|
BÀ MẸ VIỆT NAM TRONG ÂM NHẠC PHẠM DUY
H́nh ảnh của mẹ gắn liền với lời ru được nghe từ lúc bé thơ:
Đêm khuya trăng
tà Suốt một đời mẹ vui buồn với con. Và người con lưu giữ h́nh ảnh mẹ từ đó, để rồi khi lớn lên, trên những nẻo đường chinh chiến, người con bao giờ cũng nghĩ đến mẹ trước tiên:
Ai có nghe tiếng
hát hành quân xa Trên đường kháng chiến, lúc nào ông cũng gặp những người mẹ, tuy xa lạ nhưng rất đỗi gần gũi. Vào miền Trung năm 1948, ông đă nghe câu chuyện về một bà mẹ ở Gio Linh khiến ông rất xúc động. Và một khúc recitativo cất lên đă làm lay động nhiều trái tim. Bà mẹ đă là một bi kịch trong câu chuyện kể. Mẹ sống giản dị ở miền quê như bao bà mẹ khác, cũng tảo tần mưa nắng, chăm bón ruộng vườn:
Mẹ già cuốc đất trồng khoai Câu chuyện phát triển đến hồi bi thảm: giặc đến đốt phá xóm làng:
Nhà th́ nó đốt c̣n đây Và rồi hiện thực kinh hoàng đến với mẹ, sự việc không ngờ hết sức thảm thiết khiến mẹ không c̣n biểu đạt cảm xúc nổi:
Mẹ già tưới nước trồng rau Mẹ lẳng lặng nén sự khổ đau và nỗi căm thù tột cùng đến độ tưởng chừng như mẹ dửng dưng, vô cảm đến lạnh lùng:
Nghẹn ngào không nói một câu Bi kịch như một nghịch lư: mẹ không kêu gào, la hét trước cái chết của con mà lại b́nh tĩnh, gan ĺ đến độ kiêu hănh, cao ngạo - h́nh ảnh của người mẹ kháng chiến:
Tay nâng nâng lên
rưng rức nước mắt đầy H́nh ảnh người mẹ lẳng lặng trong hoàn cảnh đau thương cực độ đó đă gây xúc động ḷng người qua giai điệu áo năo của bài ca. Ở một tầm khái quát cao hơn, h́nh ảnh mẹ quê được ông mô tả và khắc họa khá rơ nét về ḷng thương con, sự tần tảo, tính chất phác:
Mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều
Bà bà mẹ quê, đêm
sớm không nề hà chi
Khi vào đến miền Nam, Phạm Duy lại có thêm một khúc recitativo nữa kể câu chuyện về một bà má ở đây:
Mẹ già mẹ già ở túp lều tranh Mẹ đưa anh Ba quốc gia ẩn núp, rồi lại giúp anh Tư giải phóng khi có đoàn quân đi ngang ngoài ngơ. Thế là hai người con ở hai chiến tuyến đều được mẹ đưa xuống gầm giường! Ôi ḷng mẹ thật bao la, mẹ ở bên trên mọi thứ chủ nghĩa, mẹ chỉ có ḷng bao dung ôm ấp đàn con v́ đó là mẹ Việt Nam:
Năm mươi năm làm
dân chưa được mấy lúc mừng Sau những tháng ngày ngược xuôi trên những nẻo đường đất nước, Phạm Duy về thành để rồi không nguôi nghĩ đến lời ru của mẹ, tiếng nói của mẹ đă cho ông một đời gắn bó với nước non:
Tôi yêu tiếng
nước tôi từ khi mới ra đời Ông đă gói ghém tâm t́nh của ḿnh chỉ trong một ca khúc ngắn nhưng đủ dung lượng chứa đựng t́nh yêu đối với tiếng nói VN, đối với quê hương đất nước VN và đối với con người VN. Sau khi ngợi ca những người mẹ cụ thể trên nhiều miền đất nước, Phạm Duy đă khái quát hóa h́nh ảnh người mẹ bằng một trường ca mang tên Mẹ Việt Nam viết năm 1963-1964. Tác giả đă thổ lộ trong lời nói đầu tập trường ca này: “Mẹ Việt Nam là một âu ca, ca tụng mẹ Tổ quốc và những mẹ điển h́nh trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào t́nh thương yêu và tính hiếu ḥa, tính t́nh này đă sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tại”. Trường ca gồm bốn phần: Đất mẹ, Núi mẹ, Sông mẹ, Biển mẹ. Phần Đất mẹ gồm 5 bài: Mẹ ta, Mẹ xinh đẹp, Mẹ chờ mong, Lúa mẹ, Mẹ đón cha về, ngợi ca người mẹ xinh đẹp, giản dị, phục sức mộc mạc:
Mẹ Việt Nam, không son không phấn Mẹ tiêu biểu cho những đức tính tốt đẹp như sự tảo tần, chịu thương chịu khó, ḷng bao dung, nhân ái nhưng cũng rất anh hùng:
Việt Nam có anh
hùng, mắt nhung và môi son
Phần Núi mẹ cũng có 5 bài (Mẹ hỏi, Mẹ bỏ cuộc chơi, Mẹ trong ḷng người đi, Mẹ trả lời, Mẹ hóa đá). Phần này mô tả mẹ qua h́nh tượng núi vọng phu để nói về sự chờ đợi người chồng sẽ trở về sau cơn binh lửa:
Ra đi c̣n nhớ ngày nào
Phần Sông mẹ gồm 5 bài (Muốn về quê mẹ, Sông c̣n mải mê, Sông vùi chôn mẹ, Sông không đường về, Những ḍng sông chia rẽ) nói đến những ḍng sông chia cắt như h́nh ảnh những đứa con c̣n trăm mối ngổn ngang, chia ĺa nhau trong cuộc tử sinh nên không về với mẹ:
Nước đi là nước
không về
Phần Biển mẹ gồm 7 bài: Mẹ trùng dương, Biển đông sóng gợn, Thênh thang thuyền về, Chớp bể mưa nguồn, Phù sa lớp lớp mây trời cuộn bay, Mẹ Việt Nam ơi, Việt Nam - Việt Nam. H́nh ảnh mẹ là h́nh ảnh của biển, ôm ấp vỗ về trong nỗi thương nhớ những đứa con xa và mong ước chúng trở về bên mẹ... Âm điệu ngân nga tha thiết và lời ru đằm thắm, dịu dàng:
Sóng vỗ miên man
như câu ru êm của mẹ dịu dàng Bài chung khúc ca ngợi h́nh ảnh đất nước với ước mơ vươn tới tương lai yên vui để xây t́nh người:
Việt Nam Việt Nam
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời Điều đáng nói là khác với nhiều nhạc sĩ cùng thời với ông thường hay dùng nhạc ngữ phương Tây, ông đă vận dụng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhạc ngữ phương Tây với nhạc ngữ dân tộc. Nét nhạc ngũ cung Việt Nam được ông khai thác trong hầu hết sáng tác của ḿnh. Viết về mẹ như trên, ông thường dùng thang âm ngũ cung miền Bắc trong lời ru con, chạy trên năm âm do re fa sol la hoặc trong lối ngâm thơ chạy trên năm âm re fa sol la do, đôi khi chuyển hệ (métabole) sang năm âm re mi sol la si. Trong bài Bà mẹ Gio Linh, ông vẫn c̣n dùng ngũ cung Bắc có chuyển điệu nhưng vẫn là nhạc thuật Tây phương: đoạn đầu cung re thứ, đoạn sau cung fa trưởng; khác hẳn cách dùng điệu Nam ngũ cung Huế như trong bài Nước non ngàn dặm ra đi, với thang âm do re (non) fa (già) sol la (non). Khi nói đến bà mẹ miền Nam trong bài Bà mẹ phù sa, ông sử dụng thang âm ngũ cung hơi Nam giọng oán do mi fa sol la. Để khắc họa h́nh tượng người mẹ trong âm nhạc của ḿnh, ngoài tâm t́nh tha thiết để ngợi ca, xưng tụng, Phạm Duy c̣n dùng nhạc ngữ Việt Nam để chuyển tải nội dung sao cho người nghe nhận ra đó chính là h́nh ảnh người mẹ VN, quê hương VN, nhận ra cảm giác gần gũi, ấm áp với những âm hưởng đă ăn sâu bao đời trong tâm thức người Việt. Cái tài hoa của người nghệ sĩ chính là ở khả năng đó. V́ vậy bài hát về bà mẹ của Phạm Duy dễ đi vào ḷng người và đă để lại dấu ấn khó phai qua bao thế hệ người yêu nhạc VN.
|