TƯỞNG NIỆM CA SĨ HÀ THANH

 

Để nghe nhạc trên art2all.net, cần có Adobe Flash Player

Không nghe được nhạc, xin nhấn vào tựa đề để tải về

 

TỪ ĐÀM QUÊ HƯƠNG TÔI

 

Nhạc : Nguyên Thông ( Văn Giảng)

Tiếng hát : Hà Thanh

 

~~oOo~~

 

 

 

CHÙA TỪ ĐÀM

Cao Huy Thuần

 

          Chùa tọa lạc ở phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa do Ḥa thượng Minh Hoằng - Tử Dung dựng vào khoảng năm 1695. Năm 1703, Chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Ân Tôn Tự". Đến năm 1841, Vua Thiệu Trị đổi tên chùa là Từ Đàm. Cấu trúc chung của chùa gọi là "kiểu chùa Hội". Sau cổng tam quan, có cây Bồ-đề do bà Karpeles, Tổng thư kư Viện Phật học Phnom-pênh (Campuchia) thỉnh từ Ấn Độ qua Việt Nam tặng, được trồng vào năm 1939. Vào năm 1936, chùa là trụ sở của hội An Nam Phật học. Năm 1951 chùa là nơi họp 51 đại biểu Phật giáo toàn quốc chuẩn bị thống nhất Giáo hội Phật giáo. Chùa hiện đặt văn pḥng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế. (BBT TVHS) 

Từ Đàm là ngôi chùa cổ mà không cổ. Chùa cổ, nếu tính theo năm khai sinh, khoảng 1690. Khi chùa khai sinh, Trịnh Nguyễn hăy c̣n phân tranh, mỗi mái chùa dựng lên ở phương Nam là mỗi bước chân mở đường Nam tiến sống chết của dân tộc. Lúc đó, chùa chỉ là tranh và nứa với tên gọi là Ấn Tôn. Đến thời Thiệu Trị, năm 1841, chùa được trùng tu và đổi tên là Từ Đàm. 

Khang trang hẳn, nhưng chùa vẫn phải xây thêm lần nữa, mở rộng ra, cùng với phong trào chấn hưng Phật giáo năm 1935. Bởi vậy chùa không cổ, kiến trúc 1935 không phải là kiến trúc cổ, nhưng hợp với nhu cầu của một chùa hội trong thời thế mới, một ngôi chùa để làm trụ sở cho Hội Phật giáo của cả xứ Trung kỳ trong vận hội chấn hưng Phật giáo Bắc – Trung – Nam. Từ đó đến nay, chức năng của chùa Từ Đàm vẫn thế, vẫn là chùa hội, vẫn là nơi hội họp của đông đảo quần chúng, nhưng không gian kiến trúc của thuở chấn hưng đă trở thành chật chội với lượng Phật tử ngày càng đông của thời phát triển. Nhân dịp tu sửa v́ dột nát, năm nay chùa mở rộng tầm vóc thêm lần nữa, nhưng vẫn giữ duyên xưa trong khung cảnh cũ. 

 

 

Từ Đàm là mây lành. Đức Phật như mây lành, đem bóng mát đến cho thế gian. Trên bước đường Nam tiến của dân tộc, hăy tưởng tượng đến những người đầu tiên chọn đất xây dựng chùa. Trước mắt là đất mới, trên đầu là trời xanh. Có lẽ người đặt tên chùa đă tưởng tượng như vậy. Trên bầu trời xanh của nắng mới phương Nam, có đám mây lành tỏa bóng im xuống mặt đất. Đây rồi, nơi bóng im này, tiếng lành của Đức Phật sẽ âm vang trên đất mới. Từ Đàm là nghe được tiếng lành của mây, mây chọn đất cho người dựng chùa. Hăy tưởng tượng nỗi vui của người vừa chọn được đất: người đó chắp tay nh́n chỗ bóng mây in dấu khi năy, thầm cám ơn, bỗng thấy bóng của hai bàn tay ḿnh chắp lại như hai tháp chuông của một ngôi chùa sẽ dựng. Từ Đàm mai đây sẽ có hai tháp chuông như thế. Ai nghe tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy trong tiếng chuông có mây, mây bay theo tiếng chuông, ngân nga trong không trung tiếng lành từ thuở dựng chùa. 

Trong đời sống b́nh dị như thế của Từ Đàm, bỗng nhiên lịch sử chọn nơi này làm khởi điểm cho một phong trào quật khởi, chống kỳ thị tôn giáo. 1963! Lịch sử thế giới bùng lên ngọn đuốc Việt Nam, và Từ Đàm là đốm lửa xuất phát. 1963 để lại cho Phật tử một bài học lớn: khi uất ức của Phật giáo cũng là uất ức của quần chúng, khi tiếng nói của Phật giáo vang lên tiếng nói từ mọi trái tim, khi đó Phật giáo mới thật là xứng đáng với lịch sử. Ba trăm năm trước, mây Từ Đàm để lại bóng im; ba trăm năm sau, trăng tṛn Phật đản hiện ra trên mái chùa. Trăng nói ǵ? Hăy hành động, hăy dũng cảm, nhưng đừng quên dũng cảm là một với từ bi, cho nên bất bạo động là thái độ duy nhất đúng. Bởi vậy, hăy đọc lại những biểu ngữ trương ra trên sân chùa năm ấy, hăy nghe lại lời hiệu triệu rắn rỏi của người chỉ huy: trong quắc thước của quyết tâm, lời nói vẫn là lời nói lành, v́ phương châm vẫn là bất bạo động. Cho nên “lửa từ bi” đă đi vào văn thơ Việt Nam, đă làm thế giới bàng hoàng sực tỉnh. Suốt mùa tranh đấu, Từ Đàm nằm trong dây kẽm gai, nhưng tuyệt thực trong chùa vẫn làm xôn xao bát cơm của người dân trong thành phố. Trong tiếng chuông Từ Đàm hôm nay, có mây bay qua, có trăng hiện ra, cả mây và trăng đều nói lên lời lành, trong b́nh thường của cuộc sống cũng như trong bất thường của biến động. Nơi đây vẫn lưu dấu hai vầng nhật nguyệt của sử sách Từ Đàm: Ḥa thượng Thiện Siêu và Ḥa thượng Trí Quang. Chùa tọa lạc ở phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa do Ḥa thượng Minh Hoằng - Tử Dung dựng vào khoảng năm 1695. Năm 1703, Chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Ân Tôn Tự". Đến năm 1841, Vua Thiệu Trị đổi tên chùa là Từ Đàm. Cấu trúc chung của chùa gọi là "kiểu chùa Hội". Sau cổng tam quan, có cây Bồ-đề do bà Karpeles, Tổng thư kư Viện Phật học Phnom-pênh (Campuchia) thỉnh từ Ấn Độ qua Việt Nam tặng, được trồng vào năm 1939. Vào năm 1936, chùa là trụ sở của hội An Nam Phật học. Năm 1951 chùa là nơi họp 51 đại biểu Phật giáo toàn quốc chuẩn bị thống nhất Giáo hội Phật giáo. Chùa hiện đặt văn pḥng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên - Huế. (BBT TVHS) 

 

 

Chùa không phải là cổ tự, kiến trúc không phải là nét độc đáo của Từ Đàm so với các ngôi của lớn khác ở Huế. Đặc điểm của Từ Đàm, lạ thay, chính là cái sân chùa và cây bồ đề giữa sân. Sân chùa là nơi hàng ngàn quần chúng đă tụ họp trong ngày Phật đảm 1963 để bắt đầu viết lên một trang sử lớn. Cây bồ đề cổ thụ, to bằng cả bốn, năm ṿng tay, tỏa bóng mát xuống sân, vững hơn cột đồng Mă Viện, tượng trưng cho sức sống Phật giáo giữa ḷng dân tộc. Hai biểu tượng đó của chùa Từ Đàm phải giữ, để kỷ niệm 1963 không phai với thời gian. Cùng với hai biểu tượng đó, một pḥng lưu niệm phải được thiết kế trong kiến trúc mới, có chức năng như một viện bảo tàng, để ǵn giữ và trưng bày tất cả những kỷ vật, dù lớn dù nhỏ, dù chỉ là một bài báo, một tranh ảnh, một băng ghi âm, một bài nhạc, một trái lựu đạn, một băng tang, tất cả những ǵ có liên quan đến một thời đứng dậy. Từ Đàm là như vậy, là tinh thần 1963 phải giữ, không phải chỉ là tường vách ngày xưa.
Từ Đàm là như vậy. Du khách đến viếng Từ Đàm sẽ thấy Huế của 1963, nhỏ nhắn, hiền lành, nhưng khi quật khởi th́ cả cái đèo Hải Vân cũng chỉ là chiếc cầu rửa chân cho một cô công chúa. Ai nghe trong tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy mây bay ba trăm năm trước, trăng tṛn Phật đản ba trăm năm sau, và tiếng gió đong đưa trong lá cây bồ đề trước sân, như gieo tiếng an vui vào ḷng mọi người. Từ Đàm thay đổi để Từ Đàm c̣n măi.


Cao Huy Thuần
(Tạp chí Văn hóa Phật giáo 20)
30.09.2006
 

~~oOo~~


VAI TR̉, VỊ TRÍ CHÙA TỪ ĐÀM

THEO D̉NG LỊCH SỬ XỨ HUẾ 

Thích Hải Ấn

 

Kể từ khi Tổ Minh Hoằng Tử Dung cắm tích trượng khai sơn Ấn Tôn thiền thất đến nay đă gần 300 năm. Lúc đầu là Ấn Tôn Tự rồi sau hơn 1 thế kỷ rưỡi trở thành Từ Đàm Tự. Khí thiêng sông núi un đúc, làm cho đạo mạch Ấn Tôn - Từ Đàm lưu trường. Tùy cơ duyên khế hợp của từng thời đại, chùa Từ Đàm đă thể hiện triết lư “Tùy duyên bất biến” của đạo Phật rốt ráo. 

“Ai đi qua miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung... 

Ôi! anh linh bóng chùa Từ Đàm, 

Nơi Bắc Nam nối nguồn đạo vàng... Từ Đàm ơi!...”. 

Đó là một bài hát nổi tiếng của người Phật tử miền Trung xuất hiện sau biến cố 1963; một bài hát nói lên được nhưng nỗi niềm của mọi người con Phật miền Trung và ngay các tỉnh miền Nam đối với ngôi chùa mà họ hằng yêu dấu; nó ghi khắc sâu đậm dấu ấn lịch sử của các giai đoạn chuyển biến lớn của Phật giáo Việt Nam, đó là giai đoạn Chấn hưng Phật giáo của những thập niên 1930-1940, giai đoạn thống nhất Phật giáo 1951và giai đoạn chống đàn áp Phật giáo vào thời chính quyền Ngô Đ́nh Diệm 1963. Như vậy th́ vị trí và vai tṛ của ngôi chùa Từ Đàm đă ăn sâu vào tâm khảm của mọi người Phật tử miền Trung cũng như miền Nam, mà mỗi khi nhắc đến Phật giáo xứ Huế th́ không ai không nghĩ đến ngôi chùa lịch sử này. 

 

I. VÀI NÉT LỊCH SỬ: 

Cách đây hơn 300 năm, vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691), không rơ chính xác vào năm nào trong khoảng 10 năm: từ 1683 đến 1693, một vị Tổ từ Trung Quốc sang, vào đất Thuận Hóa và đến tại Hoàng Long Sơn, cắm tích trượng, dựng một thảo am để hoằng hóa Phật giáo Thiền Lâm Tế. Vị tổ sư đó chính là ngài Minh Hoằng Tử Dung, và thảo am của Ngài lúc đó là Ấn Tôn thiền thất, địa vực là chùa Từ Đàm hiện nay. Đến năm Quư Vị (1703) niên hiệu Chính Ḥa thứ 24 đời Lê Hy Tôn ở Bắc Hà, nhằm vào năm thứ 13 đời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) th́ thảo am đă được sắc tứ trở thành ngôi chùa có biển hiệu đề Sắc tứ Ấn Tôn Tự. Biển hiệu chùa hiện nay đang c̣n. Chùa Ấn Tôn có mặt trên đất Thuận Hóa cho đến 173 năm sau. Vào năm Thiệu Trị nguyên niên triều nhà Nguyễn (1841) có lẽ v́ kỵ húy Hoàng gia, nên nhà vua đă hạ chỉ đổi tên chùa thành Từ Đàm Tự, biển hiệu này cũng đang c̣n treo tại nhà Tổ chùa Từ Đàm. Măi đến năm 1938 th́ chùa Từ Đàm được chư Sơn môn nhường lại cho An Nam Phật Học Hội làm chùa Hội quán và được tái thiết theo đồ án như ngôi chùa hiện ta đang thấy. Hiện tại, trước tiền đường chùa Từ Đàm c̣n có biển đề “An Nam Phật Học Hội - Thừa Thiên Tỉnh Hội” do “Ninh Thuận tỉnh, Phật Học Hội cúng dường” vào tháng hai năm Tân tỵ (1941). Vào các thập niên 50 cho đến cuối thế kỷ XX, GHPG Thừa Thiên đă kiến thiết thêm cổng chùa, nhà thiền, tăng xá, nhà khách, nhà bếp; phần khác là “giảng đường” và văn pḥng Tỉnh Giáo Hội. 

 

 

Về cách thờ tự th́ chùa Từ Đàm có nét đặc biệt từ năm 1940 đến nay là trong chùa chỉ thờ độc tôn một pho tượng đức Phật Thích-ca bằng đồng cao khoảng 1m30, ngự trên ṭa sen, tay bắt ấn Tam-muội. Đây là công tŕnh nghệ thuật của ông Mai Trang Nguyễn Khoa Toàn và nhà đúc tượng Nguyễn Hữu Tuân. Trong điện Phật có bức hoành đề Ấn Tôn tự; phía Tây sát chùa có nhà Tổ, trong nhà Tổ có một chân dung ngài Minh Hoằng Tử Dung là Tổ khai sơn Ấn Tôn tự và nhiều long vị khác của Chư Tổ, cũng như nhiều bài vị bằng chữ quốc ngữ của các đạo hữu quá cố của An Nam Phật Học Hội ngày xưa. Phía đông chùa có nhà thiền; trong vườn hoa trước thiền đường có một pho tượng bán thân của Bác sĩ Lê Đ́nh Thám, người rất có công với cuộc chấn hưng Phật giáo Huế và miền Trung; tại văn pḥng tỉnh GHPG Thiên Thiên Huế ở tầng dưới của nhà giảng có pho tượng bán thân của Ngài Thích Quăng Đức người đă vị pháp thiêu thân cúng dường mười phương chư Phật trong cơn pháp nạn 1963, tại ngă tư Phan Đ́nh Phùng - Lê Văn Duyệt - Sài G̣n. Tại sân chùa Từ Đàm có một cây Bồ-đề thiêng rất lớn, chiết từ gốc Bồ-đề tại Bồ-đề đạo tràng Ấn Độ đem về trồng tại đây. Ngoài ra chùa Từ Đàm c̣n có một câu đối của nhà yêu nước Phan Bội Châu; một câu đối của Bác sĩ Lê Đ́nh Thám hiện khắc ở các trụ trước mặt tiền đường... Tất cả những ǵ nói trên đây đều biểu hiện những nét đặc trưng trong kiến trúc và trong cách thờ tự; tuy mới thoạt nh́n th́ có vẻ khác lạ, nhưng “nh́n” kỹ th́ chùa Từ Đàm vẫn theo truyền thống tâm linh Châu Á và đặc biệt là Việt Nam ta có đầy đủ Phật, Tổ truyền Pháp đăng, có Hộ pháp.... một cư sĩ là B.S Lê Đ́nh Thám, và một Tăng sĩ là Ngài Quảng Đức.... chuyển hiện vào thực tế chứ không phải chỉ là những pho tượng tượng trưng, và một cây thiêng có ư nghĩa đặc thù của Phật giáo. 

 

II.VỊ TRÍ TRONG TRUYỀN THỐNG THIỀN TÔN: 

Nguồn suối Phật giáo Lâm Tế ở Nam Hà đă xuất sinh từ vùng đất thiêng của Ấn Tôn Tự vào cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỷ thứ XVIII, tại Nam Hà có một vị Đại sư đă xả thân đi từ Phú Yên ra Thuận Đô [1] t́m cầu pháp học đạo. Vị Đại sư ấy sơ khởi t́m đến tham lễ Giác Phong Lăo Tổ ở Báo Quốc thảo am xin cầu học, sau khoảng hơn mười năm, Ngài đến chùa Thiền Lâm thọ Sa-di với Thạch Liêm Ḥa thượng (1695), hai năm sau, Ngài lên Từ Lâm xin thọ Cụ túc giới với Từ Lâm Lăo Tổ (1697). Khi đă trở thành Tỳ-kheo, vị Đại sư t́m đến tham lễ cầu học với Tổ Minh Hoằng-Tử Dung ở Ấn Tôn thiền thất (1699). Năm Nhâm Ngọ (1702) Tổ trao công án cho Ngài tham: “Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ” (萬法歸一一歸 何處). Mười năm sau, vào mùa hạ năm Nhâm th́n (1712) chư Tăng hai đạo Thuận Quảng về an cư kiết hạ tại Thiền Lâm viện, cung thỉnh Tổ Minh Hoằng Tử Dung làm thiền chủ. Trong kỳ an cư kiết hạ này, vị Đại sư tŕnh kệ “Dục Phật” được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn. Vị Đại sư người Đại Việt ở Nam Hà đắc đạo thiền Lâm Tế từ đó, và được kế truyền theo pháp kệ của tổ Minh Hoằng-Tử Dung, để có pháp danh là Thiệt Diệu, và pháp hiệu là Liễu Quán. Chính giờ phút này đạo mạch thuộc Ấn Tôn Từ Đàm tự ở Hoàng Long Sơn đă được trao truyền và tiếp nhận giữa sơ Tổ Tử Dung và đệ nhị tổ Liễu Quán để phát huy rực rỡ trên dải đất Nam Hà tức suốt từ Thuận Hóa vào Nam, từ thế kỷ thứ XVIII đến hiện nay. Bởi v́ sau đó, Tổ Liểu Quán đă hoằng truyền giáo pháp và biệt xuất một ḍng kệ 48 chữ: “THIỆT TẾ ĐẠI ĐẠO, TÁNH HẢI THANH TRỪNG, TÂM NGUYÊN QUẢNG NHUẬN, ĐỨC BỔN TỪ PHONG...” Tổ đă khai sơn chùa Thuyền Tôn, một Tổ đ́nh lớn của Phật giáo Huế từ thời Lê Cảnh Hưng (1708) đến nay. Vào các năm Quư Sửu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Măo (1735), tại Tổ đ́nh Thuyền Tôn, và đến mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742) tại chùa Viên Thông, Tổ đă khai bốn đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn tín đồ. Trong số theo tu học với Tổ, có 49 Ngài cao đệ tử đắc pháp. Bốn mươi chín vị này đă tỏa ra, vân du hóa đạo khắp các tỉnh từ Thuận Đô vào tận vùng đất mới được các chúa Nguyễn tiếp nhận của Chăm-pa. Chỗ nào có dân mới từ Tiên B́nh Thuận Hóa vào khai hoang lập ấp là dường như có các ngài đi theo để dắt dẫn, an ủi người dân mới tới nơi đất lạ xứ người. Riêng tại Thuận Đô, tức là xứ Huế hiện nay, th́ sau khi Tổ Liễn Quán thị tịch vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742), có hai cao đệ tử nỗi danh ở lại Tổ đ́nh để tùy duyên hóa độ nơi đây, đó là ngài Tế Mẫn Tổ Huấn và ngài Tế Hiển Trạm Quang; ba ngài ra Báo Quốc là Tế Ân Lưu Quang, Tế Nhơn Hữu Bùi và Tế Hiệp Hải Điện; sau ngài Tế Nhơn đă cùng với ngài Từ Chiếu vào Phú Yên. Riêng tại Huế th́ ngài Tế Mẫn Tổ Huấn có hai đệ tử đắc pháp là ngài Đại Huệ Chiếu Nhiên và ngài Đại Nghĩa Trí Hạo. Ngài Đại Huệ Chiếu Nhiên truyền xuống cho hai đệ tử là Đạo Minh Phổ Tịnh, được bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu mời ra trú tŕ Tổ đ́nh Báo Quốc được đổi tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự; và Ngài Đạo Tâm Trung Hậu ra trùng hưng tổ đ́nh Ấn Tôn dưới thời Gia Long, dấu ấn của Ngài c̣n để lại trên quả chuông đồng thời Gia Long hiện chùa Từ Đàm đang bảo quản, từ ngài Đạo Minh Phổ Tịnh truyền xuống rất nhiều đệ tử đắc pháp, nỗi danh nhất là ngài Tánh Thiên Nhất Định khai sơn An Dưỡng Am, đến Tự Đức nguyên niên (1847) được xây dựng thành chùa và được Sắc tứ là Từ Hiếu Tự. Tổ Tánh Thiên Nhất Định có ba đệ tử sáng chói là các ngài Hải Thuận Lương Duyên, Hải Thiệu Cương Kỹ, Hải Toàn Linh Cơ [2]. Hằng trăm ngôi chùa Huế hiện nay, kể cả những ngôi chùa làng được tái thiết, đều do đệ tử hoặc pháp điệt của ba ngài này hoặc khai sơn, hoặc trùng kiến, hoặc kế thế trú tŕ, làm cho Phật giáo Huế long thịnh rực rỡ. Kể từ chư Tổ ngày xưa và nhiều thế hệ Tăng sĩ hiện nay đều có pháp húy theo ḍng kệ của Tổ Liễu Quán, và đều hoằng hóa giáo pháp Lâm Tế Tử Dung - Liễu Quán vốn phát tích từ Ấn Tôn Từ Đàm vào thời các chúa Nguyễn. Phật giáo Lâm Tế Tử Dung Liễu Quán chẳng phải chỉ thực hiện việc tôn sư tuyền tâm ấn cho đệ tử mà thôi, mà Tổ Tổ tương truyền một nền giáo dục tại các chùa rất khác với nền giáo dục thời ấy; lại có nhiều điểm tương cận với giáo dục học hiện đại như dựa trên tâm sinh lư đối tượng để giáo huấn; tập động thân thể với khai mở trí tuệ quân b́nh không thiên về phần trí mà bỏ phần thể... chư Tổ và chư Tăng cũng đă đóng góp trong ngành kiến trúc chùa chiền, ngành mỹ thuật trong việc trang trí chùa tháp, đúc chuông chú tượng làm cho các ngành nề, mộc, sơn vẽ, chạm gỗ, chạm đá phát triển. Chư Tổ trong Phật giáo Huế cũng rất chú trọng đến kinh tế tự túc tự cấp. Tổ Đại Huệ Chiếu Nhiên đă thống suất tăng chúng chùa Thuyền Tôn về làm ruộng chùa ở xă Thần Phù; lúa dư ăn, c̣n nạp tô cho phủ chúa như là một hộ nông dân tập thể trong địa phương. 

Lần thứ nhất chùa Từ Đàm đă có vai tṛ trọng yếu trong việc làm phát sinh cả một Thiền phái của người Đại Việt ở Nam Hà vậy. 

 

III. VỊ TRÍ TRUNG TÂM TRONG PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO: 

Sử kiện đáng ghi nhớ là vào năm 1938 cho đến năm 1944, Vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 27 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 13, nhằm ngày 18 tháng 12 năm 1938 T.L, An Nam Phật Học Hội làm lễ đặt đá để xây dựng chùa Từ Đàm theo đồ án c̣n lại cho đến nay mà hồi đó gọi là chùa Hội quán Hội Phật Học Thừa Thiên và cũng là trụ sở An Nam Phật Học Hội. Hội này được lập vào năm 1932, gồm có 5 vị Trưởng Lăo Ḥa Thượng, mà Ḥa Thượng Giác Tiên đứng đầu, và 17 vị cư-sĩ mà B.S Tâm Minh Lê Đ́nh Thám đứng đầu, cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đồng loạt xuất hiện khắp cả nước. Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật Học thành lập năm 1931, và đầu năm 1932 th́ Hội này cho ra báo Từ Bi Âm; cũng trong năm 1932 này th́ An Nam Phật Học Hội ra đời tại Huế và qua năm 1933, hội cho ra tạp chí Viên Âm để làm cơ quan ngôn luận truyền bá đạo Pháp theo đường hướng mới. Năm 1934 Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập và năm 1935, hội cho xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ làm cơ quan ngôn luận. 

Chúng tôi cần nói đến hai tiếng An Nam. Chữ này từ đời nhà Đường trở lui dùng để chỉ nước ta [3]. Nhưng từ khi Pháp lấy mất nước, th́ chúng chia đất nước làm ba phần và gọi miền Bắc là Tonkin và dịch là Bắc Kỳ, miền Nam là Cochinchine và dịch là Nam Kỳ; c̣n An Nam chúng dành để chỉ miền Trung và dịch là Trung Kỳ. Như thế An Nam Phật Học Hội chính là Hội Phật Học của dải đất Trung Kỳ kể tử Thanh Hóa vào tới B́nh Thuận. 

Vai tṛ của Chùa Từ Đàm lần này quan trọng không kém lần thứ nhất; v́ chùa Từ Đàm từ đây (1938) là nơi phát tích nguồn chấn hưng Phật giáo cho cả 13 tỉnh suốt dải đất miền Trung. Đặc biệt, hai Nho gia Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu là những chí sĩ yêu nước sôi nổi lúc bấy giờ cũng đă nhiệt t́nh cổ vũ cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. V́ thế hai vế đối mà cụ Phan đề ở tiền đường chùa mang nhiều ư nghĩa của chủ trương này: 

“Nghiệp duyên b́nh hiệp, niên niên bạch phát thôi; đối diện tức không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy”
(業 緣 萍 合 年 年 白 髮 催, 對 面 即 空 寧 把 韶 華 付 流 水). 

“Thế sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lương mộng; hồi đầu thị ngạn, nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm.”
(世 事 棋 分 處 處 黃 粱 夢, 回 頭 是 岸 願 翻 貝 葉 出 優 曇) 

(Thân này bèo hợp, năm năm tóc trắng thêm; đối mặt liền không, há để tuổi xanh theo gịng nước?
Thế sự bàn cờ, xứ xứ đều mộng ảo, quay đầu là bến, nguyện phiên kinh Phật tỏa hương Đàm.)

 

 

Từ chùa Từ Đàm phát tích về cách kiến trúc kiểu mẫu kiến thiết chùa Hội quán và cách thờ tự độc tôn, việc chấn hưng Phật giáo lan truyền rất nhanh. Chỉ sau bốn năm hoạt động, tức là khoảng năm 1941 th́ “.... ở Thừa Thiên cũng như khắp 13 Tỉnh Trung Kỳ, dân chúng tự động nhập hội, tự động cổ động tổ chức Hội ở khắp các địa phương...”[4]. Kết quả khắp dăi đất miền Trung có đến 10 tỉnh Hội, 30 chi Hội và ngót một ngh́n Khuôn Hội Tịnh độ. “Không đầy 20 năm mà toàn cơi Trung Việt, đâu cũng có Tỉnh hội, Tỉnh hội nào cũng có các Chi hội, Chi hội nào cũng có Khuôn hội Tịnh độ. Khuôn Tịnh độ hầu hết đều có Niệm Phật Đường” (Sách đă dẫn, trg 32). Về mặt tinh thần th́ Hội Phật Học đă thiết lập Phật Học Đường từ 1932, xuất bản tạp chí Viên Âm (1933); lập Phật Học Tùng thư tại chùa Từ Đàm để phát hành, soạn và in ấn Kinh sách (1938) và đi diễn giảng lưu động. Đặc biệt là Trường Ni học đă được thiết lập tại chùa Từ Đàm vào năm 1932, về sau chuyển đến chùa Diệu Đức. Sư bà Diệu Hương làm Giám đốc trường này từ ngày đầu. Tất cả mọi đồ án kiến trúc “chùa Hội quán” nhất là Niệm Phật Đường của các Khuôn Hội th́ đều theo mẫu chùa Từ Đàm; thiết trí cách thờ tự độc tôn theo cách thờ ở chùa Từ Đàm Huế. Nếu so sánh với cách thờ tự ở chùa làng th́ ta thấy Niệm Phật Đường trong sáng, nhẹ nhỏm và thoáng hơn nhiều! Hội Phật Học đặt Hội quán ở chùa Từ Đàm đă cùng với Giáo Hội Tăng già lập ra Phật Học Đường Kim Sơn (1944). Và “tinh thần ảnh hưởng của Kim sơn bây giờ tỏa khắp mọi phương trời, mọi tổ chức, mọi Phật sự (....). Người của Kim Sơn (tức Tăng sĩ của Phật giáo được đào tạo ở Phật Học Đường Kim sơn) cùng khắp Trung Nam Bắc, đem Kim ngôn đức Phật truyền bá khắp nơi dưới tất cả h́nh thức...” (Sách đă dẫn, tr 33). Lại có nhiều học Tăng từ Phật Học Đường Long Xuyên ra theo học, về sau trở thành các vị cao Tăng của Phật giáo Miền Nam như các Ḥa thượng Thiện Hoa, Thiện Ḥa, Hiễn Thụy, Bữu Ngọc v.v... Trong dân gian toàn vùng Trung Bộ từ Thanh Hóa tới B́nh thuận, lến tới các tỉnh Di Linh, Đồng Nai thượng đều có những kết quả trong đời sống như bỏ các tập tục mê tín, không đốt vàng mă nữa, dân sống ḥa thuận với nhau, không kiện cáo như thời trước. Tỉnh nào cũng có một Ban Trị Sự Tỉnh Hội, mỗi năm về họp tại chùa Từ Đàm Huế một lần để bầu Ban Trị Sự Tổng Hội. 

Riêng với tuổi trẻ th́ từ năm 1940, ở Huế đă có Ban Đồng Ấu rồi có đoàn Thạnh Niên Phật Học Đức Dục của Bác sĩ Lê Đ́nh Thám lập ra, tụ hội được nhiều phần tử trí thức tân học thời đó để dạy Phật pháp cho họ. Năm 1943, có Gia đ́nh Phật Hóa Phổ ra đời; đến năm 1951 đổi thành gia đ́nh Phật tử. Đây là “một Tổ chức giáo dục thiếu nhi quan trọng và có sắc thái độc đáo, có thể nói đó là một trong những nét đặc biệt nhất của đạo Phật tại Việt Nam. Tại các nước Phật giáo trên thế giới chưa có tổ chức thiếu niên nào đông đảo và có tổ chức khéo léo như thế...” (Nguyễn Lang, VNPGS luận III trg 256). Tổ chức này đă đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm, và lan rộng tới cả miền Nam lẫn miền Bắc. Ngoài Bắc các cư sĩ Nguyễn Văn Nhă, Lê Văn Lăm, Vũ Thị Đính đă tạo dựng cơ sở đầu tiên cho GDPH Phổ tại Hà Nội và Hải Pḥng. Trong Nam các cư sĩ Tống Hồ Cầm và Nguyễn Văn Thục đă xây dựng các đơn vị GDPH Phổ trong phạm vi Hội Phật Học Nam Kỳ. 

Hiện nay, bài hát “Từ Đàm Quế Hương Tôi” của Nguyên Thông như trên đă nói. Bài hát đă nhắc nhở đến một sử kiện quan trọng từ chùa Từ Đàm Huế xuất phát ra: đó là cuộc Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1951. Đây là một Hội nghị lớn mà tầm quan trọng của nó thật vô cùng lớn lao. Năm mươi mốt (51) đại biểu của sáu tập đoàn Tăng già và Cư sĩ cả ba miền đất nước về họp tại chùa Từ Đàm Huế để làm việc chung trong bốn ngày ṛng ră; lại có hơn 300 Phật tử gồm có nhiều vị trong Giáo Hội Tăng Già Sơn Môn Thừa Thiên và các Khuôn Hội khắp tỉnh Thừa Thiên về dự thính. Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên lo sắp xếp nơi ăn ngủ, nơi làm việc từng tiểu ban, và nơi họp Đại Hội đồng và lo chương tŕnh nhiều khóa lễ tại chùa Từ Đàm cho toàn Đại biểu dự Đại Hội. Sau thời gian bàn thảo, toàn Hội nghị để thống nhất Phật giáo Việt Nam đă ra bản Quyết nghị như sau: 

“Chúng tôi Đại biểu của các tập đoàn Phật Giáo sau đây: 

Tăng già Trung Việt-- Tăng già Bắc Việt-- Tăng già Nam Việt, Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt, Hội Việt Nam Phật Học Trung Việt- Hội Phật Học Nam Việt; hội họp tại chùa Từ Đàm (Thuận Hóa) ngày 01, 02, 03, 04, 05 tháng Tư Phật lịch 2514 tức là ngày 6, 7, 8, 9, 10 tháng Năm, 1955 đồng công nhận Bản Điều Lệ Hội Phật Giáo Việt Nam rất hợp lư và biểu hiện sự thống nhất PGVN một cách cứu cánh. Để thực hiện bản Điều Lệ ấy, chúng tôi cùng nhau quyết nghị những khoản sau:

Khoản I. Cùng nhau lập một Tổng Hội y theo Bản Điều Lệ trên lấy tên là Hội Phật Giáo Việt Nam. 

Khoản II Cung thỉnh một ban chứng minh gồm có: 

1. Ḥa Thượng Mật Ứng (BV); Ḥa Thượng Tuệ Tạng (BV)
2. Ḥa Thượng Giác Nhiên (TV); Ḥa Thượng Giác Tiên (TV)
3. Ḥa Thượng Tuệ Chân (NV); Ḥa Thượng Đạt Thanh (NV) 

Để chỉ đạo phần Đạo Pháp cho Tổng Hội, chứng minh các Đai lễ và các sách báo của Tổng Hội. 

Khoản III: Bầu một Ban Quản Trị Trung Ương gồm có: 

1. Hội chủ: Ḥa Thượng Tường Vân Thích Tịnh Khiết.
2. Phó hội chủ: Thượng Tọa Trí Hải; Đạo hữu Lê Văn Định. 

1 Tổng thư kư; 2 Phó thư kư; 1 Chưởng quỹ và 1 Kiểm lư ngân sách, 8 Ủy viên; 3 Ủy viên; 3 Ủy viên dự khuyết (tất cả đều có tên người giữ chức vụ nhưng đây lược bớt).

Khoản VI. Gia nhập Hội Phật giáo Thế giới. 

(Trích Viên Âm số 104 (08-04 Tân măo) năm thứ X, trang 3, 4, 5, 6, 7) Tây lịch là năm 1951. 

Sau khi Hội nghị bế mạc th́ có một bài hát của nhạc sĩ Lê Cao Phan, huynh trưởng trong Ban Hướng Dẫn GĐPT cấp tỉnh, đă vang lên những câu reo vui như: “Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Nam Trung từ đây... Tiến lên v́ Đạo thiêng...” v.v... nói lên được ước nguyện của Phật giáo đồ Việt Nam đă được các đại biểu ba miền thực hiện có thành quả tại dưới mái chùa Từ Đàm Huế. Từ đó Phật giáo khắp mọi miền đất nước đă sinh hoạt rất có qui cũ và chặt chẽ; và lá cờ Phật giáo Quốc Tế có 5 màu rực rỡ được treo lên ở chỗ nào có thờ Phật là có cờ Phật giáo tung bay; v́ Phật giáo Việt Nam là một thành viên của Hội Phật giáo Quốc Tế. Và cũng từ đó, Ban Quản Trị Trung Ương của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đóng trụ sở tại chùa Từ Đàm Huế. 

 

IV. VAI TR̉ BẢO VỆ ĐẠO PHÁP: 

Một lần nữa ngôi chùa Từ Đàm Huế lại giữ vai tṛ xuất sinh của một sử kiện trọng đại: Bảo vệ Đạo Pháp. Sự kiện này tuy xảy ra trong ṿng có mấy tháng; nhưng hậu quả vô cùng hệ trọng, làm đảo lộn cả chính trường miền Nam và đem lại cho toàn nhân loại trên Thế giới một nỗi ḷng kính phục vô biên đối với Phật giáo Việt Nam nói riêng, và dân tộc Việt Nam nói chung. 

Vào ngày Phật Đản năm 1963, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm từ Sài g̣n điện ra khẩn cấp buộc dân Huế hạ cờ Phật giáo; sự việc xảy ra vào chiều ngày 07-05-1963. Sáng hôm sau Phật giáo đồ Huế vân tập về làm lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm. Tối hôm đó (08-05-1963) xảy ra cuộc đàn áp đẫm máu tại đài Phát thanh Huế, v́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không cho phát đi chương tŕnh buổi lễ lúc ban sáng, mà đă nhiều năm GHPG Thừa Thiên Huế đă được quyền làm như thế. Quần chúng Phật tử đấu tranh đ̣i hỏi, chính quyền đàn áp, bắt giết. 

“Ngày 10-05-1963 các vị Lănh đạo Phật giáo họp tại Từ Đàm hoạch định đường lối và phương pháp tranh đấu bảo vệ Phật giáo và đ̣i hỏi công b́nh xă hội. Một bản Tuyên Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo đồ. Bản Tuyên Ngôn này được gởi tới Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm qua trung gian ông Đại biểu Chính Phủ Trung nguyên Trung phần”... (Nguyễn Lang, sđd. trang 346). 

Ngày 15-05-1963 tại chùa Từ Đàm, một Bản phụ đính của Tuyên Ngôn 10-05-1963 được công bố; 

Ngày 25-05-1963 cũng tại chùa Từ Đàm, một Phụ trương của Bản Phụ đính được công bố; dưới tờ phụ trương có chữ kư của “Đại diện 5 cấp Trị sự Phật giáo: Toàn Quốc, Trung Phần, Thừa Thiên”. 

Từ đó, cuộc đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp chuyển vào Sài g̣n và đặt trung tâm tại chùa Xá Lợi. Khởi đi từ chùa Từ Đàm Huế, lan đến Sài g̣n, nơi đóng Thủ đô của chế độ Ngô Đ́nh Diệm; sau đó lan ra thế giới. Lúc đầu chỉ có Phật giáo đồ làm lễ với Chư Tăng ở chùa Từ Đàm, sau lan đến quần chúng: tiểu thương, binh lính; cuối cùng chuyển đến các trường Trung học và Đại học và trở thành cuộc đấu tranh của sinh viên toàn quốc đấu tranh cho chân lư và tự do tín ngưỡng. Chế độ quanh co chối căi và cứ đàn áp, làm cho toàn xă hội miền Nam thời bấy giờ tê liệt, dẫn đến việc Liên Hiệp Quốc lập phái đoàn đến điều tra; chế độ Diệm đánh dẹp các chùa chiền vào khuya 20-08-1963 làm cho toàn dân, toàn quân phẫn nộ và quân lính nổi dậy làm binh biến vào ngày 01-11-1963, lật đổ luôn chế độ Ngô Đ́nh Diệm. 

Sau hai biến cố trọng đại nêu trên, ngôi chùa Từ Đàm đă trở thành trung tâm của mọi người con Phật; và v́ thế khi nói đến Phật giáo xứ Huế người ta thường nghĩ đến nơi đây như là một trung tâm của Phật giáo, thậm chí có người c̣n cho Huế là thủ đô của Phật giáo Việt Nam vậy. 

 

 

V. KẾT LUẬN: 

Kể từ khi Tổ Minh Hoằng Tử Dung cắm tích trượng khai sơn Ấn Tôn thiền thất đến nay đă gần 300 năm. Lúc đầu là Ấn Tôn Tự rồi sau hơn 1 thế kỷ rưỡi trở thành Từ Đàm Tự. Khí thiêng sông núi un đúc, làm cho đạo mạch Ấn Tôn - Từ Đàm lưu trường. Tùy cơ duyên khế hợp của từng thời đại, chùa Từ Đàm đă thể hiện triết lư “Tùy duyên bất biến” của đạo Phật rốt ráo. Bởi vậy, nh́n theo góc độ tùy duyên bất biến ấy, ta thấy vai tṛ của chùa Từ Đàm thật là hệ trọng đối với mạng mạch Phật giáo Thừa Thiên Huế nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Tuy thời đại và h́nh thức có khác, song chiều sâu th́ Từ Đàm vẫn là nơi phát xuất của những giai đoạn phát triển và bảo tồn Phật giáo. Vừa bảo tồn vừa phát huy Phật giáo Thừa Thiên Huế và nói rộng là cả miền Trung; chùa Từ Đàm rơ ràng đă đóng vai tṛ nơi chốn Tổ phát tích đạo mạch của vùng Hóa Châu xưa. Tuy không phải là nơi thắng cảnh vào hàng nhất nh́ của chùa Huế, song khi chùa Từ Đàm đă làm trọn vai tṛ của ḿnh hơn 300 năm, đă qua nhiều giai đoạn và dưới nhiều h́nh thức khác nhau cho hợp căn cơ của từng thời đại, th́ lẽ dĩ nhiên chùa Từ Đàm đă, đang và sẽ có một vị trí tương xứng, nếu không nói là vị trí hàng đầu trong sự nghiệp truyền bá giáo pháp của đức Phật Thích-ca Mâu ni. Cho nên, chúng tôi xin kết luận bài này bằng một kết ư ngắn gọn là nếu ai đến Huế, muốn xem phong cảnh chùa tháp của Huế th́ lên chùa Thiên Mụ, ở đó có đủ núi, sông, đồi, cây cao, chùa tháp cổ sái, bầu trời xanh có mây trắng nhẹ nhàng bay v.v... nhưng muốn hiểu v́ sao người ta gọi Huế là “Thiền Kinh” tức là Kinh Đô chùa chiền, cũng tức là nói đến phong cách Phật giáo xứ Huế, tinh thần Phật giáo xứ Huế, th́ nên về chùa Từ Đàm; nơi uyên nguyên dẫn xuất anh linh tú khí của cơi Hóa Chân xưa để giữ cho đạo mạch Phật giáo trong cơi lưu trường với thời gian vô tận vậy./.


[1] Chữ trong bia kư tại tháp Tổ Liễu Quán
[2] Thích Mật Thể, VNPGSL, bản đồ I, ở trang 219, Bản in của Minh Đức Đà Nẳng, 1960
[3] Thực sự đây là chữ do người đô hộ Trung Hoa đặt ra gọi là An Nam độ hộ phủ; c̣n quốc hiệu do các triều vua độc lập đặt ra th́ lại khác; nhưng không hiểu sao trong thông tục lại cứ gọi là An Nam!
[4] Thích Kim Sơn, Viên Âm Nguyệt san số 89-90, số Đặc san về kỷ niệm lễ Vía Xuất gia và đệ Thập bát chu niên của Hội Việt Nam Phật Học, năm thứ 9 trang 27, Huế 1950


Thích Hải Ấn

(Theo Nội san Liễu Quán 01)

 

art2all.net