|
Nguyễn Phú Yên
Nhân 100 năm ngày sinh NS Văn Cao
(15/11/1923 -15/11/2023):
VĂN CAO, GIẤC MƠ MỘT ĐỜI NGƯỜI

Đạo diễn Đinh Anh Dũng kể lại
nhạc sĩ Văn Cao từng mơ giấc mơ được biểu diễn một đêm nhạc riêng ở Nhà
hát Lớn Hà Nội. Đó là giấc mơ của một đời người, một giấc mơ giản dị
nhưng không hề có thực, để rồi khi nhắc đến Văn Cao, ta thấy chỉ c̣n lại
h́nh ảnh chiếc bóng hiu hắt, buồn thảm đổ dài trong suốt cuộc đời ông.
Cuối thập niên 1930, Văn Cao xuất
hiện như một con người lạ lẫm trong lịch sử văn nghệ nước nhà. Bằng tài
năng nghệ thuật đa dạng như là một hợp lưu của ba nhánh nghệ thuật văn
chương - âm nhạc - hội họa, Văn Cao tài hoa đă sớm có những thành tựu
ngay từ độ tuổi mười sáu đôi tám, nhất là về âm nhạc. Có thể nh́n thấy ở
sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao hai khuynh hướng sáng tác rơ ràng: giai
đoạn đầu là khuynh hướng t́nh ca với những ca khúc lăng mạn trữ t́nh và
giai đoạn hai là khuynh hướng hùng ca với những bài hành khúc hùng hồn,
đầy phấn chấn.
Ḍng chảy của sáng tạo nghệ thuật âm
nhạc đột khởi, bùng phát từ một con người có tài năng bẩm sinh với các
tác phẩm t́nh ca tràn đầy cảm xúc diệu kỳ, không đi vào khuôn thước ngay
từ bước đầu của nền tân nhạc. Khi tuổi c̣n quá trẻ, ở tuổi mười sáu Văn
Cao đă viết “Buồn tàn thu” (1939), một ca khúc lăng mạn, một sáng
tác trữ t́nh tuyệt mỹ. Văn Cao đă sử dụng thang âm ngũ cung để viết về
một h́nh ảnh mang tính chất cổ điển: người phụ nữ đan áo ngồi chờ chồng.
Đây là sáng tác đầu tay của một chàng tuổi trẻ mới bước chân vào đời mà
đă mang cảm thức già dặn về sự mất mát trong t́nh yêu, sự cô đơn khi
người xưa không c̣n, với ca từ thấm đẫm nỗi niềm nhung nhớ, khổ đau…
Dường như cảm xúc của chàng đă chín hơn độ tuổi của ḿnh:
"Người ơi! c̣n biết em nhớ mong
T́nh xưa c̣n đó xa xôi ḷng
Nhờ bóng chim uyên nhờ gió đưa duyên
Chim với gió bay về chàng quên hết lời thề...
Thôi t́nh em đấy như mùa thu chết rơi theo lá vàng”.
Ngay từ ca khúc đầu tiên này, ta thấy Văn Cao đă dùng từ “mùa thu chết”
trước cả Phạm Duy hàng chục năm. “Buồn tàn thu” được nhiều người biết
đến, được biểu diễn trên các sân khấu trong những năm đầu thập niên
1940. Người đă đem “Buồn tàn thu” đi gieo rắc nỗi niềm đó chính là Phạm
Duy, giọng ca trong gánh hát Đức Huy thời ấy, người bạn đă hết lời ca
ngợi Văn Cao. Tiếp đó là danh ca Thái Thanh - giọng hát như hút hồn
người nghe vào câu chuyện t́nh buồn thương đầy nước mắt.
Sau “Buồn tàn thu”, Văn Cao viết “Thiên thai”. Trong bài
hát này, Văn Cao kể lại sự tích hai chàng trai Lưu Thần và Nguyễn Triệu
đi lạc vào đường lên Thiên thai. Cảnh đẹp thiên nhiên đă cuốn hút hai
chàng:
“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Ḱa đường lên tiên, ḱa nguồn hương duyên
Theo gió tiếng đàn xao xuyến”…
Trong thiên nhiên tuyệt đẹp ấy, hai chàng gặp tiên nữ rồi cùng hai nàng
kết duyên thành vợ chồng, sống bên nhau đầm ấm trong tiếng nhạc nghê
thường say đắm:
“Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc t́nh duyên”.
Sau khi ở cảnh tiên một thời gian th́ hai chàng chợt nhớ quê nhà, muốn
về thăm. Khi trở lại quê hương th́ cảnh vật hoàn toàn đổi khác, hỏi ra
mới biết đă bao nhiêu đời đă đi qua. Người xưa không c̣n ai, ḷng buồn
vô hạn, hai chàng t́m đường trở lại nhưng than ôi, đường xưa lạc lối nên
không t́m được cơi tiên nữa. Từ đó người ta chẳng c̣n thấy h́nh bóng hai
chàng nơi nao.
Thế giới thần tiên đầy diễm tuyệt đúng là niềm ước vọng bất tận, nỗi
thèm khát vĩnh cửu của con người:
“Thiên thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần”…
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
T́m Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?”…
(Thiên thai, 1941)
Sau đó Văn Cao có “Bến xuân” viết chung với Phạm Duy, về sau ông
viết thêm lời mới cho ca khúc này và đặt tên “Đàn chim Việt”:
“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân
Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ú ù u ú
Cành đào hoen nắng chan ḥa”…(1942)
Tiếp nối mạch cảm hứng lăng mạn, Văn Cao viết thêm ca khúc cũng lấy đề
tài mùa thu quen thuộc trong thơ nhạc thời ấy, nhưng ở đây tâm hồn người
nghệ sĩ mang nỗi buồn cô độc và ngoại cảnh th́ nhuốm vẻ hoang lạnh, đ́u
hiu:
“Thu cô liêu, tịch liêu
Cô thôn chiều ta yêu thu, yêu thu, yêu mùa thu.
Vàng hoen đáy nước soi rơ đường đi
Một mùa thu, một mùa thu
Lá rơi, rơi rụng buồn chi lá vàng”...
(Thu cô liêu, 1942)
Đôi khi người nghệ sĩ hồi tưởng những ngày quá văng, thương tiếc người
ra đi đă để lại nỗi buồn trống vắng khôn nguôi. Một nhịp luân vũ nhẹ
nhàng trong nỗi niềm u uất của ca khúc:
“Hồn cầm phong sương h́nh dáng xuân tàn
Ngày dần buông trôi sầu vắng cung đàn
Từ người ra đi chờ vắng tin người
Từ người ra đi là hết mơ rồi”...
(Cung đàn xưa, 1942)
Sau đó lại thêm một khúc ca dịu dàng, êm ái vang lên đầy cảm hứng lăng
mạn của chàng trai trẻ, cũng với khung cảnh của mùa thu:
“Suối mơ! Bên rừng thu vắng
Gịng nước trôi lững lờ ngoài nắng
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương”...
(Suối mơ, 1942)
Một câu chuyện t́nh diễm lệ khác được NS Văn Cao kể bằng những giai điệu
tuyệt đẹp. Chuyện kể ngày xưa có nàng Mỵ Nương xinh đẹp tuyệt trần. Nàng
sống cô đơn trong cảnh trướng phủ màn che nhưng ḷng luôn buồn bă. Cha
nàng cho xây một căn nhà nhỏ bên bờ sông, hằng ngày nàng ra đó để thêu
thùa, đọc sách, nhất là để nghe tiếng sáo của chàng Trương Chi, một
thanh niên làng chài ven sông:
“Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Vương vất heo may hoa yến mong chờ
Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ”…
Bỗng một thời gian Mỵ Nương không c̣n nghe tiếng sáo, v́ quá thương nhớ
tiếng sáo mà sinh bệnh. Không có ai chữa được bệnh của nàng.
“Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
Ḥ khoan mơ bóng con đ̣ trôi
Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi,
Lả lơi bên trời”...
Mỵ Nương nghe thấy tiếng sáo quen thuộc th́ khỏi bệnh, xin được gặp
người thổi sáo. Mỵ Nương vô cùng thất vọng v́ dung mạo của chàng. C̣n
Trương Chi thầm yêu trộm nhớ Mỵ Nương nhưng không được đền đáp. Chàng
thất vọng và đau buồn, mang bệnh tương tư, rồi sầu héo dần mà chết. Kết
thúc câu chuyện, Văn Cao gieo một nỗi buồn nhân thế:
“Đàn đêm thâu trách ai khinh nghèo quên nhau
Đôi lứa bên giang đầu
Người ra đi với cuộc phân ly
Đâu bóng thuyền Trương Chi?”.
(Trương Chi, 1943)
Sau này khi trả lời câu hỏi của ca sĩ Ánh Tuyết, Văn Cao trả lời ngắn
gọn trong năm chữ: “Trương Chi, chính tôi đấy”. Bài hát đă phản
ảnh cuộc đời và tâm hồn của ông. Mỗi tác phẩm là một khúc tâm t́nh được
dệt bằng những âm thanh tuôn chảy từ một tâm hồn nhạy cảm với nhiều sắc
màu của từng giai điệu du dương hay sầu năo, tất cả tạo thành một thế
giới khi th́ diễm ảo của mộng mơ hay một thực tại đau đớn, xé ḷng.
Nh́n lại những sáng tác lăng mạn trữ t́nh của Văn Cao, ta thấy quăng
thời gian sáng tác này không dài, chỉ vài năm từ 1939 đến 1944, để rồi
sau đó với những biến đổi phức tạp của thời cuộc đă ảnh hưởng đến cuộc
đời ông và tạo một bước ngoặt thay đổi khuynh hướng sáng tác của Văn
Cao. Thật ra khi c̣n ở Hải Pḥng, Văn Cao đă tham gia phong trào hướng
đạo của nhóm Đồng Vọng, lúc này ông có viết bài ca cho phong trào:
“Anh em khá cầm tay, mau đến cùng nhau hát nhé
Nơi đây chúng ḿnh ca, trong gió ḥa êm êm
Bao nhiêu gió về đây, chim chóc về đây hót nhé
A vui sướng làm sao, ta ngó trời xanh êm.
Mà ca hát cười nô, không biết chi buồn
Đời trần gian chắc là thắm tươi, trời xanh ngát từng cao
Nh́n chúng ta cười, Này này sao các người vui thế?”
(Anh em khá cầm tay)
Ông bắt đầu chuyển sang sáng tác những bài hùng ca rực lửa đấu tranh cổ
vũ cho cuộc kháng chiến của dân tộc chống thực thực dân Pháp. Tâm hồn
ông cũng bày tỏ nhiệt thành của một chàng trai 23 tuổi khi đứng cùng
chiến tuyến đấu tranh giành độc lập của lớp thanh niên yêu nước.
Cuối năm 1944, Văn Cao làm việc tại báo Độc Lập. Thời gian này ông gặp
lại Vũ Quư, một cán bộ Việt Minh mà ông đă quen biết trước đó. Vũ Quư
thuyết phục ông tham gia Việt Minh và sáng tác một ca khúc cho lớp quân
chính đầu tiên ở chiến khu. Văn Cao lúc ấy chưa biết chiến khu là ǵ,
cũng chưa quen biết những người hoạt động cách mạng, ông chỉ biết những
con đường Hà Nội mà ông thường đi qua, vậy mà vẫn bắt tay viết ca khúc
đó chỉ trong vài ngày tại căn gác số 171 phố Mongrant (nay là số 45 phố
Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội). Khi viết xong phần nhạc, Văn Cao đưa cho
người bạn tên Đỗ Hữu Ích (bí danh là Hoàng Thoái) viết lời, hai người
cùng xem lại và thế là hoàn thành bài hát, họ đặt tên cho tác phẩm là “Tiến
quân ca”. Ban đầu bài hát có tính chất trang nghiêm, nhịp điệu chậm
răi v́ là một bài chính ca, được in trên báo Độc Lập tháng 11-1944. Ngay
từ khi ra đời, bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt
Minh. Bài hát có hai lời như sau:
Lời 1:
Đoàn quân Việt Minh đi, chung ḷng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Súng đằng xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù
Thắng gian lao đoàn Việt lập chiến khu.
Thề phanh thây uống máu quân thù
Tiến mau ra sa trường. Tiến lên!
Cùng thét lên! Chí trai là đây nơi ước nguyền!
Lời 2:
Đoàn quân Việt Minh đi, sao vàng phất phới
Dắt giống ṇi quê hương qua nơi lầm than.
Cùng chung sức kiến thiết xây đời mới
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Dù thây tan xương nát khôn sờn
Gắng hy sinh đời ta tươi thắm hơn
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn
Vũ trang đâu lên đường! Hỡi ai
Ḷng chớ quên! Bắc Sơn cùng Đô Lương, Thái Nguyên.
(Tiến quân ca, nhạc Văn Cao & lời Đỗ Hữu Ích, 1944)
Ngày 13-8-1945, tại Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, chính phủ lâm thời đă
chọn bài hát này làm quốc ca, được hát trong cuộc tuần hành ngày
17-8-1945. Trong khóa họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa năm 1946, “Tiến quân ca” mới chính thức được chọn làm quốc ca.
Lúc này bản quốc ca được nhiều nhạc sĩ và tác giả chỉnh sửa một số lời
mới so với bản gốc, phần nhạc cũng có sửa đổi ở ô nhịp đầu tiên của bài
hát (Văn Cao ban đầu viết 3 phách, nhưng cuối cùng bị sửa lại c̣n một
phách rưỡi), nhịp điệu nhanh và hùng tráng hơn để trở thành một hành
khúc. Ở câu đầu bài hát, hai chữ “Việt Minh” được đổi thành “Việt Nam”.
Câu cuối bài hát được đổi thành “Nước non Việt Nam ta vững bền”. Câu này
nguyên văn trước đó Văn Cao viết là “Núi sông Việt Nam ta vững bền”, sau
đó một quan chức văn hóa cao cấp sửa hai chữ đầu tiên thành “Nước non”.
Tuy vậy Văn Cao thích hai chữ “Núi sông” v́ cho rằng nó hay hơn hai chữ
“Nước non”. Ở lời ca 2, câu “Cùng chung sức kiến thiết xây đời mới” Văn
Cao thích hai chữ “kiến thiết” nhưng sau đó bị sửa thành “phấn đấu”.
Cuối cùng lời của quốc ca như được hát hiện nay:
“Đoàn quân Việt Nam đi, chung ḷng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca”...
Từ đây cảm hứng của hùng ca ngày càng xâm chiếm tâm hồn Văn Cao. Ông
sáng tác mạnh mẽ khi nhập cuộc với đội ngũ yêu nước của ḿnh, dù chưa
phải là đảng viên cộng sản. Một loạt hùng ca tiếp nối ra đời: “Chiến
sĩ Việt Nam” (1945), “Hải quân Việt Nam” (1945), “Không
quân Việt Nam” (1945), Công nhân Việt Nam (1945), Bắc Sơn
(1945).
Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời…
(Chiến sĩ Việt Nam)
“Ôi c̣n đâu đây sắc chàm pha màu gió
Đau ḷng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng
C̣n vang khe núi tiếng quân oai hùng:...
(Bắc Sơn)
Vào thời gian ấy, Văn Cao có chuyến đi lên Việt Bắc. Ông đă chứng kiến
những xóm làng ven sông bị địch đốt phá và cảm nhận những niềm vui trên
khuôn mặt người dân sau chiến thắng sông Lô. Những cảm xúc dâng tràn
trong ḷng nhạc sĩ khiến Văn Cao đă viết nên “Trường ca Sông Lô”,
một khai phá mới cho thể loại trường ca. Mở đầu là giai điệu dàn trải
với một t́nh cảm xót xa nhưng không bi lụy:
“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc
Băi dài ngô lau núi rừng âm u
Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc
Ch́m một màu khói thu”…
Nếu đoạn nhạc mở đầu khoan thai với cung re trưởng vừa chấm dứt th́ tác
giả chuyển đoạn sang cung sol trưởng với tiết tấu nhanh, rộn ră:
“Trên ḍng sông trở về đoàn người
Reo mừng vui trên sóng nước biếc
Trôi đầy sông bao đám xác thù
Dân hân hoan nghe sóng réo vi vu xa xa”…
Bằng những giai điệu như những đường nét hội họa, tác giả phản ánh trung
thực cuộc chiến đấu tưởng như đang xảy ra trước mắt với tất cả t́nh cảm
hăng say đầy khí phách của người chiến sĩ:
“Thây giặc trôi trở về ngập bờ
Sông gầm vang tiếng súng trái phá
Bao rừng thu như bát ngát cười
Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công
Tiếng trái phá quân thù ngập ch́m ḍng Lô”…
Câu nhạc đến đây chậm dần để chuẩn bị một chuyển doạn khác. Từ cung sol
trưởng tác giả đưa đoạn nhạc sang cung si trưởng một cách khéo léo, tài
t́nh:
“Đây ḍng Lô, đây ḍng Lô
Đoàn quân thời chinh chiến ca rằng:
Đây Volga, đây Dương Tử, đây sông Lô
Đây sóng căm hờn vút cao
Sóng lấp lánh vàng sao, ngàn chiến sĩ sông Lô
Chiến sĩ sông Lô thân rừng áo sương đang ca rằng
Giờ mồ thực dân, sóng lấp cát vàng
Chiến sĩ sông Lô oai hùng
Đấu tranh gào kêu vang sóng
Đây giặc Pháp tàn trong căm gan toàn dân”...
Để khắc họa cảnh thê lương sau cuộc chiến đấu, tác giả cho câu nhạc chậm
dần và trở về cung si thứ để rồi ngay sau đó khi mô tả cuộc sống vui của
người dân, giai điệu rộn ră trở lại và đoạn nhạc trở về cung si trưởng:
“Sông Lô đang xuôi mau
Tin về đồng lúa reo mừng
Rung trong bao hương nồng
Mừng một mùa chiến công”...
Để kết thúc trường ca, tác giả bày tỏ niềm kiêu hănh và tự hào về ḍng
sông Lô lịch sử. Âm nhạc trở về với cung re trưởng chủ đạo của bài ca:
“Ḍng sông Lô trôi, ḍng sông Lô trôi
Mùa xuân tới nước băng qua ngàn
Nước in ven bờ xanh ôm bóng tre
Ḍng sông Lô trôi”.
Phạm Duy viết: "Đó là tác phẩm vĩ đại... chẳng thua bất cứ một tuyệt
phẩm nào của nhạc cổ điển Tây phương... Bài này đánh dấu sự trưởng thành
của Tân nhạc". Theo ông, Trường ca sông Lô phải là đỉnh cao nhất của
nhạc kháng chiến nói riêng, của tân nhạc Việt Nam nói chung và Văn Cao
là "cha đẻ" của hùng ca, trường ca Việt Nam.
Năm 1949, nhạc sĩ Văn Cao đă viết thêm bài hùng ca mô tả không khí oai
hùng khi đoàn quân kháng chiến trở về Hà Nội:
“Trùng trùng quân đi như sóng
Lớp lớp đoàn quân tiến về
Chúng ta đi nghe vui
Lúc quân thù đầu hàng
Cờ ngày nào tung bay trên phố”…
(Tiến về Hà Nội)
Cuối năm 1949, Văn Cao thôi làm báo Văn Nghệ, ông chuyển về Đoàn Nhạc sĩ
Việt Nam. Năm 1952, ông sang Liên Xô nghiên cứu về âm nhạc. Sau hiệp
định Genève 1954, ông hồi cư về Hà Nội, làm việc cho Đài Phát thanh,
nhưng rất ít sáng tác. Năm 1956, ông cầm bút viết bài cho đặc san Giai
Phẩm. Ông bị kỷ luật, phải đi học tập chính trị vào tháng 7-1958 và
không c̣n xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ nữa. Vốn là người có tính
khép kín, trầm tư, ít bộc lộ bản thân, giờ đây bị cơn hoạn nạn phủ bóng
tối bi thảm lên đời ông, ông lại càng sống thầm lặng và cô độc hơn. Đây
là những tháng ngày Văn Cao sống như một chiếc bóng hiu hắt bên đời. Tác
phẩm cuối cùng của ông là “Mùa xuân đầu tiên”, nhưng lại bị phê
b́nh và không được hát trong nhiều năm. Đến cuối thập niên 1980, các tác
phẩm của Văn Cao mới được biểu diễn trở lại. Ông qua đời ngày 10-7-1995
tại bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội.
Giấc mơ một đời người của ông phải đợi đến năm 2023 mới trờ thành hiện
thực, nhưng buồn thay, ông đă là người thiên cổ khi mọi người kỷ niệm
100 năm ngày sinh của một nhạc sĩ lớn của nền tân nhạc Việt Nam.
Nguyễn Phú Yên
|