn sẽ bị nguỵ đến tính mạng. Bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyên xưa, tôi thấy thương cha mẹ tôi vô cùng. Những h́nh ảnh và t́nh cảm này vẫn c̣n được “stored” trong cái “memory card” của đầu óc tôi:
Tôi vẫn trôi theo gịng định mệnh, Hàng triệu người, sao chỉ thấy ḿnh tôi? Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời, Người nằm xuống v́ bom rơi, v́ nạn đói! Những đêm tối, theo Cha tôi đi chạy loạn Mẹ ở lại nhà v́ vướng bận em thơ. Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ H́nh bóng Mẹ và im ĺm tiếng súng.
Sau lúc tản cư này, chính tay cụ đă viết chữ bằng bút ch́ và hai anh em chúng tôi (Pháp, Phán) phải “đồ” (tô) lại bằng bút mực cho đúng nét chữ. Chúng tôi phải viết đâu ra đó, nếu không sẽ bị “thước kẻ đánh vào tay!” Ngoài môn toán đố, cụ c̣n dậy kèm chúng tôi môn Pháp văn, cụ bắt đọc to và thật rơ từng chữ một. Những năm về sau, khi toàn gia đ́nh chúng tôi đă được đoàn tụ tại Hà Nội, cụ thường đọc dictée cho hai anh em chúng tôi viết. Gia đ́nh chúng tôi được thực sự sống quây quần hạnh phúc tại Hà Nội từ 1952 đến 1954. Di cư vào trong Nam, cha mẹ tôi hầu như tay trắng v́ tất cả nhà cửa, ruộng vườn đă để lại ngoài Bắc hết. Năm 1955, thân mẫu của chúng tôi đột ngột qua đời tại Saigon khi mới 50 tuổi. Anh cả của chúng tôi đă có gia đ́nh và ra ở riêng từ lâu. Chị lớn của chúng tôi phải đi làm tại lục tỉnh để kiếm tiền phụ giúp cho cụ. Anh thứ của chúng tôi được học bổng học Nông Lâm Mục tại Bảo Lộc. Cha tôi bắt buộc phải trở thành “gà trống nuôi con” chăm nom cho ba anh em trai út chúng tôi tại Saigon. Sau khi thân phụ chúng tôi không c̣n dậy tại trường Tiểu học Phú Nhuận nữa, cụ được mời dậy Hán văn tại trường Trung học Gia Long vào năm 1957 cũng như dịch sách chữ Hán sang chữ quốc ngữ cho Sở Tu Thư thuộc Bộ Giáo Dục trong những năm kế tiếp. Cụ luôn luôn mặc quần áo ta rất chỉnh tề mỗi khi đi dậy học hay khi ra phố. Mỗi buổi tối, sau khi ăn cơm xong, cụ huấn luyện cho ba anh em trai chúng tôi ngồi xuống bàn mà học và Cụ thường kèm thêm Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi. Cụ c̣n thuê thợ đóng một cái bảng đen thật dài để cho chúng tôi giải những bài toán và vẽ h́nh. Trong thâm tâm, cụ luôn luôn mong ước cho các con cháu của cụ biết trọng sự học, phải học hành cho đến nơi đến chốn, và nhất là phải biết trọng luân thường, đạo lư. Mấy năm trước đây, một chị bạn của chúng tôi ngày xưa học trường Gia Long đă cho tôi xem một bức h́nh chụp chung của các giáo sư dậy trong trường Gia Long hồi cuối thập niên 50. Trong h́nh, tôi nhận ra ngay một giáo sư khăn đóng, áo dài: vị này chính là cố giáo sư Đàm Duy Tạo, thân phụ của chúng tôi! Tôi thấy bàng hoàng và sững sờ: cả một thời “hoa bướm ngày xưa” hiện ra trước mắt! Hồi đó một số nữ sinh Gia Long đă hay đến thăm ông thầy dậy môn Hán văn tại căn nhà chúng tôi. Cỡ tuổi của họ và của tôi cũng chỉ “xêm xêm” với nhau mà thôi! Tự nhiên tôi thấy tôi trở về với căn nhà của gia đ́nh chúng tôi tại đường Yên Đổ với cái bảng đen rất dài trong pḥng ngoài và thân phụ chúng tôi đang ngồi đọc “chữ Tây” hay chữ Nho. Thế rồi anh Phaùp và tôi đi du học, căn nhà nay chỉ c̣n có cha tôi sống lủi thủi với chú em út mới vừa lên trung học. Những h́nh ảnh này không làm sao tôi quên được, để rồi sau khi tôi đă 50 tuổi, trong lúc ngồi chấm bài trước bàn thờ của cha mẹ chúng tôi, tôi đă ghi lại những gịng thơ dưới đây: Con c̣n nhớ … Năm con mười ba tuổi Một đêm Trung Thu Bất thần Mẹ ra đi vĩnh cửuBố gánh chịu thân gà trống nuôi con! Mười chín tuổi, con ra điMáy bay cất cánh Bố ở lại ... Bạn đời với văn chương chữ nghĩa, Bần thần thương nhớ con trai. V́ tương lai, sự nghiệp Hay v́ con vướng mộng giang hồ? Cụ không hề tục huyền. Sau khi anh Pháp và tôi đă xuất ngoại, Cụ chỉ ước nguyện c̣n được sống thêm vài năm để trông nom cho chú em út của chúng tôi tốt nghiệp ñại học, thế là cụ măn nguyện lắm rồi! Cụ viết thư đều đặn cho tôi và có một lần, cụ đă viết cho tôi: “Nếu Bố giầu có, Bố đâu muốn để hai đứa phải đi du học xa nhà v́ Bố nhớ hai đứa lắm!” Đêm hôm đó, tôi lang thang ra bờ biển ngắm về phương trời quê hương xa vời vợi nơi nào để nhớ về cha tôi. Năm 1965, tôi được chính phủ Úc cho vé máy bay về thăm gia đ́nh nhưng chính thân phụ tôi đă gửi điện tín sang khuyên tôi không nên về v́ cụ sợ tôi sẽ bị kẹt lại Việt Nam v́ những “coups d’etat” bất tử. Sau biến cố Mậu Thân 1968, cụ cũng đă khuyên tôi nên ở lại ngoại quốc mặc dù cụ cũng rất muốn gặp lại tôi. Rồi tôi đi biền biệt sang lập nghiệp tại Canada và không c̣n hy vọng ǵ để gặp lại cha già và các anh chị em của tôi nữa. Tới tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thấu hiểu được những cái nhọc nhằn, đơn độc của kiếp “gà trống nuôi con” và những hy sinh gan dạ của cụ chỉ v́ cụ thực sự mong mỏi cho tôi được sống an b́nh tại ngoại quốc trong khi đó hàng ngày cụ vẫn mong thư của tôi gửi về:
Cuộc đời ra sao? Con đi vào một thế giới khác Không người thân bên cạnh. Bố ở nhà canh cánh mong con, Đời thiếu vuông tṛn!
Trong niềm đau thương của đất nước, tôi gặp lại được cha già, anh em trong lúc mất nước nhà tan vào hồi tháng Sáu, 1975. Lúc này, cụ đă gần 80 tuổi. Hồi nhỏ, tôi không hề thấy cha tôi khóc, nhưng lần này, cụ đă thật sự khóc, khóc thương đất nước rơi vào tay cộng sản, khóc thương cho các con cháu của cụ c̣n kẹt lại bên Việt Nam . Sau khi các anh chị em chúng tôi đă được sống ổn định tại Hoa Kỳ và Canada, cụ đă mừng rỡ thấy anh Pháp và tôi trở thành hai nhà giáo theo truyền thống của gia đ́nh họ nội. Cụ thường hỏi thăm tôi về công việc nhà trường của tôi. Cụ chẳng đ̣i hỏi ǵ, có chăng chỉ là: - Nếu có thể được, nhớ mua cho Bố mấy cuốn sách chữ Hán và nhất là cuốn tự vị chữ Hán và tiếng Pháp, nghe con! Tôi lên phố Tầu mua biếu cụ một bộ tự điển chữ Hán sau khi cụ đă viết tên bằng chữ Hán cho tôi. Có lần tôi phải đợi họ đặt mua từ bên Hồng Kông dùm cho cụ. Có một lần tôi thấy một cuốn báo chữ Tầu có nhiều h́nh ảnh đẹp, tôi hí hửng mua về tặng cụ với niềm vui thú như ngày xưa tôi đă “mong mẹ về chợ” để có quà vậy! Ngày hôm sau, cụ tặc lưỡi và nói với tôi: - Người Tầu bây giờ họ “lăng mạn“ thật! Ai lại trai gái mới quen nhau mà chưa chi đă nhẩy lên giường liền! Thật chẳng c̣n có cái lễ nghĩa ǵ cả! Tôi phải quay mặt ra chỗ khác mà ph́ cười. Chẳng qua chỉ là v́ tại tôi không biết chữ Hán mà vớ đại ngay phải một cuốn báo “porno” của dân Hồng Kông! Khi cụ đă gần cửu tuần, sức khỏe sa sút, anh Pháp tôi từ Texas lên thăm cụ tại Montreal, Canada. Anh tôi có xin cụ một đôi câu đối để treo trong pḥng làm việc. Cụ vui vẻ tự mài mực Tầu, cắt hai miếng giấy đỏ dài, miệng lẩm bẩm những lời sắp viết. Tay trái cầm kính “lúp” và tay phải cụ xoay xoay ngọn bút lông ưng ư nhất. Cụ viết chậm lắm và nét bút đă run nhiều. Cụ viết cho anh tôi đôi câu đối lấy từ một bài thơ của Tŕnh Hiệu đời nhà Tống:
Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng
Ư nghĩa rất hiền ḥa, nhân ái : hăy b́nh thản quan sát để mà thấy mọi vật đều tự đâu vào đó, và trong khắp bốn mùa hăy t́m hứng thú mà giao hảo với tha nhân. Đó cũng chính là lối sống trong suốt cuộc đời của cụ, một nhà nho can đảm, b́nh thản đă chấp nhận cuộc đời mà mệnh Trời đă định. Giờ đây, tuy thân xác của cụ không c̣n nữa nhưng cụ vẫn c̣n sống ngay trên các ngón tay của chúng tôi: những gịng chữ viết của tất cả các anh chị em chúng tôi đều từa tựa giống như chữ cụ đă viết v́ chính cụ đă đích thân viết bằng bút ch́ để cho chúng tôi đồ lại khi anh chị em chúng tôi mới tập viết chữ! Cụ đă không để lại cho chúng tôi tiền bạc nhưng cái di sản quư báu nhất của Cụ để lại cho anh chị em chúng tôi và cháu, chắt của cụ, đó là chúng tôi sống thuận ḥa với nhau, trọng sự hiếu nghĩa, trọng sự học hành cho đến nơi đến chốn và cố gắng làm sao sống cho hợp với đạo làm người. Lâu lâu, tôi vẫn thường gặp cụ trong những giấc mơ. Cụ trông tuy rất già nhưng vẫn c̣n khỏe mạnh. Khi tôi gặp khó khăn trong những giấc mơ, cụ luôn luôn tự nhiên xuất hiện bên cạnh tôi như để chia sẻ và giúp đỡ cho tôi qua khỏi những giây phút căng thẳng trong đời sống. Cụ sống trong tâm tưởng của tôi và tôi thấy rất nhẹ nhàng và thương yêu mỗi lần tôi nghĩ tới cụ.
Đàm Trung Phán Tháng Chín, 2004 Toronto, Canada
|