|
NHÂN 14 NĂM NGÀY TRỊNH CÔNG SƠN QUA ĐỜI ( 01-4-2001 - 01-04-2015)
NHẠC PHẢN CHIẾN CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
Giữa thập niên 1960, sau những bài ca trữ t́nh nhẹ nhàng về quê hương, về t́nh yêu, Trịnh Công Sơn (TCS) đă viết những giai điệu mang tính thời sự hơn, thể hiện tâm trạng khắc khoải của người thanh niên trước vận nước, tác động rơ rệt vào đời sống xă hội. Những giai điệu đó khởi phát từ thành phố quê hương ông rồi lan ra cả nước. Đó là những ca khúc phản chiến. Bửu Chỉ đă nói về nhạc phản chiến của TCS như sau: “Phản chiến ở đây là bày tỏ thái độ của ḿnh không tán thành chiến tranh, và sự không tán thành này có ư nghĩa là một sự đồng cảm, chia sẻ với những con người đang phải gánh chịu những nỗi mất mát, đau thương trong chiến tranh. Đồng cảm mà không đứng ở ngoài, đứng ở một bên; mà đứng ở cái thế chung cùng một phận, một định mệnh”(6). Để hiểu quá tŕnh h́nh thành ca khúc phản chiến của TCS, ta thử ngược ḍng với các tác phẩm đầu tay của ông. Thật vậy, TCS khởi đầu sự nghiệp bằng những ca khúc trữ t́nh của ḿnh. Năm 1959, ông viết Ướt mi và trong suốt thời gian học tại Trường Sư phạm Qui Nhơn (1962-1964), một loạt ca khúc của ông như Thương một người, Nh́n những mùa thu đi, Hạ trắng, Biển nhớ… lần lượt ra đời và được phổ biến rộng răi. Sau đó là ḍng nhạc phản chiến của ông. Tất cả tác phẩm đó không thể tách rời nhau, chúng gắn bó mật thiết như thể đó là tâm huyết từ một bản ngă duy nhất của người nghệ sĩ. Gần như một định mệnh, TCS bị đẩy vào trong những nỗi ám ảnh không nguôi. Nguồn cảm xúc của ông bắt đầu từ những ám ảnh đó. Ngay ở các tác phẩm viết vào giai đoạn đầu tiên, ông khởi đi từ những giọt nước mắt. Nước mắt trong cuộc t́nh (người ơi nước mắt hoen mi rồi), nước mắt của các bà mẹ (nghe con ḿnh buồn giọt lệ ăn năn), nước mắt cho người dân Việt (giọt nước mắt thương dân, dân ḿnh phận long đong). Nước mắt ấy là nước mắt từ nỗi buồn, nó bao trùm lên thân phận con người, thân phận của dân tộc da vàng và cả quê hương thần thoại của ông. Buồn từ khi vừa mới được hoài thai (tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người), tưởng như con người ra đời dưới một «phúc âm buồn» (người nằm yên không kêu than buốt xương da ḿnh), và như thế buồn cả kiếp người (ôi trái tim phiền muộn/ đă vui lại một giờ, tuổi buồn em mang đi trong hư vô), buồn trong từng cuộc t́nh (buồn như giọt máu lặng lẽ nơi này, t́nh buồn làm cơn say, buồn bă với những môi hôn), buồn trong tiếng ru của mẹ (mẹ ngồi ru con đong đưa vơng buồn, đong đưa vơng buồn), buồn cho quê hương (ôi quê hương đă lầm than, sao c̣n c̣n chiến tranh). Và thế hệ anh ra đời đă bị ném vào cuộc chiến tranh để rồi họ sớm thao thức và âu lo (từng tuổi xuân đă già…, ngày thật dài trong âu lo/ rồi từng đêm bom đạn phá/ người Việt nh́n sao xa lạ/ người Việt nh́n nhau căm thù). Từ những khúc t́nh ca ban đầu, TCS đă đi xa hơn với sự thao thức về cuộc đời và thân phận con người và quê hương. Như ông đă thú nhận, từ nhỏ trong gia đ́nh ông đă thấm đượm tinh thần của nhà Phật. Khi lớn lên ông quan tâm đến các trào lưu tư tưởng phương Tây. Thật vậy, thế hệ của ông chắc hẳn đă tiếp nhận các ḍng triết học khác nhau, trong đó có chủ nghĩa hiện sinh, đă du nhập vào miền Nam lúc đó. Đúng như Thái Kim Lan đă nhận định: “Những danh từ như hiện sinh, buồn chán, xao xuyến, hư vô, thời gian, hữu hạn và vô hạn, buồn nôn, thân phận con người, sự vô nghĩa của cuộc đời, nỗi hoài công phi lư của Sisyphus, ư niệm về siêu h́nh, bản thể học đă như những tiếng gơ bí ẩn vào cánh cửa tâm hồn của lớp thanh niên trẻ chúng tôi thời ấy như những mời gọi phiêu lưu vào những vùng đất lạ của tri thức… Sơn hát với những ưu tư thầm kín nhất của tuổi hai mươi chúng tôi, với những tư duy của thế hệ trẻ chúng tôi và với một cách đặt vấn đề - biệt ngữ của phong trào học triết học siêu h́nh thời ấy, khác với những người nhạc sĩ đi trước” (7). TCS đă có những băn khoăn triết học như thế giữa lúc cuộc chiến đă đi vào tầm mức khốc liệt. Năm 1963, t́nh h́nh chính trị miền Nam rối ren. Năm 1965, quân Mỹ đổ bộ vào Việt Nam. Là một thanh niên thời chiến, TCS không thể bàng quan để đi t́m lấy tháp ngà của chính ḿnh. Ông vẫn phải đối diện với thực trạng chiến tranh. Những thống khổ, bi đát của một dân tộc đă in hằn trong tâm trí ông. Từ đó đă bắt đầu h́nh thành ư thức phản chiến ở TCS. Có thể nhận ra ư thức đó manh nha từ tập nhạc đầu tiên của ông: Ca khúc Trịnh Công Sơn (thần thoại quê hương, t́nh yêu và thân phận) (1966), sau đó đă phát triển rơ hơn với các tập nhạc Ca khúc da vàng (cuối 1966, đầu 1967), Kinh Việt Nam (1968), Ta phải thấy mặt trời (1970) và Phụ khúc Da vàng (1972). TCS phô bày rơ nét cảm xúc cũng như tư tưởng của ông trước cuộc chiến. TCS đă viết: “Kinh Việt Nam là những tiếng kêu thương thống thiết, khởi từ một thực trạng máu xương. Kinh Việt Nam cũng là ḷng mơ ước về một rạng đông cho đêm tối dài lâu này” (lời tựa tập Kinh Việt Nam). Trước hết, ông nhận ra thân phận người con trai lứa tuổi hai mươi bị cuốn đi trong cơn lốc chiến tranh:
- Đứa con của mẹ
da vàng Ông nh́n thấy quê hương đầy bom đạn và người dân khốn khó mà ông phải chứng kiến từng mỗi phút giây:
- Ôi chinh chiến
đă mang đi bạn bè
- Mẹ ngồi ru con
đong đưa vơng buồn năm qua tuổi ṃn
- Giọt nước mắt
thương đất, đất cằn cỗi bao năm Chiến tranh đem lại cảm giác hăi hùng v́ đập vào mắt ông là h́nh ảnh ghê rợn:
- Một buổi sáng
mùa xuân
- Xác người nằm
trôi sông phơi trên ruộng đồng Những h́nh ảnh bi thương dồn dập khiến cho đôi khi con người dường như mất hồn với h́nh ảnh kinh hoàng khi nó thở than bên những xác người:
- Chiều đi qua
Băi Dâu, hát trên những xác người Sự cùng cực trong tâm thức khiến con người đôi khi cũng trở nên nửa điên nửa dại:
- Mẹ vỗ tay reo
mừng xác con Nếu ca từ của ông trong thời kỳ đầu c̣n mang tính chất hoa mỹ, đầy ẩn dụ th́ trong ca khúc phản chiến, ca từ đó dần dần mang tính chất hiện thực hơn. Ông nhận ra chiến tranh đang đến gần với phố thị:
- Ghế đá công
viên dời ra đường phố
- Đại bác đêm đêm
dội về thành phố
- Một ngày mùa
đông một người Việt Nam thôi lên đầu non Và như thế nỗi ám ảnh chết chóc từ trong trang triết lư hiển hiện dần trong thực tế với cái chết trùng vây của bao lớp người trai thế hệ:
- Tôi có người
yêu chết trận Chư Prông Chiến tranh mà ông mô tả ở đây có tính chất phiếm định. Ông nh́n chiến tranh bằng cái tâm của ḿnh. Tác giả không chỉ rơ đâu là nguồn gốc chiến tranh, đâu là kẻ thù và kẻ thù của ai. Nếu có sự thù hận th́ cũng là hận thù chiến tranh đă lấy mất đi sự thanh b́nh, và trái tim người nghệ sĩ cũng không muốn nhắm vào một ai:
- Em chưa hát ca
dao một lần Trong bản thảo bài Gia tài của mẹ, TCS đă sửa chữa, bôi xóa nhiều lần trên hai chữ nội chiến. Tác giả chắc hẳn đă băn khoăn, cân nhắc lắm từ này nhưng cuối cùng ông đă giữ lại. Có thể vào lúc đó có người đồng ư, có người không. Đây là vấn đề dành cho các nhà chính trị, các nhà lư luận nhưng với đôi mắt khắc khoải của ḿnh, TCS đă thấy được màu da xác chết ngă xuống vẫn là màu da vàng người Việt, ḍng máu đổ xuống trên quê hương ḿnh cũng là ḍng máu của người Việt. Những người anh em ở hai chiến tuyến bắn giết nhau để rồi đất nước chỉ là cảnh hoang tàn:
-
Hai mươi năm nội chiến từng ngày Nhưng nỗi đau lớn hơn cả là khi thấy lũ người này trên đất nước:
- Gia tài của mẹ
một bọn lai căng Chính TCS đă trần t́nh về những lời ca ông viết trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1972: “Những khúc hát này đúng ra không nên có, nhưng bởi trên những con đường, những thành phố và những xác chết của tháng 5 (1972), một lần nữa tôi không thể nào quên đi tiếng kêu thất thanh của đám người cùng khổ. Cuộc chiến đă không muốn ngừng và có lẽ c̣n mang nhiều bộ mặt mới mẻ, thảm khốc hơn”(lời tựa tập Phụ khúc Da vàng). Ông không ngừng nhận diện quê hương, nhận diện từng khuôn mặt bạn bè, anh em:
- Nhưng hôm nay
quê hương là miền Nam Đây đó ngập tràn h́nh ảnh của chết chóc, h́nh ảnh xương máu của người Việt:
- Khi đất nước
tôi không c̣n giết nhau
- Ôi cái chết đau
thương vô t́nh
- Một ngày dài
trên quê hương ngày Việt Nam hoang tàn quá Không thể không nhắc đến xă hội miền Nam bấy giờ có một lớp người với tâm trạng rối bời, trôi vào cuộc sống buồn chán, buông thả, suy đồi, chỉ biết hiện tại, lăng quên mọi trách nhiệm, sống gấp, sống vội... TCS luôn nhắc đến từ “da vàng” - đồng nghĩa với mặc cảm nhược tiểu, hèn kém, van xin đó:
- Hăy sống giùm
tôi, hăy nói giùm tôi, hăy thở giùm tôi
- Người nô lệ da
vàng ngồi yên, ngồi yên trong căn nhà nhỏ Đến lúc cảm thấy bất lực trước hiện tại, họ chỉ c̣n trông chờ một điều tốt đẹp sẽ đến:
- Nơi đây tôi chờ,
nơi kia anh chờ Nhưng dường như tất cả nỗi chờ mong đă trở nên quá mong manh:
- Hai mươi năm
chờ từng phút giây
- Bao nhiêu năm
chờ đă héo hon
- Huế Sài G̣n Hà
Nội, quê hương ơi sao vẫn c̣n xa Trong bối cảnh đó, cả một thế hệ đành nuôi lấy cho ḿnh niềm tự tin, đôi khi cũng cháy bỏng:
- Dù hôm nay tôi
chưa nh́n Hà Nội TCS đă kịp trở lại với những trăn trở, ưu tư, suy xét để rồi nhận ra đằng sau nỗi đau chiến tranh là muôn triệu tấm ḷng cùng chung niềm mơ ước ḥa b́nh. Ông đă ḥa nhịp đập trái tim ḿnh với nhịp đập của người dân Việt:
- Đêm thôi dài
cho mai này người Việt hái lúa ngoài đồng chín
- Tôi lên đường
với anh, ta đi thấy lại ruộng vườn
- Những sớm mai
Việt Nam t́nh ta bay theo sóng ngọn cờ Một viễn cảnh tươi đẹp được vẽ vời trong niềm hân hoan của dân tộc:
- Dọn đường về
ngày mai trường học dựng mọi nơi
- Mẹ già cười
xanh như lá mới trong khu vườn
- Chính chúng ta
phải nói ḥa b́nh
- Hôm nay tiếng
ḥa b́nh đă thấy TCS ca hát, kêu gọi thức tỉnh, kêu gọi t́nh anh em nhưng có lúc nhận ra sự nỗ lực vô vọng của chính ḿnh:
- Đường anh em
sao đi hoài không tới Nhạc sĩ Văn Cao đă nói về TCS như sau: “Sơn đă hát về quê hương đất nước bằng cả tấm ḷng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, biết đau tận cùng những nỗi đau của Tồ quốc mẹ hiền” (8) . TCS đă vui và đă đau như thế trong thời tuổi trẻ chiến tranh của ḿnh. Nh́n lại, ta thấy ca khúc phản chiến chính là điểm sáng trong nội dung tư tưởng âm nhạc của TCS. Chính ḍng nhạc phản chiến, chứ không phải các bài t́nh ca của ông, với Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, Phụ khúc Da vàng đă làm nên hiện tượng TCS. Sự lên tiếng đó có ư nghĩa như một lời tố cáo. Lời phản chiến là lời ca của lương tâm và ḷng nhân ái. Thật vậy những giai điệu một thời của TCS cũng đă khêu gợi t́nh tự dân tộc, sự thức tỉnh tâm thức và lương tri của một thế hệ thanh niên; để rồi sau đó tiếp nối hiện tượng Miên Đức Thắng - một cái nh́n tích cực hơn về chiến tranh và đất nước. Đó là cánh cửa mở ra một khuynh hướng mới, một ḍng nhạc mới trong nền tân nhạc ở miền Nam.
______ |