Sổ tay thường dân

Bắt trẻ đồng xanh 

Tưởng Năng Tiến

 

 

  

         

Phong sương mấy độ qua đuờng phố
Hạt bụi nghiêng ḿnh nhớ cố hương.

Sơn Nam
 

- Chú Horwitz à, có khi nào chú đi ngang cái hồ ở Central Park không vậy?
- Cái ǵ?
- Cái vũng nước bự thiệt bự, coi giống như cái hồ nhỏ đó mà. Không biết mấy con vịt rồi tụi nó đi đâu há?
- Vịt ǵ cà?
- Th́ bầy vịt  hay bơi ḷng ṿng trong đó chớ vịt ǵ? Mùa Xuân không nói làm chi chớ c̣n mùa Đông kẹt dữ à nha? Lạnh ngắt như vậy sống ǵ nổi? Rồi tụi nó bỏ đi đâu ta?
- Mà cái ǵ bỏ đi đâu mới được chớ ?
- Trời đất, mấy con vịt chớ cái ǵ. Ư tui muốn nói là có thằng cha nào mang xe chở tụi nó đi chỗ khác không? Hay tụi nó bay ênh về phía Nam vậy thôi?
Ông Horwitz quay người lại nh́n tui chằm chằm. Chả nóng tính dễ sợ:
- Ai mà biết. Làm sao tao biết được mấy cái chuyện mẹ rượt đó?
Chắc tui đă nói cái ǵ đó mích ḷng ổng:
- Th́ tui cũng hỏi chơi vậy thôi chớ có ǵ đâu mà chú nổi nóng..
- Ai nổi nóng? Có ai nổi nóng ǵ đâu?

Mẫu đôí thoại đại khái như trên, tôi đọc trong cuốn The Catcher in the Rye của J.D. Salinger- cách đây chừng ba mươi năm. Thưở ấy, tôi c̣n sống ở Đà Lạt. Nơi đây, chắc nhiều thành phố khác ở Việt Nam cũng vậy, chim chóc không có mấy. Quanh quẩn trong tuổi thơ của tôi chỉ có vài loại chim quen thuộc: se sẻ, bồ câu, chàng làng, chào mào, én, quạ, và thấp thoáng đôi chim gi, chim cu hay chim sáo.

Gà vịt th́ thường chỉ xuất hiện ở trên...bàn, sau khi chúng đă trở thành thực phẩm. Thản hoặc, mới thấy một hai đôi ngỗng hay dăm bẩy con ngan cùng với gà vịt nuôi quanh quẩn trong sân - nếu có dịp đi ra ngoại ô thành phố. Và những dịp đó không nhiều.

Nói hơi quá ra một chút th́ những năm tháng niên thiếu của tôi có phần hơi héo úa. Đêm nào thành phố cũng giới nghiêm. Khuya nào tôi cũng nghe tiếng súng, đôi khi cùng với tiếng bom, từ những thôn ấp rất gần thành phố. C̣n chuyện giật ḿn, đắp mô những con đường dẫn ra ngoại ô hay liên tỉnh - đôi lúc - vẫn xẩy ra.

Bởi vậy khi thời thơ ấu đă qua đi, khi hồ Xuân Hương và những đồi thông quanh Đà Lạt bắt đầu nhỏ lại, tôi thu hẹp những ngày vừa lớn của ḿnh trong những quán cà phê quen thuộc của thành phố: Tùng, Phi Nhạn, Kiwini... Và đó là lư do tại sao h́nh ảnh của loài di điểu - những con vịt hay con ngỗng tầm thường vẫn sống quanh quẩn trong một công viên nào đó ở New York, đă có cơ hội vượt hàng ngàn dặm đường dài mỗi năm, đến những chân trời xa xăm ... - đă để lại trong tôi một ấn tượng sâu xa.


Ba mươi năm sau, có hôm, tôi đọc được một đoạn văn khác nữa về loài di điểu: "Ngỗng Gia Nă Đại sinh nở tại những đầm những hồ ven các đồng lúa bát ngát miền Alberta và Saskatchewan, mùa thu rủ nhau cả ngàn bay về miền nam trốn cái lạnh khắc nghiệt... Nhưng không quên gốc nguồn, xuân tới chúng lại tập hợp thành đàn và qui cố hương. Cái ấm áp của miền Nam không thể cướp được luôn đàn ngỗng có t́nh. Điều kiện sinh sống chỉ cần bớt khắc nghiệt đôi chút là ngỗng lại bay về cố hương." (Mai Kim Ngọc, "Câu Chuyện Bảo Tồn Văn Hóa," Văn Học, tháng 10, 97).

Bây giờ th́ tôi cũng đă xa Việt Nam không phải hàng ngàn mà là hàng vạn dặm. Nơi tôi tạm trú, khi thời tiết bắt đầu trở lạnh, mỗi ngày vẫn có cả ngàn con ngỗng xuôi Nam - làm vang vọng cả bầu trời mùa Đông xám đục bằng những tiếng kêu buồn buồn thê thiết.

Cũng qua bài báo đă dẫn, nhà văn Mai Kim Ngọc c̣n đề cập đến một hiện tượng kỳ bí và ngoạn mục hơn nữa của thiên nhiên: "Đó là chuyện bướm, một loại bướm nổi danh, cũng của Gia Nă Đại. Tên bướm là Monarch Butterfly, tạm dịch là Vương Điệp. Mỗi mùa thu, bướm tụ họp hàng triêu con tại những nội cỏ miền Tây Gia Nă Đại, nhởn nhơ vài ngày với những bông hoa dại cuối mùa, rồi theo một hiệu lệnh bí mật chỉ loài bướm biết, chúng đồng loạt cất cánh suôi Nam. Mảnh dẻ thế mà chúng bay xấp xỉ ba ngàn cây số, dọc hết Hoa Kỳ, băng qua Trung Mỹ để xuống tận Nam mỹ. Xuân tới, chúng lại tập họp cùng nhau bay trở lại Gia Nă Đại. Trên dường hồi hương, chúng dừng lại nhiều trạm, mỗi trạm khá lâu, đủ để cặp đôi và đẻ trứng. Đời bướm ngắn hạn, những con bướm khởi hành mùa thu năm trước từ Gia nă Đại sẽ chết trên đường về, và không bao giờ được thấy lại cố hương. "

"Nhưng từ mớ trứng đẻ tại những đồng cỏ dọc đường, hoặc dưới Mễ Tây Cơ hoặc tại Mỹ, những con sâu róm nở ra, tham ăn chóng lớn như tầm ăn rỗi. Trưởng thành chúng dệt kén chui vào để biến thành nhộng. Đủ ngày, nhộng thành bướm, cắn kén chui ra. Đàn bướm hậu sinh mới nở tại những vùng đất gọi là tạm dung, vừa kịp cứng cáp đă họp nhau lại để bay tiếp chuyến bay qui cố hương mà cha mẹ đă bỏ dở. Chúng bay về một gốc nguồn không phải sinh quán. Chúng bay về một nguyên quán chúng chưa từng thấy. Thường thường phải ba bốn thế hệ nối tiếp, bướm với hoàn tất lộ tŕnh hồi hương." Theo tác giả, đó là "một ṿng kín của sự sống. Ṿng kín này bản chất liên tục, vô thủy vô chung.

Đă lâu, tôi t́nh cờ đọc được một mẫu tin ngắn trên báo Nhân Dân - số ra ngày 3 tháng 10 năm 99, phát hành tại Hà Nội - như sau: "130 Chim Sếu Đầu Đỏ Về Khu Bảo Tồn Tràm Chim (Đồng Tháp). Năm nay, thời gian chim sếu về khu bảo tồn Tràm Chim cũng giống như năm trước, nhưng số lượng chim sếu đă giảm đi một nửa. Nguyên nhân sự giảm sút trên chưa được xác định. Được biết, năm 1998 vào thời cao điểm có tới 510 chim sếu đầu đỏ đă về Tràm Chim."

Cũng báo Nhân Dân, đúng mười ba tháng sau, số ra ngày 10 tháng 04 năm 2000, tiếp tục và thản nhiên loan tin:”Theo Ban Quản lư Vườn Quốc gia Tràm Chim, đến đầu tháng 4 năm 2000, đă có khoảng 300 con sếu đầu đỏ về kiếm ăn..., so với năm 1999 giảm 100 con…”

Tôi mường tượng đến h́nh ảnh của những đàn sếu đỏ đầu lượn ṿng ngập ngừng đôi ba lần trên một vùng đất hoang vu rồi vỗ cánh ...bay luôn mà không dưng (chợt) thấy năo ḷng. Chúng đă quyết định không trở lại nơi chốn cũ. Những con sếu mỏng mảnh bất hạnh rồi sẽ tiếp tục xoăi cánh đến tận đâu? Sang năm nữa, c̣n được bao nhiêu con chim sếu sẽ về Đồng Tháp? Bao nhiêu con khác nữa sẽ ră cánh ở những chân trời vô định? Và bao lâu nữa th́ quê hương tôi sẽ trở thành một nơi hoàn toàn hoang vắng v́ không sinh vật nào có thể sống được ở Việt Nam?

Khi cái ṿng sống liên tục vô thủy vô chung đó có một mắt xích bị hỏng, khi môi trường sinh thái ở một nơi nào đó bị mất quân bằng, có bao nhiêu sinh vật sẽ bị ảnh hưởng và bị ảnh hưởng tận cùng rốt ráo ra sao? Sự hiểu biết quá hạn chế của tôi về sinh vật học khiến cho những câu hỏi trên chỉ làm dài thêm cho những đêm khó ngủ.
Là người tôi cũng chỉ là một sinh vật tầm thường, yếu đuối, nhỏ bé như con chim, con bướm. Có thể tôi cũng được thiên nhiên qui định làm tṛn một cái ṿng sống vĩ đại nào đó nhưng đă không chu toàn đuợc điều này. Kiếp sống của tôi, không may, nằm trong một cái mắt xích bị hở .

Mùa Đông năm nay khí hậu ở California có vẻ bất thường, có nhiều đêm không dưng mà trời trở gió. Hen suyễn khiên tôi thức giấc. Nằm thoi thóp thở ở một góc trời xa lạ, tôi bỗng nhớ đến những con sếu đỏ đầu đă thôi về Đồng Tháp mà chợt thấy xót xa cho kiếp sống lao đao của những sinh vật kém may mắn hơn ḿnh. Tôi cũng đă quyết định không về và (may mắn) vẫn c̣n một nơi để ở. Số phận của những con sếu đầu đỏ ở quê hương tôi (chả hiểu) rồi sẽ ra sao?

 

 

THƠ VĂN

HOME