Lê Khắc Thanh Hoài

THANH TỊNH TÂM Ư

 

 

 

Chớ làm các việc ác
Hăy làm các hạnh lành
Giữ tâm ư trong sạch
Ấy chính lời Phật dạy. (1)


          Bốn câu thi kệ trên đă quá quen thuộc với ai là phật tử. Bài viết này chủ đích là triển khai riêng lẻ câu thi kệ thứ ba « Giữ tâm ư trong sạch » Nơi bản dịch của Ḥa Thượng Thích Minh Châu th́ ngài dùng chữ Tâm Ư cho dù bản gốc Pali chỉ là « Giữ Tâm trong sạch ».

Thiết nghĩ rằng, thanh tịnh tâm ư hay làm trong sạch tâm ư là một điều hết sức căn bản trong việc tu tập cho nên bài viết này sẽ tách rời, chủ yếu chỉ bàn đến việc thanh tịnh tâm ư mà không lệ thuộc vào hai câu thi kệ đầu của bốn câu thi kệ đă được dẫn nhập ở đầu bài. Cho dù chắc chắn rằng, khi nói đến việc thanh tịnh tâm ư là có liên quan đến việc đoạn ác làm lành.


Lần lượt chúng ta sẽ t́m hiểu và phân tích Tâm là ǵ ? Tâm và Tâm ư là một hay là hai điều khác nhau ? Như thế nào gọi là Tâm trong sạch ? Làm thế nào để được Tâm trong sạch ?

Trước tiên Tâm là ǵ ? Chữ Tâm t́m thấy trong kinh Phật th́ vô số kể. V́ Tâm là cốt lơi của đạo Phật. Tức Tâm Tức Phật. Việc tu hành cũng thường được nhấn mạnh là Tu Tâm. Đạt đạo quả cũng là đạt Tâm Phật hay Phật Tâm. Trở về với Bản Lai Diện Mục cũng là trở về với Chân Tâm. Như vậy th́ chữ Tâm quan trọng biết dường nào và cần phải được hiểu cho thấu đáo. Hay ít ra, cũng là một sự cố gắng t́m hiểu thật sát nghĩa, thật đứng đắn cái chủ đề quá ư quan trọng này.

Dịch từ tiếng Pali là Citta th́ Tâm được hiểu là sự biết cảnh. Thông qua các giác quan, nhờ các giác quan làm phương tiện, mà có sự thấy, nhận ra, nhận biết các đối tượng. Sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư thấy được, nhận ra được, nhận biết được các đối tượng tức là Trần cảnh, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.


Mắt nhận ra h́nh tướng, tai nhận ra âm thanh, mũi nhận ra mùi hương, lưỡi nhận ra mùi vị, thân nhận ra sự xúc chạm và ư nhận ra với sự biết phân biệt, biết phê phán, biết đánh giá người này, người kia, vật này vật kia, việc này, việc kia, tư tưởng này, tư tưởng kia, sự suy nghĩ này, sự suy nghĩ kia…


Khởi đầu nơi sự nhận biết từ năm giác quan mắt, tai, mũi , lưỡi và thân th́ sự nhận biết xem ra giản dị, mắt thấy h́nh ảnh, sắc tướng là chỉ có h́nh ảnh, sắc tướng được thấy, tai nghe âm thanh là chỉ có âm thanh được nghe thấy, mũi ngữi mùi hương là chỉ có mùi hương được ngữi thấy, lưỡi nềm mùi vị th́ chỉ có mùi vị được nếm biết, thân có cảm giác đến từ nơi da thịt, nơi sự đụng chạm th́ chỉ có sự đụng chạm đó được nhận biết nhưng khi đến ư căn th́ sự nhận biết được « thêm mắm thêm muối, thêm màu thêm mè, vẽ rồng vẽ rắn » để tất cả sự nhận biết đều nhuốm một h́nh thái, sắc thái khác, hoặc là đẹp là xấu, là hay là dở, là ngon không ngon, là tốt không tốt, là thiện hay ác, cũng có thể là chẳng thiện, chẳng ác…


Tất cả sự nhận biết này, giản dị lúc ban đầu và thêm hoa vẽ rắn từ nơi Ư, được tóm gọn vào một chữ là Tâm. Và Tâm cũng là Thức, sự nhận biết cảnh, đối tượng của các giác quan.


Cái Tâm nhận biết cảnh giản dị ban đầu trở nên sinh động, chuyển động, gần như liên tục, không ngừng nghỉ nên c̣n được gọi là ḍng Tâm Thức. Nơi cái thân xác vật lư mà không có cái ḍng Tâm Thức này luân lưu trong mạch máu, cuồn cuộn trong buồng tim, trong năo bộ, làm rung lên các giây thần kinh, làm linh hoạt các cử chỉ, lời nói, tướng mạo th́ xem như là một cái thân xác chết, không sự sống, không hoạt động. Nhưng cái thân xác có thể chết thực sự, mất sự sống, hết thở, nằm khô cứng th́ cái Tâm, tuy không chết nhưng không c̣n chỗ nào để nương vào mà « trỗ tài, dụng vơ » nữa ! Đành phải tách rời với cái xác chết, dù muốn dù không. Tâm tách rời cái thân rồi th́ Tâm sẽ ở đâu ? Chúng ta sẽ tiếp tục t́m hiểu.

Như vậy là Tâm, cái sự thấy biết, nhận ra, có nơi con mắt, gọi đó là Tâm nhăn thức, có nơi lỗ tai, gọi đó là Tâm nhĩ thức, có nơi lỗ mũi, gọi đó là Tâm tỵ thứ, có nơi cái lưỡi, gọi đó là Tâm thiệt thức, có nơi cái thân, gọi đó là Tâm thân thức, có nơi ư, gọi đó là Tâm ư thức.

Rất b́nh thường, con người nào cũng nhận ra cái Tâm thức như vừa mô tả đó. V́ Tâm thức được biểu hiện nhờ các hoạt động của các giác quan. Khi mắt nh́n th́ có thấy h́nh ảnh. Khi tai lắng nghe th́ nhận được những làn sóng âm thanh. Khi mũi tiếp xúc với khí hay mùi hương th́ hít hà hơi gió, mùi hương…v.v…Giản dị như thế, nhưng khi cái Tâm Ư Thức chen vào th́ các h́nh ảnh mang một sự đánh giá, phê phán, lựa chọn, thu vào, đẩy ra. Thí dụ : mắt vừa nhận thấy bóng dáng một người nào đó th́ lập tức ư thức « báo động » cho biết là ai, người quen hay lạ, trẻ hay già, đẹp hay xấu, thích hay không thích tiếp xúc, và ư thức có thể « ra lệnh » tiến tới, bắt tay, gặp gỡ hay thụt lùi, bỏ xa, quay lưng, không tiếp xúc.


Qua 6 giác quan, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư th́ Tâm tác động như thế. Đến đây th́ không có ǵ khó hiểu, có lẽ ai cũng nhận ra.

Thử đặt câu hỏi : có 6 giác quan th́ có 6 cái Tâm chăng ? V́ chúng ta có phân biệt bên trên là có Tâm nhăn thức, Tâm nhĩ thức…v.v…nên rất dễ hiểu lầm là có 6 cái Tâm.


Xin đừng lầm lẫn ở đây, cái Tâm, hay Thức, gọi đó là cái tánh thấy, tánh nhận biết, nhận ra cái ǵ, điều ǵ, việc ǵ đó, th́ chỉ có Một Tánh Thấy nhưng dùng phương tiện từ nơi 6 giác quan mà biểu hiện. Khi con mắt hoạt động, nh́n, thấy, th́ nói cái Tánh Thấy hay cái Tâm có nơi con mắt, tuần tự như thế với các giác quan khác khi nó hoạt động, nhưng không phải nói rằng nơi từng giác quan mà Tâm được biểu hiện th́ có một cái Tâm riêng biệt ở đó.


Có cái điều hơi khó hiểu v́ Tâm dường như là có nhiều tâm chứ không phải Một nhưng không thể nói chỉ có Một và cũng không thể nói Nhiều được. Tâm vừa là Một vừa là Tất Cả !


Theo Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy Tâm hay Tánh Thấy, cũng như Tánh Nghe, không thể t́m thấy trong thân thể vật lư, cái thân xác mà con người đang mang, một cái « bao bọc da » mà bên trong có ruột, gan, phổi, tim, năo…Cũng không thể t́m thấy ở ngoài thân xác này, nghĩa là ở đâu đó, trong nhà ḿnh, ngoài đường, trên không trung, dưới đất, dưới biển. Cũng không ở trong con mắt, không ở chính giữa (v́ không ở trong mà cũng chẳng ở ngoài thân). Cũng chẳng là « không ở chỗ nào cả » hoặc là ở nơi cái chỗ « không dính mắc ». V́ sao ? V́ Tánh Thấy hay Tâm phải dựa vào con mắt và h́nh tướng mới có cái thấy được. Như vậy là Tâm nương vào chỗ có h́nh tướng mà biểu hiện, nếu Tâm ở chổ « không dính mắc » nghĩa là Tâm không thể nương vào h́nh tướng để biểu hiện, không thể nương vào th́ chẳng thể có cách ǵ để nhận ra Tâm, không thể có phương tiện qua đó cho Tâm hoạt động.


Nhờ cái thân xác này, với các giác quan, qua các đối tượng, các hiện tượng mà Tâm nương vào đó, tác động. Nương vào chỗ nào th́ có Tâm ở chỗ đó. Tâm của Một tách rời ra Tất Cả, riêng biệt, thành nhiều như tâm ở mắt, ở tai…tâm vui, tâm buồn, tâm ghét… Tâm thành nhiều, thành Tất Cả nhưng chẳng hề xa ĺa Một. Tuy là Một mà cũng là Tất Cả !


Con người b́nh thường, từ nơi cái thấy, cái nghe, cái ngửi mùi hương, cái nếm mùi vị, cái biết nơi sự xúc chạm và nơi ư thức suy nghĩ, phân biệt, phán xét, quyết định, lựa chọn…v.v….th́ cho rằng có một cái Tôi đang thấy, đang nghe, đang ngửi, đang nếm, đang có cảm giác, đang suy nghĩ, phê phán…Con người chấp chặt vào cái Tôi này và cái Tôi này chính là cái thân xác vật lư cộng thêm với cái phần tâm lư thường được gọi là phần tinh thần. Không ai mà không thấy, không ai mà không nhận ra, không ai mà không chấp cái thân xác này là Tôi, không ai mà không nghĩ rằng ẩn trong cái Tôi này phải có một «cái ǵ» đó trường tồn, vĩnh cữu hơn cái thân xác. Và cái phần tinh thần này, tùy theo tôn giáo, được gọi là linh hồn hay Tâm, theo Phật giáo. Từ đó Tôi có tên, có tuổi, có một cuộc sống, một cuộc đời. Và sự vận hành của bánh xe sinh tử luân hồi cũng bắt đầu từ đây, từ nơi cái thân xác ḥa hợp với cái Tâm nhận biết, suy tư, điều khiển cái thân hành động tức là tạo nghiệp và điều tất yếu kéo theo là chịu nghiệp quả.


Theo Duy Thức Học th́ cái Tâm chấp vào một cái Tôi, cái Ngă chính là thức thứ 7, gọi là Mạt Na thức và nơi giữ lại, chứa tất cả những hoạt động của Tâm là thức thứ 8, tên gọi là Tàng thức hay A Lại Gia thức. Những ǵ chất chứa trong Tàng thức được gọi là Chủng tử. Khi cái thân vật lư tan ră, chết, biến mất, th́ Tâm thu hồi về nơi Tạng thức và rồi khi hội đủ nhân duyên, sẽ trở lại hoạt động với một cái thân khác, với các chủng tử đă cất giữ. Cứ tiếp tục như thế mà có cái gọi là tái sinh, luân hồi sinh tử. Và cái ṿng này th́ bất tận nếu không có ư chí giải thoát.


Cũng theo Duy Thức học th́ chính cái thức thứ bảy hay Mạt na thức là cái gốc căn bản cho ư thức dựa vào đó mà phân biệt, phê phán, quyết định và chấp Ngă. Thức này vô cùng quan trọng v́ là đầu mối của mọi vấn đề. Trong bài này, tuy không phân tích riêng lẻ, chi li về Mạt na thức, Tàng thức nhưng cũng nên hiểu khi nói đến Ư Thức là đă có cả Mạt na thức và Tàng thức âm thầm hoạt động trong đó rồi.

Chúng ta đă nhận ra Tâm là ǵ và chúng ta tiếp tục t́m hiểu thêm về Ư hay Tâm ư. Ư căn là giác quan thứ sáu mà nhờ đó có Ư thức, sự nhận biết về các Pháp, tức là về tất cả những ǵ trừu tượng như ư tưởng, tư tưởng, tư duy, khái niệm…và có luôn cả sự phê phán, định đoạt, thương hay ghét, lấy hay bỏ, đem về hay xua đuổi…v.v…


Có thể nói Ư hay Ư thức và cũng là Tâm ư, là ông chủ của năm giác quan c̣n lại. Từ nơi Ư sẽ có « lệnh » đưa ra cho con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân t́m kiếm và nh́n, ngắm, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, sờ mó cái ǵ thích, cái ǵ gây thú vị, gây khoái lạc, đem lại sự thoả măn, hài ḷng và ngược lại cũng ra lệnh xa rời, ĺa bỏ nhưng ǵ không thích, không đem lại thú vị, khoái lạc, không làm thỏa măn, hài ḷng.


Có câu nói « Đối cảnh sinh t́nh » là vậy. Trước một h́nh ảnh, h́nh tướng, cảnh vật, cảnh tượng nào đó, nơi con người luôn nảy sinh ra t́nh cảm, gán vào những ǵ mà con mắt được thấy, tai được nghe, mũi được ngữi, lưỡi được nếm, thân được cảm giác. Nhờ Ư điều động, « nói vô nói ra » có khi thêm bớt, có khi thêu dệt để cho Ái xen vào, từ đó có 7 thứ t́nh cảm (Thất t́nh) là hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục. ( mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét và muốn ).


Từ Ư đến hành động th́ chỉ có một bước rất ngắn. Ư chạy qua miệng để dùng lời nói theo chiều mà cái Tôi muốn. Thương th́ nói lời ḥa ái, ghét th́ nói lời gian dối, đâm thọc, chia rẽ…Ư chạy qua thân th́ sai khiến tay, chân hành động, thương th́ âu yếm vuốt ve, ghét th́ đánh đập, ẩu đả…


Đức Phật từng dạy :


Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm
Khổ năo sẽ theo ta
Như xe theo vật kéo. (2)

Tâm dẫn đầu mọi pháp
Tâm chủ tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo ta
Như bóng không rời h́nh. (3)


Ở đây, chúng ta nên hiểu Tâm là Tâm Ư. Theo Duy Thức học, Ư thường được xem là « Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu ». Như phần trên đă phân tích Ư quan trọng và làm chủ các căn khác như thế nào. Như vậy khi nói « Tâm chủ, tâm tạo tác » th́ sẽ hiểu ngay không ǵ khác là Tâm Ư. Cái Thức nhận biết hay Tâm ban đầu nơi các giác quan không thể nào vô tư giản dị mà luôn luôn có Ư phân biệt chen vào. Từ đó suy ra, Tâm hay Thức ô nhiễm, không thanh tịnh cũng là khi Ư ô nhiễm, không thanh tịnh.


Đức Phật lại dạy thêm :


Khó nắm giữ, giao động
Tâm phàm, dục chi phối (4)


Do bị dục hay ái dục chi phối nên Tâm không thể trong sạch và sáng suốt trong hành động. Đó là Tâm của phàm phu chúng ta. Ngoài ra, bản chất của Tâm c̣n là vô thường, biến đổi luôn, không thể b́nh thản, đứng yên một chỗ, luôn giao động nên khó nắm giữ mà cũng khó lường. Nay yêu mai ghét. Nay buồn mai vui. Nay bằng ḷng mai bực tức. Nay thích thú mai chán chê. Nay săn đón mai hững hờ. Nay tôn thờ mai đả phá. Nay ca tụng mai bài bác…


Ngoài ra, Tâm rất dễ bị Tám Ngọn Gió (Bát Phong) của thế gian làm lung lay, xao xuyến, đó là sự thành công hay thất bại, sự gièm pha hay khen ngợi, nâng cao hay bài bác, khổ đau hay hạnh phúc. Trước những cảnh đời đối nghịch, trước miệng lưỡi của thế gian, ít ai thản nhiên tự tại mà thường rơi vào một trong bảy thứ t́nh cảm đă nêu trên, khó ḷng tránh khỏi, do đó mà Tâm trở nên bất an và ô nhiễm v́ sẽ có những hành động đối đáp lại từ thân, từ khẩu và từ ư tạo ra nghiệp để rồi phải lănh chịu hậu quả. Thường là ác nhiều hơn thiện. Xấu nhiều hơn tốt. Đau khổ nhiều hơn hạnh phúc.

Tâm không thanh tịnh là Tâm nhiễm ái dục và cũng nhiễm luôn tham, sân, si. Tham muốn th́ t́m cầu, đeo đuổi, khát vọng, hi vọng, mong chờ, ao ước và sẽ nổi sân, nổi si khi không được kết quả mong muốn. Tất cả ḷng tham đều chỉ hướng về một điều là sự hưởng thụ dục lạc, làm thỏa măn các giác quan, cung phụng cái thân xác cho được sung sướng, cả vật chất cũng như tinh thần ( danh và lợi ) và t́m mọi cách đẩy ra cái khổ đau. Do bị ḷng tham muốn chi phối mạnh mẽ mà con người dễ dàng khởi lên những ư niệm sai lầm không phù hợp với đạo đức luân lư, với lẽ phải, với chân lư. Gọi đó là tà niệm, tà kiến và cũng là ác niệm, ác kiến, mà con người tự hại ḿnh, thật tội nghiệp :


Kẻ thù hại kẻ thù
Oan gia hại oan gia
Không bằng tâm niệm tà
Gây ác cho tự thân. (5)


Tâm ô nhiễm là Tâm có nhiều phiền năo, ư niệm sai lầm. Gốc th́ chỉ có 10, gọi đó là Kiết Sử, nhưng từ đó nảy sinh vô số các phiền năo khác : tham, sân, si, mạn (coi ḿnh giá trị hơn người ), nghi (hoang mang, ngờ vực, không đủ ḷng tin) biên kiến (chấp thường hằng, đoạn diệt) kiến thủ (chấp vào sự hiểu biết của ḿnh) giới cấm thủ (chấp vào các tục lệ của ngoại đạo, tà giáo) tà kiến (chấp vào mê tín dị đoan, không đúng chánh pháp hay chân lư).


Tâm ô nhiễm bởi những thứ phiền năo trên th́ chỉ gây khổ đau, không thể an lạc.


Thanh tịnh Tâm chính là loại bỏ các phiền năo gốc như lượt kê ở trên và thay vào đó những hạnh thanh tịnh như : không tham, không sân, không si, và Tứ vô lượng tâm : Từ ( ban vui ) Bi (cứu khổ ) Hỷ ( vui với thiện pháp ) Xả ( xả bỏ, buông, không chấp trước, chấp ngă, chấp pháp ).


Tâm thanh tịnh cũng chính là tâm được điều phục, chế ngự :


Lành thay, điều phục tâm
Tâm điều, hưởng an lạc. (6)
….
Tâm tinh vi khó thấy
Ái dục thường chi phối
Kẻ trí hộ tŕ tâm
Tâm hộ, thường an lạc. (7)


Như thế nào là hộ tŕ Tâm ? Cũng là hộ tŕ các căn đấy thôi. Qua bản Thanh Tịnh Đạo (8) của luận sư Budhaghosa, chúng ta t́m thấy trích dẫn lời đức Phật dạy như sau :


“ Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân ǵ do đó mà nhăn căn không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ nhăn căn, thực hành sự hộ tŕ nhăn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ư nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng…Thực hành sự hộ tŕ các căn.”(9)
 

Rơ ràng thanh tịnh Tâm là bắt đầu nơi các giác quan, mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi…v.v…mà không khởi niệm ǵ hết, tức là không để Ư ô nhiễm chen vào, th́ sẽ không có Ái, không có Tham, không kéo theo Sân, Si. Đó là thanh tịnh Tâm.


Đức Phật lại dạy thêm :


Biết thân như đồ gốm
Hộ tâm như thành tŕ
Dẹp Ma với gươm trí
Hăy ǵn giữ chiến thắng
Vượt ngoài mọi ô nhiễm. (10)


Thân như dồ gốm có nghĩa là cái thân xác này mong manh, không trường tồn, dễ hư hoại, tan ră mà Tâm th́ nương vào thân để hoạt động th́ phải dùng trí tuệ để dẹp bỏ nhiễm ô, được xem như là ma vương, những phiền năo trói buộc và chi phối làm con người trôi lăn trong luân hồi sinh tử.


Chúng ta đă biết Đức Phật dạy hạnh phúc hay đau khổ cũng từ nơi Tâm. Như vậy th́ đúng tu hành là từ nơi Tâm. Chuyển hóa Tâm ô nhiễm thành Tâm thanh tịnh.


Tâm được hộ tŕ, điều phục cũng là do từ việc giữ các giới hạnh, giữ chánh niệm tỉnh giác, biết định tâm.


Giữ giới là nơi Thân, Khẩu và Ư không vi phạm các lỗi : trộm cướp, giết hại, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói hung ác, tham lam, giận dữ và si mê.


Chánh niệm tỉnh giác là luôn nhớ nghĩ đến Phật, Pháp và Tăng để luôn giữ trong Tâm những điều hợp với đạo đức, chân lư giải thoát. Đây chính là Tuệ.


Biết định tâm là tu tập thiền định, không c̣n giao động, lăng xăng, hốt hoảng, sợ hăi, tạp niệm, thiếu tập trung.


Tóm lại, thanh tịnh tâm không nằm ngoài Gới Định Tuệ, Tam vô lậu học, cái kiềng ba chân của con đường tu tập. Cũng thế, thanh tịnh tâm được thực hiện qua ba giai đọan Văn, Tư và Tu. Nghĩa là phải Nghe Pháp, hay đọc tụng kinh điển, từ đó suy nghĩ nghĩa lư, hiểu rồi th́ phải thực hành.


Ngoài ra, thanh tịnh tâm cũng cần có những đức tính Kham Nhẫn và Tinh tấn.
Kham nhẫn là chịu đựng, kiên nhẫn, nhẫn nhịn cho dù tự ái bị tổn thương, bị sỉ nhục không nổi sân hận.


Tinh tấn là chuyên cần, không thối lui, không nhụt chí, cố gắng, không gián đọan, không bỏ dỡ, dù có khó khăn, vẫn trau dồi, tinh chuyên bỏ ác, làm lành, sửa đổi tánh xấu tật hư.
Tuy vậy mà việc dẹp ác làm lành cũng chưa đích thực là thanh lọc Tâm hoàn toàn, rốt ráo! Xin hăy cùng đọc bốn câu thi kệ sau đây :


Tâm không dục ái nhiễm
Không sân hận chi phối
Trừ diệt mọi thiện ác
Kẻ tỉnh không sợ hăi. (11)


Thật bất ngờ khi đọc đến các đoạn trên. Chúng ta đều biết Tâm ô nhiễm là Tâm bị ái dục và sân hận chi phối. Điều này không khó hiểu. Nhưng tại sao lại trừ diệt mọi thiện ác ? Trừ diệt ác là chuyện đương nhiên nhưng thiện cũng diệt luôn là sao ? Chúng ta cần hết sức cẩn thận nơi câu thi kệ này. Đừng nên hiểu rằng không làm ác và cũng không làm thiện luôn ! Dẹp bỏ ác th́ cũng dẹp bỏ thiện luôn ! Sự hiểu đứng đắn lời Phật là không nên chấp trước, vượt lên trên cả thiện và ác. Cho dù có làm thiện và bỏ ác, cũng đừng chấp trước vào việc “Đây là thiện, kia là ác” vỗ ngực xưng danh “ Tôi làm thiện đây ! Đây mới thực là thiện, kia chính là ác ” mà cần buông xả tất cả, v́ c̣n chấp là c̣n sinh phiền năo, sân hận. ( mời đọc Ái. LKTH)


Làm thiện th́ hăy tiếp tục làm thiện. Con người trôi lăn trong luân hồi sinh tử cần đem theo tư lương là công đức, thiệp pháp, không thể đem theo ác pháp và tội nghiệp, đă đọa lại càng đọa thêm.


Nhưng cái Tâm thật sự thanh tịnh là cái Tâm không c̣n chấp trước. Tâm nương vào trí Bát Nhă mới là Tâm rốt ráo thanh tịnh. Thực hành Lục Độ Ba La Mật (Bố thí, Tŕ giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Định, Tuệ) chính là đang thực hành với cái Tâm thanh tịnh đó.


Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy cái Tâm phân biệt, phê phán, chọn lựa, lấy, bỏ, chấp ngă, chấp pháp, chấp người, chấp ta…là Vọng Tâm chưa phải là ChânTâm. ChânTâm mới thực sự thanh tịnh. Nhưng nói đến Chân Tâm th́ không thể dùng ngôn ngữ và tư duy nhị nguyên để diễn đạt được. Hăy cùng đọc một đoạn trong kinh Lăng Nghiêm khi đức Phật trả lời A Nan về Chân Tâm :


“Nếu ông để tâm suy nghĩ và dùng lời nói luận bàn th́ cũng như người quơ tay chụp bắt hư không, chỉ thêm mệt nhọc, chớ làm sao mà chụp bắt hư không cho được”.


Chưa tu chưa chứng, chúng ta không thể diễn đạt Chân Tâm nhưng chúng ta có thể nhận biết Vọng Tâm. Đây là bước đầu khá quan trọng, không nhận ra Vọng Tâm để từ đó tu hành, rời bỏ Vọng Tâm th́ sẽ không khi nào đến đích là ngộ nhập Chân Tâm được.
Cũng nơi kinh Lăng Nghiêm, chúng ta t́m thấy những lời Phật dạy :


“Thế nên, khi thấy, nghe, hay, biết mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. C̣n khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết Bàn. Ở trong Chân Tâm thanh tịnh, không có dung chứa vật ǵ cả”


“V́ cứ theo vọng niệm phân biệt, chẳng nương theo Chân Tâm thường trụ, cho nên đời đời ô nhiễm, trôi lăn trong ṿng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với Chân Tâm thường trụ.Khi Chân Tâm thanh tịnh sáng suốt rồi th́ căn thân, trần cảnh và vọng thức tức thời tiêu diệt. Cảnh vọng trần và tâm cấu nhiễm đă tiêu rồi, lúc bấy giờ lo ǵ chẳng thành quả Phật vô thượng
”.


Và nơi kinh Viên Giác chúng ta lại đọc thấy :
Nếu Tâm chúng sanh được thanh tịnh th́ bóng Bồ Đề tự hiện vào”

Cho thấy rằng việc thanh tịnh Tâm quả là quan trọng đến dường nào, nơi con người từ sáu căn mà trầm luân th́ cũng từ sáu căn mà giải thoát. Từ Vọng chuyển thành Chân, từ Mê chuyển thành Ngộ. Đó là Đạo lộ mà con người cần nương theo. Đức Phật đă chỉ rơ, chúng ta chỉ chuyên cần theo đó mà tu tập ắt có ngày đạt Đạo quả.


LêkhắcThanhhoài
Paris, tháng Tám, 2015


Chú Thích :
1. Kinh Pháp Cú. Phẩm Phật Đà. HT Thích Minh Châu dịch
2. 3. Kinh Pháp Cú. Phẩm Song yếu. HT Thích Minh Châu dịch
4.5.6.7.10.11.Kinh Pháp Cú. Phẩm Tâm. HT Thích Minh Châu dịch
8. Thanh Tịnh Đạo. Ni Sư Thích Trí Hải dịch
9. Kinh Tương Ưng Bộ. Chương Một. Tương Ưng Sáu Xứ.

 

chantran

art2all.net