Lê Khắc Thanh Hoài

ĐẠO GIẢI THOÁT

 

 

 

          Đạo Phật thường được xem là Đạo Giải Thoát. Chính đức Phật Thích Ca đă từng tuyên bố :
« Ví như này các tỳ kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, này các tỳ kheo, Pháp này cũng chỉ có một vị là vị Giải Thoát » (1)

Hăy t́m hiểu vị Giải Thoát này mang ư nghĩa như thế nào ? Giải Thoát cái ǵ, điều ǵ ? Như thế nào, làm thế nào th́ được gọi là Giải Thoát ? Có Giải Thoát tất nhiên là có cái ǵ ràng buộc ? Có cái ǵ ràng buộc tức là không có tự do ?

 

Câu trả lời thật không ǵ rơ ràng hơn qua bốn câu thi kệ sau đây :
 

Đến đích không ưu phiền
Giải thoát ngoài tất cả
Trừ diệt mọi buộc ràng
Không c̣n lửa tham ái.
(2)
 

Vậy chúng ta sẽ dựa trên bốn câu thi kệ trên để cùng hiểu rơ nghĩa Giải Thoát và đồng thời, hiểu được những ǵ là ràng buộc.
 

Trên bước đường tu, theo kinh điển Nguyên Thủy, mà bốn câu thi kệ trên được trích dẫn, đến đích là đă đạt được Thánh quả A La Hán. Không c̣n chút phiền năo. Thoát luân hồi sanh tử. Đoạn tận gốc của Tham ái, chặt đứt mọi sợi dây ràng buộc với thế gian đầy khổ đau. Nhập vào cơi Niết Bàn tịch tịnh.
 

Theo tư tưởng Đại Thừa hay Phật Giáo Phát Triển th́ đến đích là thành Phật, đạt quả vị Phật, cũng có thể là dừng lại nơi quả vị Bồ Tát, không thành Phật v́ phát Đại Nguyện trở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Cho dù là quả vị nào th́ Phật, Bồ Tát hay A La Hán các Ngài đều thực sự đă dứt trừ mọi phiền năo, đoạn tận gốc của Tham Ái, không c̣n bị ràng buộc bởi bất cứ điều ǵ, hoàn toàn tự tại, hoàn toàn vô ngại. Các Ngài đă đạt được cái gọi là Tự Do Tuyệt Đối. Muốn đạt được cái Tự Do Tuyệt Đối này, các Ngài đă phải dày công khổ luyện, tu tập để giải thoát khỏi những sợi dây trói buộc ḿnh phải trôi lăn trong luân hồi sinh tử, những sợi dây siết vào cổ của một tên nô lệ phải phục tùng chủ nhân mà không ai khác hơn là chính cái thân xác của ḿnh, cùng với cái tâm thức của ḿnh, với những khát khao thụ hưởng hầu như chẳng bao giờ thoả măn, hầu như bất tận.

Do có những ràng buộc th́ mới có chuyện giải thoát tức là vượt ra ngoài những ràng buộc đó. Những sợi dây chỉ là biểu tượng của sự bị trói, buộc, cột, thắt, kết, xiềng, xích. Những sợi dây ở đây hoàn toàn vô h́nh th́ sự trói buộc cũng thế, không hề thấy ai trói ai, ai buộc ai nhưng lại là những thứ trói buộc vô cùng chặt chẽ !

Trước khi bàn đến sự giải thoát, hăy nói đến các mối dây ràng buộc vô h́nh này.

Sắt, cây, gai trói buộc
Người trí xem chưa chắc
Tham châu báu vợ con
Trói buộc mới thật bền.
(3)

Cái sợi dây trói buộc chân tay hay thân thể con người có thể làm từ vật liệu là sắt, là cây, là dây gai, dây leo hay bất cứ loại ǵ cũng có thể bị hủy hoại, hư hao, bào ṃn, tan ră với thời gian, do thiên nhiên hay v́ một lư do nào khác, được chặt, được cắt, được ném đi, vứt bỏ và như thế là con người hết bị g̣ bó, hết bị trói buộc, được tự do, thong dong, giải thoát.
 

Sự trói buộc này do vậy mà không thể xem là chắc chắn.
 

Ngược lại, sự trói buộc mà chẳng từ một sợi dây nào, sự trói buộc vô h́nh, tay chân, thân xác chẳng bị cột, bị trói vậy mà con người không thể thong dong, không thể tự do, không thể thoải mái, dường như lúc nào cũng cảm thấy ḷng ḿnh vướng víu, bận bịu, lo nghĩ, lo âu, băn khoăn, trăn trở, mất ăn, mất ngủ ! Đó là do cái tâm thức đă bị trói buộc bởi cái ḷng tham thụ hưởng vật chất, của cải, tài sản, cũng như cái khát khao được thành công, được măn nguyện, được như ư, có sự nghiệp, có danh vọng, có tiếng tăm, có uy quyền, có chức vị, cũng như cái khát khao được thương, được yêu nên luôn hi vọng, ngong ngóng, đợi chờ, ra công, ra sức, phải mưu cầu, mưu đồ, t́m ṭi, tích lũy, gom góp, ǵn giữ, tính toán, sắp đặt, lo toan, lên kế hoạch, dự định, dự án… như thế là buộc cái thân phải chạy đông chạy tây, đôn đáo ngược xuôi, tất ba tất bật, bôn ba xứ người, chịu cực chịu khổ, chịu tai chịu nạn, thậm chí tổn cả mạng sống.
 

Cho dù không nói đến ḷng tham chất ngất, vọng ngưỡng đến những ǵ to tát, cao siêu, vĩ đại mà chỉ là những nhu cầu b́nh thường mà ai cũng cần, ai cũng đ̣i hỏi, vậy mà cũng chẳng dễ dầu thoải mái, tâm thức lúc nào cũng như bận rộn ngày đêm đôi khi dẫn đến cả sự quẫn trí !
 

Làm người th́ ai cũng cần sự ăn, sự mặc, sự ở và thuốc men để trị bệnh, săn sóc cái thân nhưng con người không dừng lại ở mức độ biết đủ, tri túc, mà để cho những sợi dây vô h́nh của cái ḷng muốn vừa đủ này trở thành túi Tham không đáy chi phối và làm chủ, kéo ḿnh đi khắp nơi, khắp chốn và từ đó, có thể tạo vô số tội nghiệp.
 

Từ Tham mà có thể không từ chối những phương tiện bất chính, thủ đoạn, vô đạo đức, vô luân lư, vô liêm sỉ, vô lương tâm. Cũng có thể đưa đến những hành động ác như giết người, hại người đủ cách, đủ kiểu, để đoạt của, đoạt chức vị hay cũng có thể là đoạt…người t́nh, người yêu. Ḷng Tham và Ái dục đẩy con người vào tù tội, địa ngục, chịu quả báo nặng nề.
 

Xin nhắc lại, gọi là Tham khi ḷng muốn vượt lên nhu cầu cần thiết. Các giác quan đem lại khoái lạc nhưng không đuổi theo, nuôi dưỡng, làm tăng trưởng nỗi khát khao thụ hưởng khoái lạc đó th́ không có Tham. Khi khởi lên sự đeo đuổi lúc đó mới có Tham. Thí dụ, ăn uống th́ cần hợp vệ sinh và bổ dưỡng để nuôi thân, không cần phải cầu kỳ nem công chả phượng, khi bắt đầu thích ăn thật ngon, từ chối những ǵ không hợp khẩu vị, t́m kiếm món lạ, món hiếm, thượng hạng, hảo hạng mới chịu th́ lúc đó có Tham và bị khoái lạc của lưỡi, của vị, của cái ăn ràng buộc. Cũng từ nơi miệng, cửa Khẩu, mà có được lời nói, và khi lời nói không c̣n là phương tiện để diễn đạt ư tưởng, để hỗ trợ cho cái thấy, cái nghe, cái biết mà thích thú trong lời nói chỉ trích, phê b́nh, soi mói, đâm thọc, nói để lừa dối, chia rẽ, gây oán thù, không c̣n là lời ḥa ái, Ái ngữ, th́ lúc đó đă có sự ràng buộc nơi cửa miệng, nơi lời nói. Khi không c̣n xem áo quần chỉ để che thân, mà chỉ muốn mặc thật đẹp, hàng thật tốt, hàng thượng hạng, hàng hiệu đắt tiền, là lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ nơi thân, liên quan đến sự mặc, cũng thế, khi không c̣n thấy nhà cửa, chỗ ở chỉ là một phương tiện để che nắng trú mưa, mà chỉ mơ tưởng nhà lầu sang trọng, tiện nghi phức tạp, tối tân th́ lúc đó đă có Tham và có sự ràng buộc đến từ nơi thân, liên quan đến sự ở. Khi tai không c̣n là một phương tiện để nghe, để hiểu, hỗ trợ cho cái thấy, cái biết mà chỉ muốn nghe những âm thanh thật hay, êm ái diệu vợi như ca, nhạc, lăng phí thời giờ quí báu để t́m ṭi, chế tạo các nhạc cụ, khí cụ hay máy móc phát những âm thanh kích thích và đem khoái lạc cho nhĩ căn th́ lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ âm thanh. Khi mắt không chỉ là một giác quan giúp cho nhận ra mọi sự, mọi việc, thấy được không gian và vị trí của ḿnh, của chung quanh mà chạy theo những h́nh ảnh tuyệt đẹp, tướng mạo xinh xắn, oai nghi hay tư thái lịch lăm, cho dù là giai nhân, mỹ nữ, mỹ nam hay chỉ là đồ vật, động vật, thiên nhiên, hoa đồng cỏ nội, núi rừng hùng vĩ, con mắt luôn thích thú được ngắm, được nh́n, được thấy chỉ v́ có khoái lạc trong cái nh́n, cái thấy th́ lúc đó có Tham và có sự ràng buộc đến từ sắc tướng, h́nh tướng. Lúc mũi không chỉ cần thiết để thở và duy tŕ sự sống mà đắm vào khoái lạc từ các mùi hương, t́m cách chế biến, sáng tạo đủ loại hương thơm để che dấu cái mùi hôi thối, sinh « ghiền » và mê mẫn với hương thơm, có thể nhịn ăn, tiết kiệm để mua sắm nước hoa, dầu thơm đắt tiền, phải có nó để xức lên ḿnh mẩy mới bằng ḷng th́ lúc đó đă có Tham và có sự ràng buộc đến từ mùi hương. Khi khoái lạc của dục t́nh làm đắm đuối, phải thỏa măn cho được bằng mọi cách, mọi phương tiện, có thể là bất chính, tà dâm, cưỡng bách, hăm hiếp hoặc thèm muốn chồng, vợ của người th́ lúc đó có Tham và có ràng buộc đến từ nơi da thịt, thân xác và sự xúc chạm.
 

Đó là nói sự ràng buộc đến từ năm giác quan, sắc, thanh, hương, vị xúc. Nếu chịu khó quan sát thật kỹ, chúng ta sẽ thấy năm giác quan này liên hệ thật chặt chẽ với nhau. Chỉ cần một giác quan được khoái lạc th́ tất cả các giác quan khác cũng khoái lạc theo. Khá vi tế, khó nhận ra nhưng cũng có thể nhận ra được. Khi tai quá say mê thưởng thức một bản nhạc hay, t́nh tứ, diệu vợi hoặc mắt chiêm ngưỡng một bức tranh đẹp, có h́nh ảnh quyến rũ hay đọc một đoạn văn tả cảnh hấp dẫn cũng khơi dậy ḷng khát khao t́nh dục nơi thân. Khi ăn một món ngon, chúng ta muốn món ăn đó phải được tŕnh bày đẹp mắt, hấp dẫn và tỏa mùi hương nồng nàn, thơm tho nếu không th́ món ăn đó không thể hoàn toàn ngon được.
 

Con người c̣n ham hưởng thụ khoái lạc nơi tinh thần, nơi trí óc, sự suy nghĩ, tư duy, sự học hỏi, trau dồi kiến thức, sự hiểu biết, kéo theo sự thích thú được ca tụng, khen ngợi, tâng bốc, chạm đến danh dự, danh tiếng, sự nhận ra giá trị của ḿnh và sự chấp nhận của người khác. Đây cũng là những sợi dây vô h́nh trói buộc con người vào những ǵ được gọi là Pháp, đối tượng của giác quan thứ sáu là Thức.
 

Khoái lạc nơi tinh thần c̣n là niềm vui sướng, hạnh phúc v́ được yêu, được thương, được kính, được nể, được che chở, được bảo vệ, được chăm sóc, được lo lắng, được quan tâm, được phục vụ, được thăm hỏi, được nhắc nhở, không bị bỏ quên, không bị lờ đi, không bị d́m đi…
 

Lại cũng là những sợi dây vô h́nh ràng buộc con người v́ khi thiếu những điều đó, được thương, đưọc kính, được nể…th́ con người rất đau khổ và bi quan, chán đời. Sự ràng buộc này được xem là thuộc loại t́nh cảm, thuộc về Ái. ( Mời đọc Ái. LKTH )
 

Tất cả những mối dây ràng buộc nơi thân hay nơi tâm đều có thể gây sân hận, phẫn nộ, oán thù, trách móc một khi không thỏa măn được ḷng khát khao, như mong muốn, như kỳ vọng, như đợi chờ. Đó chính là Tham đă kéo theo Sân và Si.

Khoái lạc nơi tinh thần không phải là sự giải trí làm cho đầu óc thoải mái, thư giản, hết căng thẳng mà là sự tự măn, hài ḷng với chính ḿnh do đă nổ lực, đă cố gắng, đă ra sức, đă thành công, đă hoàn tất nhiệm vụ, phận sự hay trách nhiệm. Sự tự măn này, kẻ làm ác, hay người hướng thượng, hướng thiện, cả hai đều có thể đạt được như nhau. Nếu không có sự hài ḷng, tự măn đó th́ kẻ làm ác chẳng bao giờ làm ác. Phải có cái ǵ thú vị nơi việc làm ác mới thúc đẩy làm ác, cho dù là sai trái. Hành hạ kẻ khác, tra tấn, làm cho kẻ khác đau đớn thân xác hay tinh thần, cũng đem lại « khoái lạc » cho kẻ ra tay. Cũng vậy, có kẻ tự hành hạ thân xác ḿnh hay trầm ḿnh trong khổ đau.
 

Để chăn gối nằm im chỗ cũ
Hăy lịm người trong thú đau thương !
(4)
 

Cảm giác, cảm xúc hay cảm thọ chính là là những sợi dây vô h́nh trói buộc con người vậy.
 

Chúng ta đă nhận ra sợi dây ràng buộc do mang cái thân hữu sanh hữu tử này. Cái tấm thân cấu tạo từ Ngũ Uẩn hay Ngũ Ấm, năm thứ ngăn che, làm chướng ngại mà con người lại không nhận thấy, chỉ thấy phần khoái lạc do nó đem lại. Năm thứ cấu tạo thành con người (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng như sáu Trần, đối tượng của các giác quan (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đức Phật thấy nó là Khổ, là Ách, là Nạn nhưng phàm phu chúng ta th́ thấy ngược lại, cho là sướng, là vui, là đẹp, là hay, là thú vị, thích thú nuôi dưỡng, nuông chiều nó. Con người như một con thú bị mắc bẫy đó thôi !
 

Cái thân Ngũ uẩn này bị ràng buộc bởi những nhu cầu vật chất cần được thỏa măn. Chắc chắn là có những nhu cầu thiết yếu để duy tŕ mạng sống nhưng v́ con người đă vượt giới hạn của sự cần và đủ, từ đó nảy sinh vô lượng phiền toái, phiền năo và tội nghiệp.
 

Nhưng nếu chúng ta « ngược đăi » cái thân xác, không chăm sóc nó đúng mức, hoặc ép ḿnh, khổ hạnh th́ cũng không đúng. Đức Phật dạy đó là con đường cực đoan, nên tránh. Chính đức Phật, sau sáu năm khổ hạnh, đă thọ nhận bát sữa của nàng Sujata để thân thể khoẻ mạnh trở lại, nhờ đó tiếp tục tu tập mới có kết quả, đưa đến Giác Ngộ.

V́ cái thân có hai phần, vừa vật chất vừa tâm lư nên sự ràng buộc đều có từ hai phía.
 

Những ràng buộc vừa vật chất vừa tinh thần th́ quả là khó gỡ. V́ căn bản đă có sự ngộ nhận nơi việc mưu cầu hạnh phúc, con người nghĩ rằng tiền của, tài sản, tiện nghi vật chất hay danh vọng, thành công ở đời đem lại hạnh phúc nên dốc hết tâm tư vào chuyện mưu sinh, t́m kiếm, đeo đuổi theo để cung phụng tối đa cho đời sống của chính ḿnh, của vợ con, chồng con, hay quyến thuộc, gần, xa…nhưng rốt cuộc không thể có hạnh phúc trọn vẹn, chỉ là một thứ hạnh phúc nhất thời, tạm bợ, mong manh, dễ mất, dễ vỡ, dễ vuột ra khỏi tầm tay. V́ sao ? V́ hạnh phúc thực sự phải đến từ bên trong, nơi Tâm, nơi phần tinh thần mới thật là bền lâu và chân thật. (Mời đọc Hạnh Phúc và Đau Khổ. LKTH )
Con người tự ràng buộc ḿnh với những ǵ đến từ bên ngoài, bên ngoài bao gồm của cải vật chất, và tinh thần như sự nghiệp, tiếng tăm, kể cả những người chung quanh, quyến thuộc xa gần, kể cả bạn bè, thân, không thân, kể cả người ḿnh ghét, ḿnh thù ! Không có sợi dây nào trói ḿnh, chính ḿnh tự trói ḿnh vào những liên hệ phức tạp, luôn nảy sinh vấn đề, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, gia đ́nh có thể trở thành một nhà tù giam hăm ḿnh trong đó với trách nhiệm, với bổn phận, với muôn vàn lư do, có thể do ḿnh tự tạo cũng như do hoàn cảnh, t́nh thế đẩy đưa, để ḿnh ch́m lỉm trong đó với lo âu, phiền toái mà đôi khi chỉ chấm dứt khi cái thân xác ră rời bịnh hoạn và nằm xuống cùng tro bụi.
 

Tâm c̣n bị đắm say
Con cái và súc vật
Bị tử thần bắt đi
Như nước trôi làng ngủ
. (5)

Câu thi kệ trên đây cho thấy không những con người ràng buộc ḿnh nơi gia đ́nh, con cái mà nơi cả súc vật ! Điều này không hề sai cho đến cả thời hiện đại của chúng ta, con người càng ngày càng khắng khít, gần gũi, thương yêu súc vật, đó là nói đến những con vật có thể chung sống, làm bạn với người, không nói đến các súc vật mà con người đă « lợi dụng, lạm dụng », ỷ vào sức mạnh, giết sinh mạng chúng, lấy thịt cung cấp, làm thức ăn nuôi dưỡng sinh mạng ḿnh.
 

Cho dù quyến luyến người hay súc vật, chung qui rồi cũng phải đi đến sự chia ĺa.
 

Và thực tế lắm khi phũ phàng :
 

Một khi tử thần đến
Không có con che chở
Không cha, không bà con
Không thân thích che chở.
(6)
 

Đạo Phật thường bị phê b́nh là bi quan, yếm thế. Song đúng hơn, nên nghĩ rằng đạo Phật vô cùng thực tế ! Phàm phu chúng ta phải đủ can đảm để nh́n nhận sự thật của thân phận con người, của trần gian này là Khổ nhưng không quên bên cạnh đó có con đường Diệt Khổ mà đức Phật đă chỉ ra, đó là niềm lạc quan vô cùng lớn lao, không thể xem thường hay quên lăng và không nhắc tới.
 

Và đây chính là mục đích của đạo Phật :
 

Giác khổ, diệt trừ khổ
Bỏ gánh nặng, giải thoát
(7)
 

Trên chúng ta đă nói đến sự ràng buộc, những sợi dây vô h́nh trói chặt con người trong đời sống, vật chất có, tinh thần có. Tất cả đều được tóm lại trong một chữ KHỔ. Là chân lư thứ nhất mà đức Phật Thích Ca đă truyền dạy sau khi giác ngộ.
 

Giác khổ, tức là đă thấy, đă nhận ra, đă biết thế nào là khổ. Chính cái thân ngũ uẩn với những ràng buộc chung quanh nó gây khổ. Và con đường diệt khổ đích thực là trút bỏ mọi gánh nặng của sự ràng buộc đó, không phải là tự tử, giết đi, vứt bỏ cái thân này mà cởi trói để được thong dong tự tại nơi Tâm, chính là giải thoát. Điểm này cần chú ư, giải thoát không chỉ là cắt đứt các mối duyên nợ, duyên t́nh gây khổ năo mà chính cái Tâm phải đạt được sự tự tại, thanh thản, an lạc. Người xuất gia là người hướng đến con đường giải thoát đó, khởi đầu bằng sự thoát ly ra khỏi những ràng buộc của ái t́nh, của người thân. « Đoạn ái, từ thân » là cần thiết nhưng chính yếu là sự thoát ly nơi tâm, không c̣n tham đắm, nhiễm trước hay chấp trước mới thực sự đạt giải thoát.

Con người cứ ngỡ rằng ḿnh có tự do, thật ra con người không hề có tự do nên phải luôn tranh đấu để đạt tự do. Tự do ngôn luận, tự do nhân quyền, tự do tín ngưỡng…Bất cứ ở đâu, con người đều bị ràng buộc bởi các luật lệ, thể chế của nơi ḿnh ở, nơi ḿnh đi, nơi ḿnh đến. Không hề thực sự có tự do với môi trường chung quanh, ngay cả với môi trường thiên nhiên, con người lệ thuộc mặt trời mặt trăng, đêm và ngày, mưa và nắng, con người không thể làm ǵ trước mưa gió trái mùa, thiên tai băo lụt. Con người lại càng không có tự do nơi chính tự thân. Những đ̣i hỏi của thân và tâm luôn bức bách để buộc cái thân và tâm hành động để đạt đến sự thỏa măn, hài ḷng. Ràng buộc là đây. Không tự do là đây.
 

Bị trói buộc nhân gian
Khỏi trói buộc thiên giới
Giải thoát mọi buộc ràng.
(8)
 

Sự giải thoát không chỉ nơi cái thân người ở cơi trần gian này mà c̣n là sự giải thoát luôn cả thiên giới. V́ theo đức Phật dạy th́ dù có được phước đức để sanh lên cơi Trời, vẫn c̣n nằm trong ṿng luân hồi, chưa thực sự giải thoát. Phàm phu chúng ta không chứng được Lậu Tận Trí nên không biết ǵ ngoài đời sống trên quả đất này, nhưng đức Phật đă giác ngộ và đạt được cái thấy biết vượt ngoài thế gian, phàm trần, ngài chỉ dạy cho chúng ta biết có 3 cơi, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới và con người trôi lăn trong luân hồi, chịu sinh tử, tử sinh liên tục, liên miên từ đời này sang đời khác, loanh quanh trong ba cơi, sáu loài, không thể nào chấm dứt nếu không nhận ra thực chất của cuộc sống ḿnh đang sống, t́m về nguyên nhân phát sinh cuộc sống đó để dứt khoát t́m đến con đường giải thoát th́ con người sẽ măi măi trầm luân, không có chỗ dừng, chỗ tận.

Tu tập các thiện pháp để được sinh lên cơi trời, sung sướng hơn cơi người nơi trần thế hay tu tập các pháp thiền định thâm sâu để sinh vào cơi Sắc hay Vô sắc cũng chưa được gọi là giải thoát.
 

Giải thoát thực sự phải có trí tuệ, là sự nhận biết, thấy biết chân chính, tức là có Chánh Kiến về Khổ, về Vô Ngă, về Vô thường, về tánh Không của vạn vật, vạn pháp mà không c̣n khởi chấp trước nơi Danh và Sắc, không chấp trước vào các Pháp, không chấp trước vào Ngă, vào cái Tôi thường hằng, bất biến, độc lập mà chung qui cũng từ cái Tôi này, phát khởi Ái dục, tham dục và gây vô số tội nghiệp. Không vướng vào một chữ CHẤP nào cả th́ mới thực sự giải thoát. Đó gọi là trí Bát Nhă.
 

Không bờ này bờ kia
Cả hai bờ không có
Ĺa khổ, không trói buộc.
(10)
 

Nói bờ này bờ kia là có sự phân biệt, đối đăi, là có chấp trước, c̣n bị trói buộc, chưa giải thoát.
 

Nơi bản Bát Nhă Tâm Kinh, chúng ta đọc được đoạn sau đây « Chư Phật ba đời nương trí tuệ Bát Nhă Ba La Mật Đa đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề » có nghĩa là các ngài nhờ nương vào cái trí không chấp trước, không dính mắc vào một phạm trù, khái niệm, lối suy tư nhị nguyên nào nữa cả mà đạt được Tánh Giác chân thật, thanh tịnh của Niết Bàn và của chư Phật. Đây mới chính là sự Giải thoát rốt ráo.
 

Và trong Kinh Kim Cang, chúng ta lại đọc thấy lời dạy :
 

Ưng vô sở trụ
Nhi sanh kỳ tâm.

( Không khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào cả ).
 

Khi không c̣n dính mắc vào cái tâm chấp trước th́ mọi ràng buộc cũng tự nó tháo gỡ.
Để kết luận cho bài viết về sự ràng buộc và giải thoát con người, xin cùng đọc bài kệ :
 

Các lậu hoặc dứt sạch (11)
Ăn uống không tham lam
Tự tại trong cảnh giới
Không, Vô tướng, Giải thoát
Như chim bay hư không
Dấu chân thật khó t́m.
(12)
 

Có lẽ chuyện ăn uống được bàn ở đây là bốn thứ thức ăn nuôi dưỡng thân và tâm con người mà đức Phật đă dạy nơi bài kinh “ Bốn loại thức ăn” chứ không hạn hẹp nơi sự ăn uống thô thiển của Đoàn thực. ( Mời đọc Ái. LKTH )
 

Giải thoát chính là đạt tự do tuyệt đối, sự tự do này đạt được nơi Tâm, từ Tâm, do Tâm. Cho dù Tâm vẫn c̣n nương nhờ cái thân xác vật chất làm phương tiện để từ đó tiến đến giải thoát nhưng Tâm không có giới hạn, bao la như hư không và có khả năng tuyệt vời, không thể nào nghĩ bàn, không thể nào diễn đạt bằng lời lẽ, ngôn từ, cũng chẳng thể nào thấy bằng mắt hay nghe bằng tai. Cũng chẳng thể dùng tay mà chỉ, trỏ thẳng vào Tâm, vào Chân Tâm, không phải Vọng Tâm, cái tâm phân biệt, bỉ thử, gây phiền năo và tham sân si, mà là “ Bản Lai Diện Mục”(13) như dấu chân chim bay trong hư không thật khó t́m, không thấy ǵ nhưng không phải là không có ǵ. Giải thoát là vỗ cánh bay như chim vào hư không. Không mà có. Có mà không. Sắc tức thị Không. Không tức thị sắc vậy. (14)
 

Nhận ra tánh Không của vạn pháp nhưng không chấp Đoạn diệt. Thấy các sắc tướng, h́nh tướng đều do duyên sinh, có đó diệt đó nên không vọng chấp, giữ được tâm ư thanh tịnh chính là giải thoát.
 

Con người muốn giải thoát th́ phải mượn cái thân xác này nên phải trân quí nó nhưng cần phải tu luyện cả Thân cả Tâm để được nhẹ nhàng, cởi bỏ mọi buộc ràng mới có thể như chim tung cánh lên bầu trời bao la của Pháp Giới được. (15)

LêKhắcThanhHoài
Paris, Tháng7, 2015
 


Chú Thích :
1. Kinh Udana. Kinh Phật Tự Thuyết. HT Thích Minh Châu dịch
2. Kinh Pháp Cú. Phẩm A La Hán. HT Thích Minh Châu dịch
3. Kinh Pháp Cú. Phẩm Tham Ái. HT Thích Minh Châu dịch
4. Thú đau thương. Lưu Trọng Lư
5. Kinh Pháp Cú. Phẩm Đạo. HT Thích Minh Châu dịch
6. Kinh Pháp Cú. Phẩm Đạo. HT Thích Minh Châu dịch
7. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
8. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
9. Kinh Pháp Cú. Phẩm Tỷ kheo. HT Thích Minh Châu dịch
10. Kinh Pháp Cú. Phẩm Bà La Môn. HT Thích Minh Châu dịch
11. Lậu hoặc : phiền năo
12. Kinh Pháp Cú. Phẩm A La Hán. HT Thích Minh Châu dịch
13. Bản Lai Diện Mục : Bộ mặt vốn có từ xưa nay. Đồng nghĩa với Phật Tánh, Chân Như, Tuệ Giác, Tự Tánh.
14. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh
15. Pháp Giới : Pháp chính là Phật Tánh, Chân Như, Thể Tánh, Chân Tâm, Chân Không, là chân lư tuyệt đối. Giới là cảnh giới của sự vận hành của trí tuệ để ngộ nhập vào chân lư. (Đại cương Kinh Hoa Nghiêm. Tỳ Kheo Thích Hằng Trường. NXB Hoa Nghiêm)

 

chantran

art2all.net