Nguyễn Phú Yên

 

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỨC SƠN

 


 

          Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sau thời gian bị đột quỵ nhiều lần đă qua đời vào lúc 3g sáng nay 11-6-2020 tại đồi Phương Bối. Ông quê gốc Thừa Thiên Huế, sinh năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận. Ông bắt đầu nghiệp văn chương với bút hiệu Sao Trên Rừng, gần đây c̣n được gọi là Sơn Núi. Ông từng ở nhiều nơi như Sài G̣n, Phan Rang, B́nh Dương, Bảo Lộc và sinh sống bằng nghề dạy học. Năm 1979, ông cùng gia đ́nh bỏ nơi đô thị lên đồi Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng để sống một cuộc sống thanh tịnh.

 

Trước năm 1975 ông là một trong ba kỳ nhân của thời đó (hai người c̣n lại là Bùi Giáng và Phạm Công Thiện), ngoài ra trong làng văn ông được gọi là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam, ba người c̣n lại là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên.


Các tác phẩm của ông ca ngợi tinh thần tự do, yêu đất nước. Một số tác phẩm tiêu biểu đă xuất bản: 3 tập truyện ngắn Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm, 1968), Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm, 1969), Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm, 1971) và tập Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang chưa in.


Thơ: Bọt Nước (Mặt Đất, 1965), Hoa Cô Độc (Mặt Đất, 1965), Lời ru (Mặt Đất, 1966), Đêm Nguyệt Động (An Tiêm, 1967), Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm, 1972), hai tập cuối cùng là Tịnh Khẩu (An Tiêm, 1973) và Du Sỹ Ca (An Tiêm, 1973).

Xin chia buồn cùng gia đ́nh nhà thơ và tu sĩ Thích Ngộ Chánh.

 

NGUYỄN PHÚ YÊN
 

__________


*Một số bài thơ của Nguyễn Đức Sơn:

QUÊ HƯƠNG


tháng bảy d́ về đơm nhăn
nhớ mang ra ít giạ chiêm
ruộng xưa c̣ bay thẳng cánh
gặt hái vừa độ trăng liềm

mười mấy năm rồi d́ nhỉ
lạc loài xa măi cố hương
giờ đây ngồi mà suy nghĩ
ḷng dạ ai người không thương

quê ḿnh ai c̣n ai mất
đi rồi gươm súng mùa thu
khóc măi từng đêm lưu lạc
nói ra thêm oán thêm thù

ngơ về làm sao ngài ngại
xe cộ có dễ dàng không
kháng chiến người đi chưa lại
lúa khô héo cả ruộng đồng

ông ngoại chắc già ghê lắm
mấy người d́ nữa nhưng thôi
đất cằn quê hương nứt rạn
kể thêm đau ḷng d́ ơi

dù sao cũng là xứ sở
đói nghèo đừng lạt t́nh thương
mười năm không cúng không giỗ
d́ về ấm lại khói hương

tháng bảy d́ về đơm nhăn
nhớ mang ra ít giạ chiêm
ở đây làm ǵ có bán
thấy người ta ăn bắt thèm.



TÔI THẤY MÂY RỪNG


Một ngày đau khổ chín trong tôi
Tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi
Cây thả trái sầu trên nước lắng
Mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi

Thôi nhé ngàn năm em đi qua
Hồn tôi cô tịch bóng trăng tà
Trời sinh ra để chiều hôm đó
Tôi thấy mây rừng bay rất xa



MỘT M̀NH ĐI LUỒN VÔ LUỒN RA TRONG NÚI CHƠI


Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ
Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
Chân rục ră tôi đi luồn ra núi
Hồn rụng rời trước mặt băi hư vô.
________

 

 

 

 

H́nh: Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn và thầy Tuệ Sỹ


 



ĐÁM CƯỚI
THI SĨ NGUYỄN ĐỨC SƠN


Nguyễn Miên Thảo


T́nh cờ tôi gặp nhà sư Nguyễn Đức Vân ở quán cà phê Bông Giấy ,vui miệng tôi bảo với sư thời trẻ tôi có thời gian sống vơi bố Nguyễn Đức Sơn hơn 1 năm ở chùa Tây Tạng Thủ Dầu Một-B́nh Dương. Sư Vân nghe vậy chuyển ngay cách xưng hô gọi tôi bằng chú và tôi vẫn gọi sư Vân bằng Thầy. Tôi kể cho Sư Vân nghe một số câu chuyện về bố anh thời trẻ, là những giai thoại có thật, trong đó có chuyện Đám cưới của bố mẹ anh: Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn và chị Nguyễn thị Phượng.

Nguyễn Đức Sơn là một người đầy cá tính mà nếu không hiểu th́ tưởng là …khó tính.Tính cách của ông khác người, luôn mâu thuẫn với chính ḿnh.Tôi nghĩ sự ” va chạm “ nội tại đă đưa ông tới đỉnh điểm của sáng tạo trong tác phẩm của ông. Tâm địa ông th́ rộng bao la nhưng hay… thù vặt; rất mê chủ nghĩa Cộng sản nhưng không ưa “cách mạng”, sẵn sàng chửi cả những người khen ngợi ông dù người khen rất thật t́nh và có nhân cách nhưng trong bụng Nguyễn Đức Sơn th́ sướng rơn. Tôi ví dụ một câu chuyện nhỏ: Sau khi tập thơ Những Bài T́nh Đầu ra đời, nhà văn Tam Ích, một nhà văn đứng đắn và nổi tiếng thời đó viết một bài phê b́nh khen thơ Nguyễn Đức Sơn hết lời. Nguyễn Đức Sơn viết một bức thư ngắn nhờ tôi đem về Sài G̣n trao tận tay nhà văn Tam Ích. Nội dung lá thư không phải là lời cám ơn mà vỏn vẹn một ḍng chữ như sau : Bởi v́ ông là nhà văn đứng đắn nên tôi không biết chửi ông như thế nào. Nhà văn Tam Ích nhận thư, không giận, lại viết thêm một bài ca ngợi N Đ Sơn là thiên tài, mặc dầu không nói ra nhưng tôi biết N Đ Sơn sướng trong bụng lắm. Sướng không phải v́ được khen mà v́ có cớ để chửi người khác.

Tôi kém N Đ Sơn 9 tuổi mà tính theo tuổi mụ năm nay tôi đă 64, quĩ thời gian sắp hết nên nảy ra ư định viết một số giai thoại độc đáo về N Đ Sơn mà tôi từng biết, có ǵ sai Sơn c̣n có thể bổ sung đính chính và c̣n kịp thời gian để …chửi. Nguyễn Đức Vân cũng khuyến khích :”Chú viết đi”

Tôi vào Sài G̣n khoảng giữa thập niên năm 1960, thuê một pḥng trọ ở khu Nguyễn Thông nối dài gần ga xe lửa. Một hôm vào khoảng 9 giờ sáng, một người đàn ông khoảng 30, áo quần chỉnh tề, thắt cà vạt, tay ôm một chồng sách trên 20 cuốn đến gơ cửa pḥng t́m tôi (sau này tôi mới biết khi nào đi đâu N Đ Sơn cũng thắt cà vạt v́ trốn lính). Anh giới thiệu là Nguyễn Đức Sơn và hỏi tôi có phải là Tụng không (Tụng là tên tục của tôi mà chỉ những người thân mới biết), th́ ra do Thái Ngọc San giới thiệu. N Đ Sơn hỏi sơ t́nh h́nh ăn ở của tôi và bảo: Cậu cầm mấy cuốn sách đem bán ăn cơm tạm, ít hôm nữa moa lên đón cậu về B́nh Dương. Một tuần sau anh lên đón tôi thật. Thực ra tôi biết N Đ Sơn từ trước, chỉ là chưa gặp mặt.Tôi biết anh khi tờ MẶT ĐẤT do anh chủ trương ra đời và tôi có gửi thơ nhưng chưa được đăng. Nguyễn Đức Sơn sinh sống bằng nghề dạy Anh văn, đời sống rất đạm bạc bây giờ lại thêm một miệng ăn quả là vất vả. Nhà N Đ Sơn khá rộng, không phên vách, bốn bề lộng gió, nằm trên đường Thích Quảng Đức, cách chùa Tây Tạng khoảng 300 mét. Ngôi nhà vừa là pḥng học, thư viện vừa là nơi ăn ở. Học tṛ học với Sơn khá đông, nhưng cuối khoá học chỉ c̣n vài ba em nên cả hai thường đói. Chỉ cần không trả lời đúng câu hỏi hoặc làm sai bài tập là bị đuổi và đặc biệt học sinh bị đuổi được …trả lui tiền học phí đă đóng trước đó. Thế mà khoá nào học tṛ cũng đăng kư học rất đông. Cơm chùa th́ không thiếu, cửa chùa th́ rộng mở nhưng N Đ Sơn cấm tiệt không ăn cơm chùa v́ đang thời gian “t́m hiểu “ cô Phượng, cháu của Hoà thượng Thích Tŕ Bổn. Và thế là chúng tôi trở thành những kẻ ăn trộm bất đắc dĩ và bảo đảm không bao giờ bị bắt. Ngày nào hết gạo mà hết gạo hầu như thường xuyên, Sơn rủ tôi đi dạo vườn chùa, mục đích là xem vị trí của những quả bí đao, bí ngô để chờ tối ŕnh ṃ đi làm đạo chích. Thực ra hái đôi ba trái ban ngày ban mặt chẳng ai nói ǵ nhưng Sơn thích vậy. Bí đao hoặc bí ngô cứ rửa sạch, gọt vỏ và nấu nhừ, bỏ một chút muối và xúc ăn bằng bánh tráng. Những hôm có chút tiền Sơn đi chợ và làm đôi món ăn rất ngon, phổ biến là món xúp xương heo hầm cà rốt, khoai tây.

Cuộc t́nh của Nguyễn Đức Sơn và cô học tṛ Nguyễn thị Phượng chín mùi khi nào th́ quả t́nh tôi không hay biết. Một hôm vào khoảng giữa năm 1967, 1968 ǵ đó (tôi không nhớ chính xác), N Đ Sơn nhờ tôi lên báo với Thầy Thích Thanh Tuệ in gấp tập thơ Đêm Nguyệt Động để kịp ngày đám cưới. Và khoảng mươi ngày sau, đám cưới Nguyễn Đức Sơn –Nguyễn thị Phượng được tổ chức tại chùa Tây Tạng, Thủ Dầu Một-B́nh Dương.

Từ sáng sớm, môt chiếc xe con 4 chỗ ngồi đỗ trước nhà Nguyễn Đức Sơn, Sơn trong bộ com lê màu sẫm sang trọng, đầu húi cua đă chờ sẵn đón những người trên xe bước xuống, đó là Đại đức Thích Thanh Tuệ, chủ Nhà xuất bản An Tiêm; Giáo sư, nhà văn Bửu Ư và Đại đức Thích Nguyên Tánh tức nhà thơ Phạm Công Thiện, Khoa trưởng Văn Khoa Đại học Vạn Hạnh. Khi biết tập thơ Đêm Nguyệt Động không in kịp, N Đ Sơn chào đoàn nhà trai một câu chửi: “ Đ. mẹ…mẹ thầy, thầy có biết ngày này là ngày ngày trọng đại của tôi không? “ Thầy Thanh Tuệ cười trừ c̣n mọi người đă biết N Đ Sơn là ai.

Đám cưới cử hành tại Đại điện chùa Tây Tạng, Thượng Toạ Thích Tŕ Bổn, trụ tŕ chùa, cậu ruột của cô dâu Nguyễn thị Phượng đại diện nhà gái vừa là chủ hôn (Phượng mồ côi cha mẹ ở với cậu từ nhỏ), Đại đức Thích Thanh Tuệ, đại diện nhà trai, Đại đức Thích Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và nhà văn Bửu Ư phụ rể. Trong khi niệm hương lễ Phật, Thượng toạ Thích Tŕ Bổn và Đại đức Thích Thanh Tuệ qú phía trước, Sơn và Phượng qú phía sau, Sơn dùng miệng mum hết chân nhang, khi cắm nhang vào lư, ba cây nhang của Sơn lùn tịt, không giống ai. Khi qua làm lễ cáo tổ tiên, Sơn láy mắt với tôi, tôi nghĩ Sơn bày tṛ ǵ đây nhưng không nghĩ ra. Bàn dọn cỗ là loại bàn tṛn bằng gỗ, mặt bàn rời đặt trên cái giá 4 chân h́nh chữ x, Sơn và Phượng qú trươc bàn cáo tổ tiên, lạy bốn lạy, Sơn lạy thêm một lạy, trồi người tới trước, khi đứng dậy, đầu đội vào cạnh bàn, cỗ bàn bị lật đổ không c̣n một món. Những người dự lễ cưới không ai không cười, trừ Bửu Ư.

Một tuần lễ sau đám cưới, tôi từ Sài G̣n về B́nh Dương thăm vợ chồng Nguyễn Đức Sơn, vừa bước vào nhà tôi thấy Sơn cầm một con dao dí Phượng vào sát vách, Tôi kêu lên: Sơn, làm ǵ vậy? Sơn vứt dao, choàng vai tôi bước ra ngoài: moa muốn đo sự sợ hăi của Phượng như thế nào!

Từ dạo đó tôi không c̣n gặp Nguyễn Đức Sơn cho đến những ngày đầu tháng năm 1975, tôi gặp lại Sơn trong một ngôi chùa ở Gia Định .

N.M.T
(nguyenmienthao.blogspot.com  )