Có nên giết chết thơ bằng 'đường lối phi ngữ nghĩa'?

Trần Mạnh Hảo

 

Thưa rằng, thuật ngữ “đường lối phi ngữ nghĩa” là của nhà thơ Hoàng Hưng, nhằm trưng ra bổn hiệu của một nhóm các nhà thơ được gọi là “tiền phong” hay “hiện đại”, trong đó có Dương Tường, trích trong bài: Đường Dương Tường nghiêng... in hơn một trang báo khổ lớn trên Tiền Phong Chủ nhật số 1 ngày 2/1/2005. Bài viết này của chúng tôi không nhằm phê b́nh tập “Thơ Dương Tường” (v́ nó chưa xuất bản), mà chỉ nhằm trao đổi với nhà thơ Hoàng Hưng về những quan niệm thẩm mỹ ông dùng để đo đạc thơ Dương Tường. Chính ra Hoàng Hưng nên để tập “Thơ Dương Tường” ra mắt, mới nên viết bài ca ngợi. Đằng này, tập thơ kia chỉ mới có cái b́a in trên báo với chú thích của ṭa soạn: “B́a tập thơ mới sắp xuất bản của Dương Tường”. Có lẽ đây cũng là lối phê b́nh thơ theo trường phái “phi ngữ nghĩa” của Hoàng Hưng: khi tập thơ chưa ra đời đă mời cả nước đến ăn thôi nôi! Không có tập thơ Dương Tường trong tay, độc giả và cả người viết bài này không có cái để kiểm chứng xem những lời khen của Hoàng Hưng đúng hay sai. Chúng tôi xin tạm thời bàn với Hoàng Hưng trong phạm vi bài viết của ông, chờ “Thơ Dương Tường” ra mắt, sẽ xin hầu chuyện tiếp cùng cả hai vị sau.
  
Xin xem Hoàng Hưng, thông qua việc ca ngợi tập thơ chưa xuất bản của Dương Tường, đă viết: “Bạn bè ông thường đọc trại câu mở đầu bài trên  thành: “Những ngón tay mưa / Dương Tường trên mái”. Thoạt chỉ để đùa yêu cái tinh thần “duy nhạc” của tác giả, nhưng măi rồi mọi người thấy “Dương Tường trên mái” nghe thú vị hơn, có thể cộng hưởng hai âm dươngtường là những âm mở, kéo dài, ngân nga, nghe sướng hơn âm cầm, ngắn và đóng. Sự đùa này thể hiện đường lối phi ngữ nghĩa của nhóm các ông...”; “... Lớp thơ trẻ chúng tôi - quen gọi là thế hệ chống Mỹ, vốn thuộc về cái nhóm Trần Dần và các bạn cùng chí hướng, trong đó Dương Tường là một thành viên tương đối trẻ, đặt tên là “ḍng nghĩa”, ư nói ḍng thơ lấy ư nghĩa câu thơ làm căn cốt (ḍng thơ này th́ bao giờ cũng chính thống, áp đảo, hồi ấy cũng như bây giờ vậy) để đối lập với hướng thơ của một nhóm cực thiểu số, bên lề, “bàng thống”, hướng vào việc khai thác những khả năng của chữ, nói khác đi là nhấn mạnh yêu cầu sáng tạo của ngôn ngữ” (Những chữ in đậm do Trần Mạnh Hảo nhấn mạnh).
 
Khi Hoàng Hưng đă viết hai năm rơ mười như trên về một nhóm thơ “cực thiểu số” lấy “đường hướng phi ngữ nghĩa” làm tiêu chí sáng tạo thơ th́ rơ ràng công cuộc vô nghĩa hóa thi ca là “công trạng” của nhóm thơ này vậy. Khi nhóm “tiền phong - hiện đại” này coi việc làm thơ của họ đối lập với thơ có nghĩa, thơ "ḍng nghĩa" của mọi người th́ rơ ràng họ đă trở thành các nhà “vô nghĩa học” của thơ đó thôi. Triệt bỏ ư nghĩa của “chữ”, của “ngôn ngữ” th́ ngôn ngữ ấy, chữ ấy chỉ c̣n là cái xác vô hồn. Khi làm việc này, họ lại tuyên bố ḿnh “đang khai thác những khả năng của chữ”, rồi th́ “nhấn mạnh yêu cầu sáng tạo của ngôn ngữ”. Sau khi giết chết chữ, giết chết ngôn ngữ bằng cách loại bỏ ư nghĩa, loại bỏ sự nhận thức của con người với chữ đó, với ngôn ngữ đó th́ c̣n chữ đâu, c̣n ngôn ngữ đâu để họ “khai thác khả năng”, để họ sáng tạo? Chẳng khác ǵ một anh nọ sáng ra đứng giữa phố biểu diễn sự sáng tạo tiếng Việt, biểu diễn khả năng tiềm ẩn của chữ bằng cách cứ u u ơ ơ, lúc th́ tru lên như sói, lúc th́ gào như mèo, lúc th́ gầm như sư tử, lúc lại hú hét như vượn, lúc lại rinh rích ro ro như dế... Khi anh biểu hiện “con âm” (chữ của Dương Tường trong bài “Vật liệu chính của thơ tôi không phải con chữ mà là con âm”- nghĩa là ông này gọi nhầm âm nhạc là thi ca) của các loài thú, biểu hiện con âm của tiếng sóng vỗ, tiếng gió thổi... th́ xin lỗi đấy không phải là tṛ chơi thơ của con người, dù là tṛ chơi “phi ngữ nghĩa” đi nữa. Chỉ có người không tỉnh táo mới đủ kiên nhẫn ngồi nghe một anh nhà thơ hiện đại kia đọc lên những “con âm” vô nghĩa suốt hàng tiếng đồng hồ?

Một sự lạ là những nhà thơ của trường phái “phi ngữ nghĩa” kia vẫn tỉnh táo chứ không hề điên khùng hay man man khi “sáng tạo”, khi rước linh hồn “chữ” linh hồn “ngôn ngữ” về chầu ông bà ông vải. Họ sáng suốt hoàn toàn khi  cố t́nh xóa bỏ sự nhận thức nơi độc giả khi đọc thơ họ. Họ tỉnh như sáo khi cầm bút lên, hoặc khi gơ vào bàn phím máy vi tính chọn các mẫu tự, chọn “con âm phi tiếng người”, chọn “con nét”, “con màu”... với ư thức rất quyết liệt là ta muốn làm thơ ca bất tử bằng cách  giết chết mọi ư nghĩa của “chữ” của “ngôn từ”, cho chúng thành những ú ớ u ơ mà đến giời cũng không thể giải mă. Họ dùng chính sự hiểu biết có tính mục đích để giết sạch sành sanh, giết chết đứ đừ mọi ư nghĩa của từ ngữ. Khi thơ, khi “chữ”, khi “ngôn ngữ” kia không c̣n ư nghĩa, tức là tắc tị trăm phần trăm, hũ nút toàn phần. Đọc thơ họ không khác ǵ đi xem hoa hậu da đen trong đêm ba mươi tết mà không hề có điện, có đèn, có nến.

Từ con vật trở thành con người, với sự xuất hiện của ư thức, tổ tiên chúng ta đă phải mất hàng tỷ năm mới thoát khỏi thế giới vô nghĩa để bước vào một thế giới có ư nghĩa là nền văn minh hôm nay. Quá tŕnh tiến hoá từ dă man tới văn minh kia chính là quá tŕnh của con người đi t́m ư nghĩa của tồn tại nơi loài người. Không có ư nghĩa, không c̣n ư nghĩa trong hành tŕnh sống th́ không c̣n là quá tŕnh người nữa rồi! Bất cứ mọi sáng tạo nào của cơi người được gọi là sáng tạo đều phải đi cùng với cái có nghĩa. Trong khi loài người khao khát làm cho nghệ thuật đa ngữ nghĩa hơn, nhiều tầng nhiều vỉa ngữ nghĩa hơn, tức sâu sắc hơn, tiềm ẩn hơn th́ tại sao các vị  “nhà thơ” tự mạo danh là “tiền phong”, là “hiện đại” kia lại âm mưu t́m mọi cách giết chết ư nghĩa của tiếng người, của chữ người? Loại bỏ ư nghĩa của tiếng người, chữ người th́ làm sao có thể thành thơ của cơi người? Khi các vị loại bỏ nhận thức của người đọc ra khỏi thi ca, cũng có nghĩa là các vị đă loại bỏ chữ chân trong tôn chỉ mục đích của nghệ thuật là chân thiện mỹ. Xóa bỏ chân, cũng có nghĩa là các vị phá bỏ luôn cái thiện. Không c̣n chânthiện th́ hỡi ôi làm ǵ c̣n có cái mỹ, làm ǵ c̣n cái đẹp của thi ca? Hay là các vị đang phấn đấu một nền thơ phi chân thiện mỹ? Thơ hay nghệ thuật nói chung đến với trái tim người bằng con đường duy nhất là truyền cảm = cảm nhận. Phủ nhận chính chữ nhận này th́ chữ cảm kia cũng thành không có. V́ vậy nhận thức = ư nghĩa = cái chân là cơ sở của không chỉ của nghệ thuật mà c̣n là toàn bộ đời sống con người. Ngay cả các vị đang “sáng tác ra món thơ phi ngữ nghĩa” cũng không nằm ngoài sự nhận thức. Có điều là nhận thức ấy đúng hay sai, tốt hay xấu, chính hay tà, đẹp hay không đẹp mà thôi.

Quan niệm nào th́ thành quả ấy, xin trích lại những câu thơ vô nghĩa của Dương Tường mà Hoàng Hưng dẫn ra để khen ngợi rằng: “Dương Tường đă cho người yêu thơ những bài thơ mà hiệu quả âm nhạc tạo h́nh là một với sức mạnh cảm xúc, t́nh cảm, ư tưởng, không tách bạch được đâu là “âm”, đâu là “nghĩa”, đâu là “h́nh thức” đâu là “nội dung”. Đủ để ghi tên Dương Tường trong số các nhà thơ đóng góp vào sự phát triển của thơ hiện đại Việt Nam”. Xin quư độc giả đọc những “ḍng thơ” rất Dương Tường mà Hoàng Hưng quảng bá là “với sức mạnh xúc cảm” như sau: “Phố nêm... / kèm kem / đèn ren / đùi ren / lụa len”... “bụi sáng / bạch lạp ngực rằm / năm nắm / ngực rằm / nem nén / ngực rằm...”... “Nô-elle / Nô-em / Nô-men / No man"s land / N-mô m- nen x-len / leng beng / lang ben / ma lem / Mariem / x-em  x-em”... Xin xem Hoàng Hưng tâng bốc những ḍng chữ vô nghĩa, ú ớ, ngơ ngơ trên của Dương Tường mà ông gọi là thơ như sau: “ Những ḍng thơ h́nh như đă thoát khỏi “chủ đề” (nếu như bài thơ quả có một chủ đề) để bay nhảy tự do theo đà biến tấu, nghịch ngợm, ngộ nghĩnh một cách rất “hậu hiện đại”. Ngoài thứ “thơ” toàn những “con âm” vô nghĩa ú ớ là ḍng chính của thơ “phi ngữ nghĩa” của Dương Tường mà Hoàng Hưng dẫn ra ca ngợi, c̣n thêm nhiều kiểu vô nghĩa hoá thơ của Dương Tường khác; ví như  món “xếp chữ trên trang” mà Hoàng Hưng gọi là “tách các mẫu tự” theo kiểu các phụ âm, các nguyên âm trong một từ liên tù t́ xuống hàng một cách phá giấy, phá thơ, phá người đọc, phá thẩm mỹ như sau:

Mư ư ưa
          Mùa v-
                    ắ-
                        n- 
                           g 
                                 trắng
(Mea Culpa)

Hay: 
                     e
                     r
kể       cả        o      miền
                     t   
                     i
                     c       
                     a
                   
(Mea Culpa)
 
Theo Hoàng Hưng, quá tŕnh vô nghĩa hoá thi ca của Dương Tường c̣n thành công ở chỗ ông cố t́nh viết sai tiếng Việt, ví dụ đồ hộp th́ Dương Tường viết thành đồ hộb, khoảnh khắc th́ viết thành khoảng khắk, dăy phố viết thành zăy phố, dậu sắt th́ viết sai thành zậu sắt, giọng kim th́ viết sai thành jọng kim, từ không th́ chỉ viết thành kh^ (sao em kh^)... Chẳng lẽ cái lối làm hỏng Tiếng Việt này là sáng tạo ngôn ngữ, là sáng tạo chữ ư?

Cũng theo Hoàng Hưng, việc Dương Tường hay đưa tiếng nước ngoài vào thơ Việt của ông là một bước tiến mới của thơ như sau: “Kể cả yếu tố tiếng nước ngoài ông thường chêm vào giữa Tiếng Việt, có thể là một cách đẩy t́nh tự thơ vào viễn cảnh nhân bản phổ quát”. Cứ đà này, thiên hạ rồi sẽ bắt chước cho đầy tiếng Ma-rốc, tiếng Công-gô vào giữa tiếng Việt trong thơ, th́ đó chắc là sáng tạo chữ, sáng tạo ngôn ngữ Việt hay ho nhất  đấy? Hoàng Hưng chú thích ngụy biện rằng v́ Dương Tường là dịch giả nổi tiếng uyên bác, nên việc ông chêm tiếng nước ngoài vào thơ Việt của ḿnh là chỉ tăng thêm phần “nhân bản phổ quát”, tức là thế giới tính của thơ mà thôi! Than ôi, ông cha ta ngót cả ngh́n năm từ thời Hàn Thuyên đă t́m mọi cách thoát khỏi tâm thức Hán, văn tự Hán trong văn chương để thành tâm thức Việt, văn tự Nôm mới có Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán ngâm khúc. Nay nhóm Hoàng Hưng - Dương Tường v́ mục đích “cách tân thi ca” đang làm ngược lại hành tŕnh thi ca Việt ngữ là toan Pháp hóa, Anh hóa ngôn ngữ thơ Việt th́ c̣n ǵ là thơ Việt nữa!

Trong thơ Dương Tường mà Hoàng Hưng trích ra, ta thấy câu có nghĩa nằm ngoài ư đồ “phi ngữ nghĩa” lại thường là những câu rất tục tĩu như sau: “x-em , x-em (phải đọc lên thành “con âm” là sờ  em!) hay “Dương Tường trên mái” (không thể hiểu là mái nhà mà ngữ nghĩa ở câu này phải hiểu “mái” này là “trống mái”!). Hay những câu nhơ nhớp như sau: “Tôi năng jặt ḷng ḿnh như / đàn bà tháng tội jặt trăng”, “Đèn đường / mủ đêm”, “ Khe vú hở ra rất trắng”, “mùi gạch non một mùi nách đàn bà”...

Với những “câu thơ” trích dẫn trên và một số dẫn giải của chúng tôi về “đường lối phi ngữ nghĩa” của nhóm Dương Tường - Hoàng Hưng, thiết tưởng không cần phải nhiều lời, chúng ta có thể tự kết luận rằng thứ “thơ” như thế này là một cách hữu hiệu để giết chết tiếng Việt, để giết chết thơ hay là sáng tạo tiếng Việt, sáng tạo và cứu sống thơ?