Đi với về: Cũng một nghĩa như nhau


Saturday, August 19, 2006
Du Tử Lê




Không biết, có phải, biến cố Tháng Tư, 1975, đă biến tôi từ một kẻ “vô thần,” trở thành người tin tưởng mănh liệt nơi đấng vô h́nh, vô tính, (mà,) chúng ta thường gọi là ông Trời, hay Thượng Đế? Điều tôi cảm nghiệm (là,) nếu tôi không tiễn gia đ́nh anh chị Quỳnh tôi, cùng gia đ́nh bác Lộc (hàng xóm của anh tôi;) (và,) em gái cùng hai cô cháu của bác Lộc ra bến Bạch Đằng, chiều ngày 29 Tháng Tư năm 1975... (th́,) hôm nay tôi c̣n không? Ở đâu? Thế nào?

Tôi không biết! Điều tôi c̣n nhớ được: Tôi không hề có ư định di tản. Hai ngày trước đó, buổi trưa, tôi c̣n ngồi ăn với nhà văn Mai Thảo ở một nhà hàng sau khu nhà Chú Hỏa. Chúng tôi c̣n nói với nhau rằng, nhà văn, trường hợp nào, cũng không thể bỏ nước ra đi. V́, chữ nghĩa chỉ có giá trị, ư nghĩa khi nó được sống, thở trong môi trường của dân tộc ấy. Ra khỏi ḷng dân tộc, chữ nghĩa chỉ là những xác chết!?!

Điều tôi c̣n nhớ được: Là kẻ tiễn người đi, tôi h́nh dung ḿnh sẽ đứng ở cầu tầu, ngước mặt, vẫy tay anh, chị và các cháu tôi xa, ĺa đất nước. Tôi đâu ngờ, khi c̣n khá xa cầu tàu, hàng ngàn người đă bị chặn lại bởi những con ngựa kẽm gai và, cả trung đội quân cảnh hải quân gh́m súng, nhắm thẳng vào đám người lúc nhúc, cùng đường. Họ đỏ mắt, tuyệt vọng, thèm thuồng nh́n những kẻ may mắn có thân nhân là lính hải quân, từ trong Bộ Tư Lệnh, ra đón... Người em rể của bác Lộc (một thượng sĩ hải quân,) là kẻ có quyền... “thưởng / phạt” ấy. Tới giờ hẹn, ông chạy chiếc mobilette ra hàng rào kẽm, xác nhận với những người lính quân cảnh: Ông chỉ đón vợ và, hai người con gái của ông.

Những người lính quân cảnh hải quân kéo ngựa kẽm gai, cho ba người này vào; trước sự ngỡ ngàng, và, loạt súng cảnh cáo, bắn nà trên đầu đám người bị bỏ rơi, ngay khi họ vừa sấn tới...

Tôi không hiểu điều ǵ khiến định mệnh nổi hứng tinh nghịch, mỉm cười với tôi - Bằng cách chỉ cho người chỉ huy an ninh bến Bạch Đằng giờ phút đó, Trung Tá Xuân, thấy tôi. Ông lại gần, với nụ cười (giống như nụ cười của định mệnh!) Nụ cười và, những lời thăm hỏi thân t́nh, biến tôi từ kẻ tiễn người ra đi, thành kẻ dẫn đường cho gia đ́nh anh tôi, bác Lộc và, bám theo, nhiều thanh niên khác...

Sau đó, những ngày lênh đênh trên biển, những ngày nằm trong lều vải, nghe gió, cát rát mặt ở đảo Guam, tôi chợt cảm nghiệm, dường như mọi chuyển biến, nhỏ nhặt như buồn / vui; lớn lao như thành / bại, sống / chết không hề bị chi phối, điều động bởi hai chữ “t́nh cờ,” may / rủi. Mọi biến chuyển, theo tôi, dường đă được lập chương bởi ông Trời, hay “Đấng Một.”

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” một đêm cuối tuần, mùa Đông, 1992, trên sân khấu quán café Tay Trái, ở thành phố Santa Ana, nhạc sĩ Trần Duy Đức xuất hiện. Đức tŕnh bày một số ca khúc phổ từ thơ của tôi (thời chưa quen biết.) Đó là những sáng tác Đức viết, khi c̣n rất trẻ. Khi Đức là “lính thú,” đồn trú Pleiku núi, đồi, khói, sương, bụi đỏ.

Thời gian này, tôi đang làm tạp chí Nhân Chứng, tuần báo Tay Phải, cùng với Việt Dzũng, Lê Văn Hào, Đỗ Vẫn Trọn, Cao Đông Khánh, Trần Đ́nh Thục... Rất mau chóng, Trần Duy Đức trở thành một cộng tác viên đắc lực.

Sau đó, vai tṛ của Trần Duy Đức đối với sự sống c̣n của Nhân Chứng và Tay Phải c̣n mang tính “quyết định” hơn, khi Việt Dzũng phải trở lại Houston, cùng Lê Văn Hào dựng bảng World Printing. Đỗ Vẫn Trọn về San Jose, “khai phá” cánh rừng truyền thông, báo chí... c̣n quá hoang sơ (khi ấy.) Ít lâu sau, tới phiên Cao Đông Khánh quyết định đem gia đ́nh về Dallas (trước khi di chuyển về Houston,) hùn hạp với một người bạn, mở văn pḥng luật sư, chuyên lo bồi thường tai nạn xe cộ...

Anh em nói, hăy để họ “hùng cứ” mỗi người một phương. Mỗi người ra đi, sẽ là một “đầu cầu” cho tôi; cho số anh em c̣n lại, khi cơ nhỡ...

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi ngôi nhà đầu tiên của chúng tôi, ở Ranchero Way, Garden Grove, sớm trở thành... “nhà chung” của bất cứ anh em nào, cần tá túc. Đó là thời gian nữ ca sĩ Lệ Thu “gửi” Vơ Thạnh Đông cho tôi. “D́” Từ Hạnh “nhặt về” cho tôi, Lê Giang Trần. Trần Duy Đức “tha về” ṭa soạn, Đặng Thanh Phong... Đó cũng là thời gian nhà văn Mai Thảo từ giă tờ Đất Mới ở Seattle, về Nam Cali, trông coi tờ Hồn Việt cho Nguyễn Ngọc Tùng, ở Glendale.

Mai Thảo về Orange County không lâu, (th́,) một người bạn thân của ông, nhạc sĩ nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương, rời trại, đảo, đến Hoa Kỳ. Căn nhà đường Ranchero Way của chúng tôi, lại trở thành nơi gặp gỡ cuối tuần của Mai Thảo, Phạm Đ́nh Chương và, Nguyễn Cao Kỳ (một người bạn thân khác, của họ.)

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi Vơ Thạnh Đông chia tay tôi, đi “tỵ nạn t́nh cảm” ở New Orleans... Đặng Thanh Phong “ra riêng,” sau vài tháng được hăng Continental Airline, tuyển làm chuyên viên cơ khí, phi trường Los Angeles. Lê Giang Trần cũng t́m đến những khoảng trời cao, rộng để thỏa chí “b́nh sinh.”

Người c̣n lại, ở với nghiệp báo, ở với tôi lâu nhất, lại chính là chàng “lính thú” thư sinh ngày nào. Trần Duy Đức không chỉ ở với thăng, trầm của tờ Tay Phải, rồi tuần báo Nàng, (mà,) Trần Duy Đức c̣n ở với những sấp, ngửa, dập, vùi đời riêng, tôi nữa.

Tuy nhiên, cách ǵ, đó cũng là thời gian hạnh phúc nhất của chúng tôi: Khi Đức c̣n quá trẻ; và, tôi, tuổi bốn mươi, bước tới.

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi có một thời gian khá dài, căn nhà đường Ranchero Way, chỉ c̣n tôi Đức. Rất nhiều ngày tôi đứng bếp, làm cơm với hai món thịt kho và, trứng tráng... Buổi tối, ngồi dưới chùm đèn nơi chiếc bàn ăn thênh thang, chúng tôi vừa ăn, vừa cố mang lại cho nhau, những câu chuyện, như những lời an ủi (hay tự dỗ dành, phủ dụ,) cảnh đời đ́u hiu. chiếc bóng, của nhau. Nhưng, càng cố bao nhiêu, chúng tôi càng thấy rơ hơn chiếc bóng ḿnh, rớt, ngă trên mênh mông vắng, lặng; trên hoang phế, ê chề ghế trống. Những giây, phút không biết nói ǵ, chúng tôi đối mặt với trái núi im lặng. Cái im lặng ch́ chiết, đá tảng. Cái im lặng nổi rợn niềm quạnh vắng, heo hút thân phận, cảnh đời... Đôi lúc, tôi tưởng nghe được, hơi thở của nhau. Đôi lúc, tôi tưởng nghe được, cả sự nuốt xuống, nghẹn lại, của những hạt cơm gạch, ngói!?!

Đó là thời gian C. đem hai con về Pháp. Th. quyết định dứt khoát chia tay tôi, bằng cách cho biết, T. đă có bạn: Anh Kent! Đó cũng là thời gian T. H. hiện ra, như chiếc cầu vồng ngũ sắc, giữa chúng tôi. Nhưng cách ǵ, T.H. cũng không thể ở với tôi ngày, đêm liên lụy. H. có quá nhiều khó khăn. Những khó khăn của một người nạn nhân biển Đông. Những khó khăn của một tỵ nạn hết trợ cấp, ghi danh học lại; không học bổng; không đủ điều kiện vay tiền chính phủ...

Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nói, có dễ, đó là thời gian hạnh phúc (dù liu điu thất lạc) nhất của chúng tôi. Đó là thời gian tôi hoàn tất tập “Thơ T́nh / Love Poems;” tập truyện “Tan theo ngày nắng vội.” Thời gian ấy, Đức cũng cho thấy sức sáng tác sung măn - Điển h́nh là các ca khúc “Tan theo ngày nắng vội,” “Nhớ lại trong đêm nay;” (và,) “Khúc tháng chín” - Một trong những bài thơ đi ra từ cuộc t́nh nắng / mưa nghiệt ngă giữa tôi và T.H., một người con gái gốc Tiều Châu.

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi Trần Duy Đức gặp Lê Nguyệt Hạnh trong buổi ra mắt tập truyện “Tan theo ngày nắng vội,” do Việt Dzũng và Lê văn Hào, tổ chức ở Houston, cuối 1983 - T́nh yêu, như mầm cây trong cổ tích, vươn vai, thần tốc lớn theo chiều gió thổi. Đức viết ca khúc “Khi bắt đầu của tuổi ba mươi,” như quà “ra mắt;” hay, sính lễ đầu tiên, cho Nguyệt Hạnh...

Nếu tôi nhớ không lầm th́, chưa đầy một năm sau, tôi được yêu cầu là người hướng dẫn ông cụ thân sinh của Đức, qua Houston, đón Hạnh về làm dâu ḍng họ Trần.

Và, chưa tới hai năm, do tài quán xuyến, tính cần kiệm của Hạnh, họ mua được căn nhà ở đáy hẻm cụt La Vergn Way, thành phố Santa Ana.

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi ngôi nhà của Đức-Hạnh, mau chóng trở thành “nhà chung” cho rất nhiều anh em, khắp nơi, t́m về, dừng chân. Tôi nhớ địa chỉ kia, một thời, là địa chỉ thường trực của một Phạm Công Thiện, nhà văn - Nơi dừng chân ngắn hạn của một Từ Công Phụng, Vũ Thành An, nhạc sĩ - Một Tô Thùy Yên, thi sĩ - Một Anh Ngọc, “Frank Sinatra Việt Nam,” khi ông về California thu đĩa.

“Nhà chung” của Đức / Hạnh, cũng là nơi tôi có một thời gian khá dài, tá túc, “tỵ nạn!” Căn nhà đáy kiệt La Vergn nọ, cũng là nơi tôi tiếp tục những tuần báo của ḿnh, sau khi ra khỏi ngôi nhà Ranchero Way. Đó cũng là địa chỉ để T. liên lạc với tôi, khi T. c̣n kẹt ở Sài G̣n.

Nhưng, đáng kể hơn cả, với tôi, đó là quá nửa những bài thơ làm thành các tập như “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu,” “Đi với về, cũng một nghĩa như nhau;” và trọn vẹn “Trường khúc mẹ về biển Đông,” đă được viết xuống, tại địa chỉ ấy.

Sau này, ngôi “nhà chung” của Đức / Hạnh, cũng là nơi ghi nhận một thay đổi lớn của nhà văn Mai Thảo về lục bát tôi. Trong nhiều họp mặt đông đảo anh em, Mai Thảo, với ly rượu thường trực trên tay, bằng giọng, điệu rất... Mai Thảo, ông đă đọc và “b́nh luận” dí dỏm một số câu lục bát của tôi, ông thuộc, cho mọi người nghe.

(1) Điều này, cho thấy, ông không c̣n khó chịu, không c̣n“gai mắt,” lên án lục bát tôi, như những năm quê nhà, trước 1975; chỉ v́ tôi muốn cách tân thể lục bát!

(2) Tôi nghĩ, nên nói thêm rằng, ngôi “nhà chung” của Đức / Hạnh, cũng là nơi tôi viết bài thơ ngắn “Đi với về, cũng một nghĩa như nhau,” đề tặng Đức / Hạnh, giữa lúc t́nh yêu, hôn nhân của họ có dấu hiệu bị đe dọa bởi nhiều địa-chấn - ngộ-nhận! (Tự thân bài thơ ngắn ấy, cũng như phần số tôi, riêng, nhận lănh biết bao ngộ nhận!!!)

Với bài thơ ngắn kia, tôi chỉ muốn nhắc nhở Đức / Hạnh (sau khi đă nhắc nhở chính tôi,) rằng: Hạnh phúc hay khổ đau; gặp gỡ hay chia ĺa; thành công hay thất bại, may mắn hay bất hạnh; vinh quang hay nhục tủi... Thậm chí sống / chết, cũng chỉ là hai mặt của một đồng tiền nhân sinh; hay ṿng tṛn luân hồi không điểm đứt!?!

Tôi cũng không cho là “t́nh cờ,” khi t́nh yêu của Đức / Hạnh đem lại cho họ, hai đứa con: Đạo, khôi ngô. Nguyệt Lăm, có nhiều nét của những bức chân dung thiếu nữ, trong hội họa, khi chớm vào teenager. Nhưng, tôi thực sự chấn động, ngỡ ngàng, choáng váng khi hay tin Lăm mắc chứng bệnh buồn, vui bất thường - Danh từ chuyên môn là “bipolar;” ở tuổi mười lăm.

Tôi choáng váng, điếng, lặng, bởi tôi không thể h́nh dung, Lăm, đang từ một đứa trẻ tiềm tàng nhiều năng khiếu; bỗng trở nên vô cảm, trước mọi sự. Lăm của những bức tranh gây kinh ngạc nhiều người. Lăm với tiếng hát trời cho, được b́nh chọn là tiếng hát hay nhất của ca đoàn nhà trường. Lăm với những bài luận văn được mang đọc, nhiều lớp... Lăm, như thế - Lăm, là hy vọng, niềm hănh diện, không chỉ của Đức / Hạnh; (mà,) c̣n của ngôi trường đang học. Lăm, một sớm trở thành nạn nhân của một trong những vụ thiếu niên bạo động, sân trường. Đó là buổi sáng, Lăm bị định mệnh dắt tay tới trước hai nhóm học sinh thanh toán nhau, nơi hành lang. Máu người tung tóe. Máu người chảy thành ḍng nơi “locker” riêng, của Lăm. Và, niềm hy vọng, hănh diện của trường, giọt máu đi ra từ t́nh yêu của Nguyệt / Đức đă ngă xuống! Ngă xuống. Cái ngă xuống, th́nh ĺnh của một đọt măng mượt, mượt bị máu hỏa thiêu, cháy, nám!!!

Tôi hiểu, từ giây phút đó, tai họa đă gơ cửa căn “nhà chung” của Đức / Hạnh. Tôi hiểu, từ đó, Lăm trở thành nạn nhân, hay “tṛ chơi” tai ác, trong bàn tay tráo trở định mệnh. Tôi choáng váng, điếng, lặng, Đức nghe kể, hơn một lần, Đức hốt hoảng chạy đi t́m con. Thấy Lăm đứng hát say sưa, trước sự ngơ ngác của những người khách trong một tiệm bách hóa, bên cạnh tiệm cho thuê video của gia đ́nh, Đức đem con về. Mở cửa sau căn phố, bước ra khu để thùng rác, Đức bật khóc. Tôi hiểu, những giọt lệ hiếm muộn từ đôi mắt gập ghềnh bất hạnh, vơi, đầy tro, than của một người đàn ông trên năm mươi tuổi. Tôi hiểu, bởi v́, tôi cũng từng, (nhiều lần từng,) là người đàn ông khóc thầm, vụng, như thế. Khác chăng, chỉ ở nơi, tôi đă ngoài sáu mươi.


Bạn-tôi,

Khi ngồi xuống viết những ḍng chữ trên, như một kêu oan, một khiếu nại với Thượng Đế, về sự hàm hồ (mà,) định mệnh giáng xuống mái đầu trẻ thơ, Nguyệt Lăm - Tôi đă định sẽ ra khỏi “đơn khiếu nại,” bằng một bức thư gửi cho Đức / Hạnh. Nhưng, giờ tôi mới thấy: Không thể!!! Tôi không thể nói một điều ǵ, dẫu cho ngớ ngẩn, vu vơ, với Đức. Tôi không thể, ngay khi chỉ tôi, một ḿnh, với màn ảnh - Chỉ tôi, một ḿnh, những khuya khoắt, ngồi soi bóng chiếc. Tôi hiểu, đời sống, tai ương đă chẳng cho tôi chọn lựa nào khác hơn: Cuối đầu. Im lặng.


Bạn-tôi,

Từ đó, tôi hiểu, tôi không nên nói ǵ thêm, với Đức, về tính tráo trở, sấp / ngửa trên lộ tŕnh nhân sinh, mỗi đời kiếp. Tôi hiểu, tôi cũng không nên nói ǵ thêm, với Đức, về tính lăng loàn, trắc nết phần số; hoặc tính giảo quyệt của rủi / may; mất / c̣n duyên, nghiệp... Tôi nghĩ, Đức biết, tất cả những điều ấy. Có khi Đức c̣n thấu thị, hơn tôi, nữa.

V́ thế, bạn-tôi, có dịp, tôi xin hăy cho Đức / Hạnh biết, tôi yêu, quư lắm nhân cách của họ. Cái nhân cách làm thành bởi những ăn, ở thủy chung, trời, đất. Có dịp, tôi xin, bạn-tôi hăy nhắc Đức nhớ: Đức may mắn hơn tôi, nhiều lắm. Đức đừng quên, bẩm sinh, tôi vốn là đứa trẻ tật nguyền... Trưởng thành, tôi cũng có những đứa con tật nguyền. Trưởng thành, tôi c̣n có những đứa con xanh, nơn, nuột nà, chết sớm... Và, những đứa con, lâu rồi, không muốn thấy mặt cha!?! Trong khi, với Đức, Lăm vẫn c̣n đó. Một ngày kia, tôi tin, Lăm sẽ khỏi bệnh... (Như quá khứ, những Hemingway, những Van Gogh, từng mắc chứng bệnh giống Lăm, cũng đă khỏi.)


Bạn-tôi,

Tôi cũng xin, có dịp, bạn-tôi, hăy cho Đức biết, những ngày, tháng chúng ta cùng nghe ca khúc Trần Duy Đức. Những ca khúc đầy bóng cây (và,) tiếng hú thống thiết của những con gió tâm tưởng, băng băng vực, đèo đời ta, dốc ngược. Những con gió trong bối cảnh “như núi sớm hao gầy - và ḍng sông sớm cạn - Bây giờ mùa mưa luôn thánh thót vườn đời ta - thánh thót vườn đời ta...” Hoặc “à như con thú đă bạt khỏi rừng - đă chạy cuồng về cuối biển - bây giờ nơi những dấu chân quen - có chút ǵ tội nghiệp...” Nhưng một khi “thương nhớ đă như cây” - Th́ chúng “sẽ phải c̣n lớn măià” Và, “nơi cuối mỗi cuộc đời - xin người phải tin: Trái tim ta với những lời nói thật...” (Đời măi ở phương Đông, nhạc Trần Duy Đức.) (3)

“Những lời nói thật” của âm nhạc Trần Duy Đức, như “những lời nói thật” trong các ca khúc của một Phạm Đ́nh Chương (đă khuất,) một Từ Công Phụng, Đăng Khánh, Anh Bằng, Nguyên Bích, Vũ Thành An, Nguyễn Linh Quang... (rất xa),) từng làm chúng ta quặn, thốn gan, ruột...

Bạn-tôi, tôi muốn nói, cách ǵ, những khuôn nhạc, những âm giai mang tên Trần Duy Đức (và, những người tôi vừa kể,) cũng đă là những chủng tử gieo, cấy trên bờ, luống tâm hồn, thần thức ta. (Những t́nh sâu, những nghĩa nặng bạn-tôi dành cho tôi, tôi nghĩ, cũng là chủng tử!) Những chúng tử, theo tôi, chính là dấu, vết nhận dạng, để ta t́m nhau trong đời sau hay, kiếp khác.


Bạn-tôi, có dịp, tôi xin hăy nhắc Trần Duy Đức, (và, luôn cả bạn-tôi nữa,) những điều tôi nói hôm nay, ở đây. Những điều tôi trích ra từ ḍng nhạc Trần Duy Đức (cũng hôm nay, cũng ở đây,) là “những lời nói thật!” Những lời nói của người đă già! Một người, đang cuối, kiếp!


Bạn-tôi, nếu cuộc đời không c̣n cho chúng ta cơ hội cùng nghe “những lời nói thật,” nhưng, có dịp, tôi vẫn xin bạn-tôi, nhắc nhở Đức / Hạnh: Cách ǵ buồn / vui; hợp / tan; sinh / tử... cũng chỉ là hai mặt của một đồng tiền chuyển hóa. Như “đi với về, cũng một nghĩa như nhau!”


Cho nên, bạn-tôi, cho phép tôi được viết những ḍng cuối cùng của bài viết này, cho bạn-tôi. Những ḍng cuối, hiểu theo nghĩa như những giọt lệ sót lại, trong tôi, những ngày nằm bệnh. Những ngày “đợi chết,” tôi thấy, kẻ nào, cuối cùng, cũng chỉ là một sinh vật tội nghiệp, lẻ loi, liu điu t́m về nấm mộ, riêng ḿnh.

Lại nữa, ngày nào, sau khi tôi chết, có dịp, tôi vẫn xin bạn-tôi, đừng quên nhắc nhở Đức / Hạnh, cái ư nghĩa tận cùng, ư nghĩa đằng sau câu thơ “đi với về, cũng một nghĩa như nhau” (mà,) tôi từng tặng họ.

Và, rốt ráo, cũng xin bạn-tôi, đừng quên đọc thầm cho tôi, câu thơ trên, những khi bạn-tôi thảng hoặc dềnh, dâng chút tưởng, nhớ tôi, kẻ không c̣n, nữa!!!!!


Du Tử Lê


(1) (Aug. 06.)

(2) Đọc thêm Lê Văn: “Hứng nhạc trong thơ Du Tử Lê” - Du Tử Lê, Tác giả & Tác phẩm,” tập IV. H.T. Productions, Calif., USA, ấn hành 2000.

(3) Đọc thêm Nguyễn Hưng Quốc: “Nghĩ về thơ.” Nhà xuất bản Văn Nghệ, Calif., USA, ấn hành, 1989.

Nghe thêm Trần Duy Đức, CD: “Em hiểu v́ đâu chim gọi nhau.” Nguyệt Lăm Productions, Calif., USA, thực hiện, 1992.