V́ ham cái vé máy bay hạ giá, tiết kiệm
được mấy chục đồng cho mỗi người , mà chúng
tôi làm một chuyến du lịch qua Nhật. Kết quả
là đắt hơn vài ngàn, cho cả hai vợ chồng,
nếu so với giá vé và chi phí của các hăng du
lịch tổ chức. Lại chỉ đi được một ít nơi mà
thôi.
Ban đầu,
chúng tôi muốn đi thăm vùng thủ đô Tokyo cho
biết, nhân tiện thăm thêm hai gia đ́nh anh
em chú bác, cô cậu cũng ở trong thành phố
nầy. Sau khi mua vé máy bay xong, bà xă tôi
lục internet liên mạng, t́m được vô số dữ
kiện về khách sạn, đường xe điện, đường xe
buưt, có kèm giá cả và chỉ dẫn, và in ra cả
bản đồ xe điện ngầm, xe buưt có màu sắc sặc
sỡ. Có ghi rơ từng khu, từng ga xe, hướng
dẫn cách đi đến từng khách sạn, đi theo
hướng nào, mấy ngă tư th́ quẹo trái, quẹo
phải . Bản đồ có ghi bằng chữ Latin chứ
không phải toàn thứ chữ chấm phết như bùa
chú của Nhật bản. Bà xă tôi nói rằng, dễ vô
cùng, muốn đi đâu, th́ cứ theo màu sắc của
con đường vẽ trên bản đồ mà tới.
Tôi th́ không
lạc quan, chỉ một việc nhỏ nhất, là làm sao
biết được xe lửa đă đến ga nào mà xuống,
cũng đă là một vấn đề. Không có một chữ Nhật
lận lưng, làm sao mà hỏi được ai. Điều tôi
lo nhất là khi đang đi du lịch, mà cần đi
tiêu đi tiểu, th́ làm sao mà nói, mà hỏi.
Nước Nhật chứ đâu phải Mỹ mà nơi nào cũng
sẵn có nhà vệ sinh công cộng cho ḿnh xài.
Tôi nhớ trong sách du lịch có viết rằng,
nước Nhật sạch sẽ và ngon lành lắm, nhưng
xin bạn đừng ngạc nhiên khi thấy đàn ông
Nhật vén quần đứng xả ṿi rồng bên đường, v́
không có nhà vệ sinh. Giống như ở Việt Nam
ḿnh ngày xưa, các ông taxi hay ngồi xuống
úp mặt vào bánh xe, kéo quần tè vào lườn xe.
Không lẽ ḿnh phải thủ sẵn một cái chai và
cái áo dài lùng thùng để trùm lại khi cần
làm việc khẩn thiết.
Tôi nhớ lần
dầu tiên đi xe đ̣ từ Sài g̣n về miền Trung,
khi xe đến một vùng đồi núi cây cối lúp xúp
gần Phan Thiết th́ dừng lại. Đàn ông đàn bà
trên xe vội vă nhảy xuống, rần rần chạy mau
về phía núi. Tôi ngơ ngác không biết có
chuyện ǵ xẩy ra mà thiên hạ chạy đi xem
nhiều như thế. Tôi cũng vội nhảy xuống xe,
chạy theo về hướng đó. Chạy được một đoạn,
th́ tôi đỏ mặt xấu hổ quay lui, tẽn ṭ khi
thấy hàng chục cái mông đàn bà trắng hếu
đang chỉa về phía tôi. Th́ ra xe đ̣ ngừng
cho hành khách chạy vào bụi rậm ven núi đi
tiểu.
Tôi vốn có
thành kiến về nước Nhật qua sách vở, báo chí
và truyền thông. Tôi cảm phục dân tộc đó v́
biết họ, với hai bàn tay và khối óc, không
có tài nguyên thiên nhiên, đă xây dựng được
đất nước thành một cường quốc quân sự trước
thế chiến thứ hai, và thành một cường quốc
kinh tế sau khi thua trận đầu hàng Đồng Minh.
Nhưng tôi không thể thông cảm cho cái tư
tưởng và hành động trung quân mù quáng, chết
cho Thiên Hoàng, mổ bụng tự tử v́ Thiên
Hoàng. Thiên Hoàng Hiro Hito của họ, dưới
mắt tôi là một gă mặt mày không được sáng
sủa chi lắm, có vẻ lù đù, cận thị nặng, và
không biết nhục khi thua trận, không dám
nhận trách nhiệm, mà đổ lỗi cho đám quân
phiệt để cầu mạng sống cho riêng ḿnh. Tôi
càng không cảm t́nh v́ hành động hung bạo
của quân đội Thiên Hoàng khi chiếm đóng vùng
Á Châu, họ tàn sát hàng trăm ngàn người vô
tội khi vào Nam Kinh bên Tàu, giết cả ông
bà già, con trẻ, không tha một ai. Binh sĩ
Thiên Hoàng vô cùng tàn bạo với tù binh
trong đệ nhị thế chiến. Nước Nhật c̣n có
trách nhiệm làm hai triệu người Việt Nam
chết đói vào năm 1945, khi đó dân số Việt
Nam chưa đầy 18 triệu, nghĩa là chết trên
mười phần trăm dân số. Qua phim ảnh, tôi
thấy người Nhật khi nào cũng bắng nhắng, khi
nào cũng chạy chạy như là gấp gáp lắm, ăn
uống cũng hốt hoảng, nói năng th́ như nạt nộ
gây gổ nhau, và hở một chút là vung kiếm
chặt đầu, đâm xuyên bụng người khác, xem
mạng người như ngóe.
Đọc sách báo,
thấy giá cả và đời sống Nhật đắt đỏ đến ớn
lạnh, một kư cá hồi có khi bán cả trăm đô
la, một trái dưa cũng bảy tám đô, thịt ḅ
cũng cả vài chục đô một kư. Thức ăn th́ sống
sít, và ăn uống như mèo ăn, cái ǵ cũng chút
chút, chút chút vài ba miếng tí teo. Dưa th́
hai lát, hành th́ ba cọng ngắn, thịt một cục
nhỏ rí. Một anh bạn tôi bảo dân Nhật là tổ
sư của người Huế , dĩa thức ăn của người Huế
th́ nhỏ tí ti và ít xịt, quơ một ngoai đủa
là hết cả dĩa. Thế mà dĩa thức ăn Huế có
thể chia thành mười dĩa ở Nhật. Tôi từng
nghe một ông đầu bếp năm sao tiệm Nhật bảo
rằng thức ăn Nhật đă nghèo nàn mà dở. Nhà
cửa th́ chật chội, được tính bằng đơn vị
“chiếc chiếu”, nhà 5 chiếu, nhà 3 chiếu,
nghĩa là diện tích căn nhà bàng chừng đó
thôi. Chiếu của Nhật có tiêu chuẩn khoảng
một mét chiều ngang, hai mét chiều dài.
Trước khi đi
Nhật , mấy ông bạn Mỹ trong sở đă từng đi
Nhật, sống ở Nhật vài ba năm, cho mượn sách
về nước Nhật, về Tokyo, Kyoto nhưng chúng
tôi làm biếng, không đọc. Các ông cho biết
nếu mà không đến Cố Đô Kyoto, là xem như
chưa đến Nhật. Bởi vậy, chúng tôi định mua
một cái vé xe điện cao tốc, gọi là “bullet
train” - tàu đầu đạn- có thể đi nguyên tuần
bất cứ đâu, mà không trả thêm tiền. Nhưng
sau khi nói chuyện điện thoại với người bà
con ở Nhật, họ nói không cần phí tiền như
vậy, họ có thể mua cho vé đi về một chuyến,
và đặt trước cả chỗ ngồi, khỏi phải đứng mệt
khi tàu đông. Mua trước cho vé đi “tua” thăm
các thắng cảnh của cựu đế đô nầy.
Máy bay từ
San Francisco đến phi trường Narita, Tokyo,
đi ngược chiều quay của quả đất về hướng tây,
nên mặt trời như luôn luôn rọi trên đầu
chúng tôi, những vùng máy bay đi qua đều là
buổi trưa. Nhưng khi đến nơi th́ phải xem
như buổi trưa cuả ngày khác, sau một ngày
trên lịch. Đến phi trường, thủ tục cũng giản
dị, không phải chờ đợi rồng rắn dài mất th́
giờ. Đi qua cửa quan thuế, không phải dúi
tiền cho ai cả, họ vui vẻ, dễ dàng, tin vào
lời khai của ḿnh. Hai gia đ́nh bà con đến
đón chúng tôi tận phi trường. Cô em con bà
d́ có chồng làm cho chính phủ liên bang Mỹ,
phục vụ trong ngành công binh cho lục quân
Mỹ đồn trú tại Nhật, nhờ vậy chúng tôi được
đi xe buưt của căn cứ từ phi trường về doanh
trại Mỹ, khỏi tốn tiền xe. Nếu đi taxi th́
cũng phải trên trăm dollars, mà đi xe buưt
phi trường th́ cũng chừng ba bốn chục đô mỗi
người, rồi sau đó phải lấy xe lấy tàu đi
thêm nữa mới đến nơi. Ông em chú bác, th́ đă
ở Nhật cả hơn ba mươi năm , đi du học rồi ở
lại luôn sau khi miền Nam thua trận. Anh em
ôm nhau bùi ngùi sau ba mươi năm xa cách.
Bây giờ chú có dáng dấp của một ông Nhật
chính cống. C̣n chúng tôi, th́ không thể
giống Mỹ được và không có nét nào của Mỹ cả.
Tôi cảm động, đời sống ở Nhật bận rộn, tất
bật đến thế, mà chú cũng dành th́ giờ đem cả
gia đ́nh ra đây đón chúng tôi. Ngồi bên nhau
trên xe buưt, chúng tôi nhắc lại một vài kỹ
niệm xưa khi c̣n ở Sá g̣n. Tôi thầm nghĩ,
xưa ai mà ngờ có ngày tan tác, thất tán gia
đ́nh, bạn bè, mỗi người một quốc gia, làm
lại cuộc đời khắp các xứ trên thế giới nầy
đâu. Đứa bé trai sáu tuổi con của chú, rất
thân thiện khi gặp tôi lần dầu, nó nói tiếng
Nhật pha tiếng Việt. Nó là đứa cháu đích tôn
của chú tôi, nếu c̣n sống, chắc chú tôi sung
sướng hănh diện lắm.
Xa lộ ở Nhật
có lẽ cũng không nhiều và không rộng lắm,
lưu lượng xe cộ không đông đúc như xa lộ
Mỹ, nhưng cũng phải chạy chậm v́ khá kẹt xe.
Mỗi bên có hai đến ba lằn đường, và đi mỗi
khoảng th́ có trạm thu tiền đường, chúng tôi
tạm gọi là tiền măi lộ . Tiền nầy rất đắt so
với các xứ khác. Ở Nhật đất đai chật chội
hiếm hoi, dân chúng dùng phương tiện chuyên
chở công cộng, vừa nhanh chóng, vừa rẻ tiền,
mà rất thuận lợi. Xe điện có nhiều hệ thống
bao trùm các thành phố, xe tới liền liền,
không phải chờ đợi lâu lắc dài cổ và phí th́
giờ. Bởi vậy nên người em con chú tôi ở
Nhật đă 30 năm mà vẫn không mua xe, v́ không
cần thiết và cũng v́ ngày trước ở ngay trung
tâm thành phố Tokyo, một chỗ đậu xe phải trả
khoảng bốn trăm đô mỗi tháng, không phí tiền
làm chi. Đường phố th́ đa số đều chật hẹp vô
cùng, có lẽ ngày xưa vừa cho xe ngựa chạy,
nay th́ xe chạy hai chiều trên một lằn đường,
hai xe tránh nhau th́ hết cả ḷng đường. Lề
đường cho bộ hành đa số đều rất hẹp hoặc
không có. Thế mà thỉnh thoảng cũng thấy có
xe đậu choán hết một nửa đường, các xe khác
đi qua phải né sát về phiá ḷng đường c̣n
lại. Luật ở đây cho phép đậu trên ḷng đường
khi phần c̣n lại đủ cho một xe đi qua, với
điều kiện chủ xe phải lảng vảng đâu đó, để
khi cần th́ dời xe đi. Lái xe đường phố th́
chật chội, dễ gây tai nạn, lái xe xa lộ th́
tiền đường quá đắt, nên dù có xe, người ta
cũng ít xử dụng. Đa số, mua chiếc xe năm bảy
năm, mà chỉ chạy vài chục ngàn dặm thôi. Có
lẽ c̣n chạy ít hơn các cụ ǵa ở Mỹ khi về
hưu mắt kém, tay run, hết gân, chỉ cần xe đi
chợ mà thôi. Bởi vậy nên bạn tôi mua chiếc
xe Toyota, mới chạy có hai chục ngàn dặm,
chỉ có chín trăm đô la. Một bà khác trong
căn cứ Mỹ, bảo là xe bà phải đem cho đi, và
sẽ mua xe khác, v́ xe đă chaỵ đến bốn mươi
lăm ngàn dặm rồi. Có phải dân Nhật chơi xe
sang hơn dân Mỹ không? Có lẽ là không, v́ ở
Mỹ, nghèo mạt rệp cũng phải có một chiếc xe
làm chân mà chạy kiếm miếng ăn. Không có xe
là kẹt cứng. Ở Nhật, phải là dân khá, mới
chịu nỗi phí tổn chơi xe. Riêng một cái bằng
lái xe thôi, cũng phải tốn đến trên năm ngàn
đô la Mỹ mới lấy được, mà khó khăn lắm,
không phải dễ dàng như ở Mỹ. Giá xăng lại
rất đắt, chỗ đậu xe không có, mà phải thuê
chỗ đậu xe hàng tháng. Mua xe, th́ hăng bán
xe sẽ chịu luôn bảo hiểm sửa xe cho người
mua. Nghĩa là phải bán chiếc xe tốt, không
hư hại lặt vặt, c̣n không th́ lỗ sập tiệm.
Xe ở Nhật mà chết máy làm kẹt lưu thông, th́
chủ xe trả tiền phạt đến chóng mặt, cho nên
không ai dám lái xe cà tàng ra đường nếu
không chắc rằng xe ḿnh không chết máy bất
tử.
Từ phi trường
về nhà cô em bà con cũng gần hai tiếng, xe
đưa chúng tôi về tận căn cứ Mỹ tại Tokyo.
Chồng cô là kỹ sư Công Chánh, làm việc cho
chính phủ Liên bang Mỹ, chuyên lập dự án xây
dựng và sửa chửa các công ốc thuộc các căn
Mỹ cứ trên toàn nước Nhật. Chồng cô em nầy
là bạn cũ của tôi thời trước. Chỉ có hai vợ
chồng thôi, mà anh được cấp một căn nhà rộng
thênh thang, ba pḥng ngủ hai pḥng tắm
trong một cao ốc sang trọng. Bàn ghế, giường
tủ cũng được trang bị dầy đủ, toàn cả những
thứ đóng bằng gỗ quư. Điện nước cũng khỏi
phải trả tiền.
Tôi tưởng đến
nhà bạn là phải cởi dép và ngồi xệp dưới sàn
trên tấm chiếu bên cạnh cái bàn thấp, mà
chuyền nước trà. Tôi chuẩn bị cho cái chân
và cái lưng sẳn sàng chịu đau đớn v́ phải
ngồi xệp trên sàn nhà. Nhưng không, trang bị
bên trong hoàn toàn theo lối tây phương,
không có chút ǵ là Nhật Bản cả. Bếp núc
rộng răi sáng sủa, pḥng tắm cũng rộng thênh
thang, pḥng ngủ rộng, có nhiều ngăn tủ
đựng áo quần, lớn có thể đi vào được. Hoàn
toàn Mỹ, chẳng có chút chi Nhật cả.
Căn nhà nầy
tọa lạc trong một căn cứ lục quân Mỹ. Không
có vẻ ǵ là một căn cứ quân sự, v́ không
thấy lính tráng đâu cả, mà cũng không có
những dăy nhà ngay hàng thẳng lối có những
pḥng rộng mà trong đó quân nhân đặt giường
san sát. Căn cứ nầy giống như một khu phố
khang trang của một thành phố nhỏ bên Mỹ.
Đường sá tráng nhựa phẳng phiu, ṿng vèo
ngăn nắp, sạch sẻ. Những căn nhà đủ loại,
đủ kiểu, cỏ trồng cắt xén gọn gàng, hoa nở
sặc sỡ . Chỉ thấy có chút quân sự là bốn
cỗng ra vào, có trạm gác, lính Nhật gác cỗng,
soát thẻ vào ra, và cúi rạp ḿnh chào khi
khách đi qua.
Bạn chở tôi
lên xe đi quanh khu doanh trại xem cho biết.
Đây là bưu điện Mỹ, giống như một trạm bưu
điện trung b́nh bên Mỹ, có nhân viên bưu
điện ngồi quầy, xài tem Mỹ và tiền Mỹ. Bên
kia là nhà tập thể dục rộng lớn, bên trong
có trang bị đầy đủ dụng cụ, có huấn luyện
viên, và có cả hồ bơi . Có cả khu tắm tồng
ngồng theo lối Nhật Bản, mà hồi mới qua đây,
vợ bạn tôi chưa quen nên thường hay quàng
cái khăn che tạm dưới bụng trước khi vào
bồn tắm. Sau đó, thấy tấm bảng ghi cấm đem
khăn vào, v́ sợ làm mất vệ sinh. Cũng lạ,
tắm chung không sợ mất vệ sinh, mà đem cái
cái khăn tắm vào pḥng th́ không cho. Có
người bảo rằng không dám vào tắm các nơi
trần truồng đó, không phải v́ e thẹn, không
phải v́ ngượng, mà sợ lỡ ra ‘thằng con dễ
nuôi mà khó dạy' nó chỉa thẳng ra bất tử th́
có nước mà độn thổ. Dù không có tà ư trong
đầu, khi mà ḿnh càng cố kềm chế nó, th́ nó
càng dễ sinh sự làm mất mặt. Nghe đâu luật
lệ trong hồ tắm rất nghiêm ngặt, phải tắm
trước bên ngoài thật sạch sẽ, không phải vào
hồ mà kỳ cọ ghét ra hàng đống đen như con
sâu.
Vợ tôi hỏi:
“ Nếu đă tắm
bên ngoài sạch sẽ rồi th́ bày đặt vào hồ làm
chi cho thêm bẩn v́ nước tắm chung, và thêm
xấu hổ v́ phơi bày cái của nợ ra.”
Ông chồng cô
em tôi nói:
“ Kỳ lắm,
khi nào vào bồn nước cũng cảm thấy muốn đi
tiểu, có lẽ v́ áp suất nước ép lên người, cố
nín mà không được, phải đi ra t́m nhà tiểu
mà xả. Những người làm biếng, th́ tiểu đại
vào hồ, ai mà biết được, vào đó tức là tắm
nước tiểu thiên hạ chứ có sạch sẽ ǵ?”
Bên kia đường
là nhà sách, chúng tôi vào xem, có bán đủ
thứ sách như một tiệm sách bên Mỹ. Từ sách
học, sách về nấu ăn, về thể thao, du lịch,
vệ sinh, luyện tập tâm linh, tiểu thuyết,
thơ văn . Nhiều nhất là loại học tiếng Nhật
cho người ngoại quốc. Tiếng Nhật cho Mỹ,
Pháp, Đức Ư, Phi , Đại Hàn, Thái Lan, Mễ và
có cho cả người Việt Nam nữa. Thế th́ cần
chi mà về Mỹ mới t́m được sách muốn mua.
Nhiều cuốn dày mỏng khác nhau. Có cả một
cuốn sách riêng dạy về những câu thông dụng
trong t́nh yêu. Tôi lật sơ qua, thấy những
chương chào hỏi, làm quen, mời đi ăn, đi
chơi, tỏ t́nh, khi âu yếm, trên giường lúc
yêu đương, và cả mục khi gây gổ căi nhau, và
mục cuối cùng là những câu nói khi li dị.
Thật là chu đáo cho một cuộc t́nh từ khởi
đầu đến kết thúc, có đủ ngôn ngữ để truyền
thông mà không phải quơ tay múa chân lung
tung ra dấu bằng ngôn ngữ quốc tế. Ngoài
tiệm sách ra, c̣n có một thư viện lớn, nhân
viên có thể đến mượn sách đọc. Đủ các loại
sách, như một thư viện của thành phố.
Trong một khu
khác, có nhiều quán ăn Mỹ, có quầy rượu. Anh
bạn cho biết, mỗi chiều thứ sáu có tổ chức
ăn khỏi trả tiền, chỉ phải tự trả tiền bia,
tiền rượu, không uống th́ khỏi trả ǵ cả, ăn
thả dàn. Được gọi là “giờ sung sướng” .
Những quán ăn bên trong căn cứ nầy bán giá
rất rẻ, so với bên ngoài, và c̣n rẻ hơn
những quán ăn chính trên đất Mỹ.
Một buổi trưa
chúng tôi vào ăn theo lối bao bụng mà chỉ
trả mỗi người năm đô la thôi. Chắc chính phủ
có bù lỗ cho người thầu nhà hàng mới có được
giá đó. Có lẽ không phải loại quán “quốc
doanh” của quân đội. V́ e cái ǵ mà dính
đến quốc doanh th́ cũng bê bối, bầy bừa,
không có chất lượng, và đối xử với khách
hàng như lũ ăn mày. Trong khu nầy, cũng có
những quán cà phê, quán rượu, nhạc sống ban
đêm và nhạc qua máy hát. Trong quán c̣n có
máy đánh bài, loại mà bên Việt Nam đặt tên
cho là “Tên Cướp Một Tay”, để các quân nhân
xa nhà có nơi mà cúng tiền cho mau hết.
Khu chợ Mỹ,
bán đủ các thứ hàng hóa chuyên chở từ Mỹ
qua, giá rẻ như hoặc rẻ hơn các siêu thị bên
Mỹ, lại không có thuế. Thức ăn cũng chở từ
Mỹ qua, không biết quân đội họ điều hành tài
t́nh thế nào, mà giá thức ăn so với Mỹ, th́
có phần rẻ hơn chút đỉnh. Đương nhiên thức
ăn và các thứ như bia, rượu, th́ bên ngoài
doanh trại , giá gấp nhiều lần bên trong.
Tôi thấy ḿnh nghĩ sai khi lần đầu nghe anh
bạn t́nh nguyện xin đi Nhật, tưởng đâu cái
đắt đỏ bên Nhật sẽ nghiền nát anh. Cả các
thứ vật dụng như áo quần, đồ diện tử, máy
truyền h́nh , tủ lạnh, computer, cũng rẻ hơn
Mỹ. Chắc chắn là rẻ hơn giá ở ngoài phố Nhật.
Trên sân cỏ,
có chưng bày những xe mẫu kiểu mới nhất, của
các hăng sản xuất Mỹ. Và giá hàng rẻ hơn tại
Mỹ, bởi vậy cho nên, nghe đâu, đông đảo
người mua xe tại Nhật mà trao hàng tại Mỹ.
Trong khu chợ, c̣n có các tiệm ăn Mỹ , Mễ và
các tiệm tṛ chơi điện tử cho trẻ em con
nhân viên giải trí. Sân chơi dă cầu rộng
mênh mông, có hàng rào lưới cao chừng hai
mươi thước bao quanh. Có trường học Mỹ riêng
cho con em học đến hết bậc trung học mà khỏi
trả học phí. Có thể nói những căn cứ nầy
là một thành phố tiêu biểu thu lại, không
thiếu một thứ ǵ mà xứ Mỹ có.
Mấy năm trước,
khi bạn tôi nộp đơn t́nh nguyện đi Nhật, v́
thương bạn, tôi có ư gián tiếp, bóng gió
can ngăn. V́ tôi nghĩ , ḿnh ở Mỹ đă hai
mươi năm, có gia đ́nh, có bạn bè, có cộng
đồng ngươi Việt chung quanh, ăn nói cũng tạm
được, tiếng Mỹ cũng đă quen, mà c̣n thấy
trong ḷng không vui trọn vẹn, vẫn c̣n một
vướng mắc quê hương nào đó, một chút lạc
lơng , không hoàn toàn ḥa đồng với xă hội.
Huống chi đến một nơi, một chữ cũng không
biết, không nói được, không nghe được, lạ
lùng, th́ chắc chắn buồn lắm, hoang mang c̣n
hơn cái hồi mới đi định cư nữa. Nhưng tôi
lầm, bạn tôi sống ở đây, chẳng khác nào
sống trên đất Mỹ, nói tiếng Mỹ, mua đồ Mỹ,
ăn lối Mỹ, sống lối Mỹ, không cần tiếp xúc
đến cái xă hội chật chội đắt đỏ và lạ lùng
của Nhật bên ngoài ṿng rào trại.
Bên ngoài căn
cứ là một xă hội chật chội, đắt đỏ hối hả.
Nhà liền nhà, phố liền phố, không có vườn
cây, không có thảm cỏ, hoa trồng trên những
thẻo đất nhỏ nhắn trước nhà, trong góc sân.
Đường chật vừa đủ cho hai xe né tránh sát
nhau. Bộ hành không có lối đi riêng. Thế mà
bên trong doanh trại, th́ nào là sân chơi
trẻ em hai ba cái, thảm cỏ xanh, công viên
trồng cây, hồ nước, sân banh, đường rộng
hai bên có lề cho bộ hành đi. Không biết
người Nhật họ có khó chịu khi thấy cảnh
tương phản nầy không, có lẻ họ cũng không ưa
nhưng khôn ngoan im lặng.
Đi làm việc
cho chính phủ liên bang Mỹ tại Nhật, bạn tôi
cho biết, riêng tiền phụ cấp đắt đỏ thôi,
cũng ăn tiêu mà chưa hết, lương chính thức
chưa bao giờ đụng tới. Anh cho biết , có
một anh chàng kỹ sư công nghệ họ Bùi, suốt
mười mấy năm nay đi làm tại ngoại quốc cho
chính phủ liên bang Mỹ. Không biết để tiền
lương ở đâu và làm ǵ cho vơi bớt. Bạn tôi
tiếc là không biết sớm về các công việc làm
cho chính phủ liên bang như thế nầy. Vợ bạn,
là cô em bà con của tôi, đúng một người
đàn bà Việt Nam thuần túy, ch́u chồng, dịu
dàng và tuân phục, cưng chồng như một ông
hoàng nhỏ. Không biết bạn tôi có thấy điều
đó hay không. Cô ch́u cả những cái gàn cái
chướng và cái tư tưởng đôi khi hơi độc đoán
của chồng. Giữa thời đại nầy, có lẽ ngay cả
đàn bà Nhật, cũng hiếm hoi người c̣n có cái
phong cách thuần thục Á Đông c̣n lại đó. Bạn
tôi là một người có phước, nhưng không phải
v́ vậy mà cô em họ tôi là người vô phước,
v́ cô cảm và t́m được cái vui, cái sung
sướng rất giản dị là đem hạnh phúc lại cho
gia đ́nh, tạo cho gia đ́nh không khí dịu
dàng ấm áp. Ngày xưa Tây thuộc địa cũng
sướng không bằng bạn tôi bây giờ. Bạn chỉ
thiếu bồi bếp hầu hạ nữa mà thôi. Th́ ra
quân đội Mỹ chăm sóc quá chu đáo cho người
của họ, không trách chi ngân sách quốc pḥng
là một con số khổng lồ so với các ngân sách
khác. Bởi vậy, những quốc gia theo đuổi sức
mạnh quốc pḥng th́ kinh tế dễ lụn bại,
ngoại trừ những nước đă có sẵn sức mạnh và
tài nguyên dồi dào. Giá như cả thế giới,
đừng ai muốn ức hiếp xâm lăng ai, đem tiền
bạc tài nguyên và nhân lực ra mà xây dựng
kinh tế, xă hội, th́ nhân loại chắc mau đến
gần thiên đàng.
Ngày hôm sau,
chúng tôi lấy xe điện về trung tâm Tokyo.
Đổi hai chuyến xe, và mất gần một giờ, th́
về đến ga Shinjuku. Đọc lỏm bỏm chữ Tàu, tôi
đoán có lẽ ga nầy có nghĩa là “Tân gia cư “.
Ông em bà con tôi bảo là ư nghĩa gần như vậy.
Được biết rằng, mỗi ngày, có khoảng hai
triệu lượt hành khách qua lại ga nầy. Ga là
một mạng nhện đường hầm có nhiều từng , mổi
từng có nhiều tuyến đường xe. Có cầu thang
và có thang cuốn qua lai. Bên trong ga rộng
mênh mông, có nhiều tiệm tạp hoá, tiệm ăn.
Như một khu phố , một ổ kiến. Người người lũ
lượt hàng mười nối đuôi nhau di chuyển tấp
nập như nước lũ. Từng đoàn người hàng ngang,
chạy rần rật, trai gái già trẻ, gấp gáp, làm
tôi liên tưởng đến thế trận biển người của
mấy ông Trung Cộng đem nướng quân thí mạng.
Tưởng phá một tổ kiến cũng không thấy bọn
kiến xôn xao đông đảo như vậy. Người người
gấp gáp, chạy cho kịp chuyển chiếc tàu kế.
Không phải chuyến tàu kế thiếu th́ giờ cho
khách chuyển xe, mà cái đuôi chờ lên Tàu dài
ḷng tḥng, nếu xếp hàng gần cuối đuôi, th́
có hy vọng phải chờ chuyến tàu sau nữa. Khi
tàu dừng, th́ khách bên trong xôn xao chen
lấn t́m ngỏ thoát ra khỏi cái trùng vây dày
đặc . Có nhiều cô kẹt bên trong, không ra
kịp, mà tàu đă chuyển bánh, nước mắt rưng
rưng. Khách bên ngoài tuy có xếp hàng, cũng
phải rướn ḿnh mà chen vào ḷng xe. Nếu có
mang đồ đạc kềnh càng th́ khó hy vọng lên
được tàu. Khách lên chật cứng, có khi nhân
viên hăng xe phải đứng ở cửa, nén ém hành
khách lại, để đóng cửa. Chúng tôi may mắn
vào được trong toa tàu chật như nêm, phía
trước, phía sau, hai bên đều có người khác
ép sát. Khi tàu di chuyển một lúc, th́ như
gạo được lắc , cảm thấy đở chật chội. Báo
chí có đăng là một số thanh niên du đảng,
mua vé lên tàu vào những lúc đông đúc chật
chội, để cọ quẹt và áp sát người vào những
cô gái đẹp. Có cô phải khóc quay về nhà thay
váy, v́ bị chúng bắn nước bẩn vào. Chuyến
tàu tôi đang đi chật chội, nhưng không thấy
các thứ du đăng đó, mà thấy hành khách có vẻ
lịch sự. Đa số đều mang cà vạt, áo vét, đàn
bà cũng ăn mặc rất sang trọng, đứng đắn.
Nh́n họ, thấy toát ra cái phong thái của một
dân tộc văn minh, có văn hóa cao. Họ không
làm ǵ cả, nhưng nh́n cách ngồi, cách đứng
của họ, có vẻ tôn trọng người kế bên. Không
hỗn độn như những hành khách các xứ khác. Vợ
tôi nói nhỏ với tôi : “ Anh xem, chúng
ḿnh có khác ǵ người Nhật đâu, cũng mắt hí,
miệng vẫu, da vàng , y hệt” .Tôi nh́n quanh,
và thấy thật đúng như vợ tôi nhận xét. Đa số
người Nhật có thân ḿnh thon thả, khỏe mạnh.
Rất ít có những bà thân ḿnh bồ tượng, phục
phịch. Các cô gái th́ trang điểm kín đáo,
nh́n da mặt, da môi, thấy phơn phớt rất tự
nhiên, không có son phấn ḷe loẹt, đỏ chót,
hoặc tím bầm trên môi. Tôi tưởng là họ không
dùng son phấn, nhưng vợ tôi bảo là họ cũng
có trang điểm, nhưng họ dùng màu tự nhiên,
cho nên tưởng như không trang điểm. Da mặt
đa số đàn bà Nhật rất mịn màng, trắng trẻo.
V́ trang điểm kín đáo, nên trông họ rất trẻ,
trẻ hơn cái tuổi thật của họ rất nhiều. Rất
ít những người đàn ông có cái bụng ỏng nước
lèo mà mông th́ teo rí . Có lẽ họ ăn uống
nhiều rau cải và đi bộ nhiều nên ít người
mập. Những ông già, bà già, với thân ḿnh
thon thả, tráng kiện, và di chuyển cũng
nhanh nhẹn. Tôi thấy có bà già có lẽ đă trên
bảy mươi tuổi, c̣n mang guốc cao gót, và
chạy rất nhanh trong sân ga để đuổi cho kịp
chuyến tàu.
Tôi nh́n ra
hai bên đường rầy xe , thấy nhà cửa chồng
chất lên nhau san sát, nhỏ mà sạch sẻ, khang
trang, nhiều căn nhà như cái chuồng cu lớn.
Vài cái ban công chút xíu có kê ghế trông
gọn gàng xinh xắn. Ngồi đó mà khà chút rượu,
ngắm trăng lên, ngâm vài câu thơ hài cú th́
thật tuyệt diệu. Những nơi đậu xe th́ chật
chội cheo leo, không biết làm cách nào mà họ
có thể chuyển chiếc xe hơi vào nơi bí hiểm
khó khăn đó. Xa xa, hoa anh đào nở rộ làm
thành chiếc màn hồng bên chân trời. Xe điện
chạy cũng khá nhanh, có lẽ tiện lợi hơn đi
xe hơi nhiều. Ga nào hành khách cũng đông
đảo, xôn xao.
Chú em bà con
dẫn chúng tôi và gia đ́nh đi thăm phố chính
của Tokyo, nơi đây có tên là “ Ngân Tỏa” (
Jinza) , vợ tôi hỏi có phải nghĩa là tiền
văng ra vung vải không, chú nói là đại khái
hiểu như vậy. Khu nầy đường rộng mỗi bên có
nhiều lằn cho xe chạy, nhà cao từng san sát,
phố sá sang trọng, nhiều nhà hàng lớn có
kiếng mặt tiền, hè phố rộng răi khang trang.
Đi trong khu phố nầy, tôi không có cảm giác
là đi qua một xứ lạ. Có cái thân thuộc như
đi trong khu tài chánh của San Francisco,
của Philadelphia, của New York…. Có lẽ
những phố lớn của các thành phố văn minh
khung cảnh giống nhau. Điều đáng chú ư nhất
là đường phố rất sạch sẻ, không một cọng
rác, sạch như có lau chùi. Tôi nghĩ dân Nhật
tự trọng, không xả rác bừa bải, và đồng thời
có người quét dọn thường xuyên.
Tôi thấy trên
những cột đèn thành phố có gắn bảng quảng
cáo triển lăm tranh của Claude Monet, một
họa sĩ Pháp ở thế kỷ thứ 18. Tưởng là loe
ngoe mấy mạng đi xem, không ngờ khách xem
tranh xếp hàng làm thành cái đuôi dài cả
chừng năm sáu trăm thước, ngoằn ngoèo qua
bốn góc phố, cái đuôi xếp hàng gập lại nhiều
lần. Bây giờ tôi mới biết dân Nhật ham
chuộng nghệ thuật đến mức nào. H́nh như
tŕnh độ văn hóa của một dân tộc tỷ lệ thuận
với tŕnh độ yêu chuộng nghệ thuật của dân
đó. Không trách chi nhiều thanh niên Nhật
qua Pháp du học hội họa, mỹ thuật, và là
khách hàng thường xuyên của khu Montmartre,
nơi sản xuất được nhiều nhất các nghệ sĩ
nghèo và đói rách của thế giới. San
Francisco ở Mỹ là một thành phố có đông đảo
nghệ sĩ, và đông đảo người ham chuộng nghệ
thuật, có nhiều pḥng triển lăm tranh nổi
tiếng, thế mà chưa bao giờ tôi thấy người đi
xem tranh xếp hàng dài như hôm nay.
Đă quen đi
qua các thành phố lớn, tôi không thấy ǵ đặc
biệt trên phố Ngân Tỏa ( Jinza ) nầy. Cũng
chỉ nhà cao, nhiều cửa hiệu ï thương măi to
lớn, sang trọng san sát, tráng lệ, mênh mông
và hàng hóa chất đầy.
Buổi trưa,
chúng tôi ghé vào một tiêm ăn “ bao bụng”
ngay phố chính. Một người của nhà hàng đứng
trước cửa đón chào chúng tôi bằng một cái
gập ḿnh xuống thật thấp, như cúi lạy, làm
tôi hốt hoảng, theo phản ứng tự nhiên, phải
đứng né qua một bên, để tránh cái lạy đó.
Quán ở trên lầu cao, bên trong có nhiều
pḥng nhỏ, ngăn chia khách hàng cách biệt
nhau ra. Phải cởi giày bỏ vào hộc tủ, lấy
ch́a khóa mang số để khi ra th́ nhớ hộc nào.
Mỗi người, mang dép vải của nhà hàng vào
chân, trong pḥng ăn có cái bàn thấp, và nệm
gối mỏng để ngồi. Mỗi gia đ́nh ngồi trong
một pḥng riêng rất kín đáo. Tiền ăn mỗi
người tương đương với mười hai mỹ kim, ăn
đầy bụng th́ thôi. Tôi thầm nghĩ rằng, quán
ăn sang như thế nầy tại Nhật, mà chỉ mười
hai đồng thôi, th́ chắc chỉ có húp nước cháo
với tàu hủ kho. Nhưng khi đi lấy thức ăn,
th́ tôi thấy cũng có rất nhiều món, có cả
tôm, cá, thịt, rau xào, sushi, chừng hai
chục nồi thức ăn. Nhiều món ăn cũng ngon và
hợp với khẩu vị của chúng tôi. Chúng tôi tận
t́nh thưởng thức các món đă nấu chín. Không
dám động đến sushi là thứ sống sít, tanh
tao. Thức ăn tại tiệm nầy, tuy không dồi dào
bằng các tiệm ăn bao bụng ở Mỹ, nhưng cũng
xem như là đầy đủ.
Thật không
ngờ, tôi nghĩ là ở Nhật đắt đỏ, và thức ăn
hiếm quư lắm, nhưng không, giá cả cũng không
cao hơn ở Mỹ là bao nhiêu. Pḥng bên cạnh có
chừng hai chục ông bà lăo, già lụ khụ. Họ ăn
uống và bàn luận chuyện ǵ không biết, mà
thỉnh thoảng nghe có tiếng vỗ tay và tiếng
cười vui vẻ. Các cụ già mà họp nhau lại được
như thế nầy, th́ thấy đời sống họ hạnh phúc
và sung sướng quá.
Chúng tôi ăn
uống chậm, và như nghỉ ngơi cho đỡ mỏi chân
để chiều nay c̣n đi bộ nhiều hơn nữa. Căn
pḥng rất biệt lập, ấm cúng. Có lẽ những
pḥng ăn như thế nầy, thu hút được nhiều
khách hàng hơn là ngồi ăn chung đông đảo. Và
cũng tiện cho các ông Nhật bà Nhật có quan
hệ t́nh cảm bất chính, kín đáo, không ai
thấy ai mà về báo cáo. Tiệm ăn ở Nhật không
có quyền cho tiền bồi bàn, thứ tiền ăn xong
để ra bàn, mà người Mỹ gọi là tiền ” tip”,
Tây gọi là “ pour boire”, nghe đâu bây giờ
bên Việt Nam gọi là tiền “boa”. Chú em bảo
rằng, có nhiều khách hàng không biết, bỏ
tiền “ tip” lên bàn, th́ nhà hàng cho người
chạy rựợt theo trả lui. Cũng là một điều
hay. Theo kinh nghiệm của các người từng đi
làm bồi bàn, th́ đa số các tiệm ăn Việt nam
tại Mỹ, chủ nhà hàng thu hết tiền “tip”,
không cho người hầu bàn. Khách hàng biết
vậy, nhưng v́ lịch sự cũng phải cho tiền
“tip” .
Chúng tôi đi
bộ đến thăm hoàng cung. Chỉ đứng phía ngoài
hoàng thành mà thôi, nh́n vào bên trong
chẳng thấy ǵ. Thành cũng không cao lắm, mà
hào chung quanh cũng chẳng sâu. Không biết
bên trong ra sao, chứ bên ngooài th́ giống
như dinh thự của một phú gia. Nếu đem so với
thành nội Huế, th́ tôi có cảm tương như
Hoàng Cung Nhật nhỏ hơn nhiều lắm. Đứng bên
ngoài chẳng có ǵ. Nhiều đoàn khách du lịch
đến xem. Có lẻ đến để nói rằng ḿnh đă đến
xem hoàng cung rồi, để biết rằng nó chẳng có
ǵ cả. Nhưng đi Nhật, mà nói chưa thấy hoàng
cung cũng là một thiếu sót chăng. Chúng tôi
cũng thấm mệt v́ đi bộ, ra ngồi nghỉ dưới
bóng mát của công viên. Hai cháu nhỏ chạy
nhảy tung tăng, cười đùa vui vẻ. Có lẽ các
cháu ít khi đến được các nơi rộng răi để
chơi đùa, v́ đất chật, người đông.
Buổi tối,
chúng tôi ghé tiệm ăn trên đường về. Tiệm
lớn , thực khách đông đảo. Cũng bàn thấp, và
ngồi bệt. Mỗi bàn được ngăn cách nhau bằng
những bức ngăn thấp. Các cô bồi bàn trẻ, ăn
vận như những nữ hiệp khách. Đầu chít khăn,
lưng thắt đai, và mang sau lưng một cái máy
vi tính bỏ túi, quần bó ống và mang dày vải.
Cái máy vi tính để ghi nhận món ăn khách
hàng, chuyển thẳng vào nhà bếp, và chuyển
qua máy tính tiền. Các cô chạy thoăn thoắt,
như các hiệp khách đi hành hiệp. Bưng món ăn
cho khách hàng cũng chạy, dọn bàn cũng chạy,
thu tiền cũng chạy. Các cô chạy qua lại,
nhanh nhẹn. Tôi th́ ngại các cô chạy như
vậy, lỡ vấp ngă, th́ xối cả nước sôi vào
thực khách. Mỗi khi thấy các cô bưng thức ăn
chạy qua, th́ tôi nghiêng người sẵn sàng tự
vệ. Không biết an toàn lao động ở Nhật có
nghĩ đến vấn đề nầy không. Trong lúc chúng
tôi đang ăn, cháu bé lững chững đi ra, bị
một cô hầu bàn chạy vấp, may mắn không can
ǵ. Phải nói thức ăn trong tiệm nầy không
hợp với khẩu vị của chúng tôi, nhắm mắt mà
nuốt, để đêm nay đỡ đói, không đến nỗi như
cực h́nh, nhưng cũng khó khăn lắm mới điều
khiển được thức ăn đó trôi qua cổ họng. Ḿ
th́ cứng và bở, miếng tàu hủ trông vàng lườm
ngon lành lắm, nhưng lại ngọt lự, rất khó
nuốt. Có lẽ v́ không quen chọn món ăn theo
kiểu Nhật, nên hai vợ chồng tôi nh́n nhau mà
cười thôi. Tôi thấy chú em và vợ chú thưởng
thức món ăn ngon lành lắm, những miếng cá
sống đỏ ḷm, những khúc cá mực trắng tươi,
có lẽ ăn quen rồi thành ngon chăng. Canh nấu
theo lối Nhật cũng nhạt phèo, lợn cợn như
nước rửa bát.
Ăn tối
xong, chúng tôi ra ga xe điện về nhà. Đường
phố ban đêm sinh hoạt ồn ào, náo loạn, không
khác chi ở Hồng Kông, Thượng Hăi. Không như
ở Mỹ, ban đêm là phố phường vắng hoe, cửa
đóng then cài, người người rút vào nhà và đi
ngủ sớm để chuẩn bị sức khỏe cho ngày làm
việc hôm sau. Nh́n sinh hoạt thành phố ban
đêm, tôi thấy có cái ǵ quen thuộc của Sài
g̣n, Chợ Lớn ngày xưa mà từ lâu chúng tôi đă
mất đi. Dường như đời sống ban đêm mới thực
là sống cho ḿnh, sống để tận hưởng hương vị
cuộc đời, mà người dân sống tại Mỹ ít khi
có. Xe điện ban đêm rộng răi hơn và kiếm
được chỗ ngồi dễ dàng. Chúng tôi về nhà cô
em họ, uống trà, ăn bánh và nói chuyện cho
đến khuya.
Tôi
kể chuyện đi làm ở Mỹ cho chú em nghe, rằng
lâu lâu tôi nhảy qua sở mới v́ được trả
lương cao hơn. Chú nh́n tôi có vẻ ngạc
nhiên, và cho biết, đi làm ở Nhật khó khăn
hơn, họ chuộng người trung thành với chủ,
làm cả đời cho một công ty, bỏ việc để qua
công ty khác là thiếu trung thành, là hành
động không đứng đắn, đáng chê trách. Bỡi
vậy, bỏ sở cũ mà đến xin việc sở mới, người
ta cứ nghĩ rằng ḿnh là người không đứng
đắn, nên cũng không muốn thuê mướn ḿnh. Kỹ
luật ở sở cũng khá gắt gao, trong khi làm
việc, mỗi ngày bị bắt buộc phải tập thể dục
tập thể, dong tay, múa chân, nhảy xổm. Tôi
nghĩ tập thể dục là điều tốt, nhưng tôi cảm
thấy không thích bị bắt buộc, thà để ḿnh tự
tập lấy, rồi làm biếng mà quên tập, c̣n hơn
là bị ép buộc. Có vẻ như nó động chạm quá
nhiều đến cái tự do riêng tư của mỗi người.
Đêm đă khuya,
mà tôi thấy nhiều người áo vét, cà vạt, mặt
mày mệt mỏi, hơi thở nồng mùi rượu, tay ôm
cặp c̣n lang thang trên đường. Tôi hỏi cô em
họ. Cô nói:
“ Ở Nhật, đàn
ông thường thường về đến nhà khoảng mười,
mười một giờ đêm. Làm hết việc, chứ không
phải làm hết giờ. Bởi vậy cho nên đàn ông
Nhật sau khi ra khỏi sở, mệt qua,ù và để bớt
nóng đầu, vào quán nhậu, uống rượu, tán
khào, rồi mới về nhà. Vào quán uống rượu sau
khi tan sở đôi khi gần như một sinh hoạt xă
giao bắt buộc, phải đi uống với bạn, với
xếp, để bàn căi thêm công việc, để lấy ḷng
nhau, không th́ không bao giờ được tiến thân
và khi làm việc gặp khó khăn từ mọi phía.”
Tôi góp ư:
“Mệt quá nhỉ
. Thế th́ vợ con ai chăm lo cho? Về nhà đă
khuya, lại rượu hành cho mệt nhừ. Hạnh phúc
gia đ́nh ở đâu? Ở Mỹ mà như vậy th́ sớm vác
chiếu ra ṭa, lảnh giấy li dị, mất nhà mất
con.”
Cô em tôi
cười :
“ Các bà vợ
Nhật đă quen chồng về nhà khuya khoắt lúc
nữa đêm như thế, nên không có gào la khóc
lóc, hỏi anh đi chơi với con quỷ cái nào mà
giờ nầy mới ṃ về nhà? Nghe đâu nhiều đàn bà
Nhật tân thời, thích sống độc thân hơn là
lập gia đ́nh để ṿ vơ chờ đợi ông chồng say
sưa trở về nhà vào lúc nửa đêm. Người Nhật
xem công việc sở là ưu tiên số một. Việc sở
trọng hơn việc nhà, quan trọng hơn hạnh phúc
gia đ́nh.”
Vợ tôi chen
vào:
“ Đấy cô
Hương bạn cùng sở với em, có chồng làm cho
hăng Nhật tại Mỹ, cô không chịu cảnh chồng
đi sớm về khuya, anh chồng phải xin nghỉ
việc để đi t́m sở khác. Ông chủ sở bảo chồng
cô rằng, bỏ vợ đi để giử lấy việc làm, việc
sở quan trọng hơn chứ. Thật cũng khó mà hiểu
nỗi. Có lẽ bên Nhật mất sở là chết đói
chăng? Có lẽ là không. Sao mà xem hanh phúc
gia đ́nh không bằng công ăn việc làm? Đi làm
là để kiếm tiền nuôi dưỡng hạnh phúc gia
đ́nh, chứ đâu phải để xả thân hy sinh phục
vụ túi tiền ông chủ?”
Tôi hỏi thăm
về việc học hành ở Nhật, chú em nói là ở
Nhật, đi học là phải cày bừa tận lực. Học “
gạo” không kể ngày đêm. Anh chị học sinh
nào nào ngủ một đêm trên bốn giờ, th́ không
có hy vọng ǵ thi dậu vào đại học. Mỗi năm
có vô số thanh niên tự tử chết v́ thi trượt
tú tài, trượt đại học. Tôi nói với chú
rằng, chuyện thi rớt tự vẫn th́ ngày xưa bên
Việt Nam ḿnh cũng có lác đác, nhưng là hăn
hữu ở Mỹ. Tại Mỹ, chưa bao giờ nghe chuyện
tự vẫn v́ hỏng thi. Chú em tôi c̣n cho
biết, các ông chủ cơ sở kinh doanh, cũng tự
tử chết rất nhiều khi công ty hay cơ sở kinh
doanh bị phá sản. Họ chết v́ danh dự, v́
không thành công. Có người bảo, không chừng
họ chết đi là khỏe, khỏi phải lo nghĩ lôi
thôi, khỏi phải cực nhọc v́ nợ nần, v́ cơm
áo trong tương lai. Tôi cho chú hay, ở Mỹ,
làm ăn thất bại là thuê luật sư khai phá
sản, phè cánh nhạn ra, nợ nần phủi hết, ai
mất ráng chịu. Khỏe re, không ai chết cả.
Chú nh́n tôi bằng con mắt nghi ngờ, không
tin.
Tôi ghé thăm
một người bạn là giáo sư đại học tại Tokyo,
chúng tôi quen nhau khi ông bà qua Mỹ dự
buổi hội thảo quốc tế về giao thông. Khi ở
Mỹ, tôi có mời ông bà về nhà ăn cua rang
muối và thịt ḅ chiên, v́ nghe hai thứ nầy
rất đắt và hiếm hoi ở Nhật. Trước khi đi,
chú em tôi đă dặn sẵn một vài phép lịch sự
căn bản tại Nhật, cho chúng tôi khỏi bỡ ngỡ.
Nhưng chúng tôi gần như quên cả.
Khi vào nhà,
vợ chồng tôi cũng cỡi giày để lăn lóc bên
ngoài. Chú em tôi nhặt các đôi giày, xếp
lại ngay ngắn, và chỉa mũi giày ra ngoài
đường. Chú th́ thầm : “ Để giày lăn lóc như
thế nầy họ cho ḿnh là thiếu lịch sự. Phải
xếp cho đúng cách, ngay ngắn, và mũi giày
chỉa ra ngoài. Ḿnh không làm, th́ chủ nhà
họ cũng sẽ làm, và đánh giá ḿnh cách khác.”
Vợ tôi cười và nói thầm : “ Có phải xếp ngay
ngắn và mũi giảy chỉa ra, để khi chủ nhà có
đuổi, th́ ḿnh cũng chuồn cho mau phải
không?”
Ông chủ nhà
trịnh trọng trong bộ âu phục màu xám nhạt,
có đóng cà vạt, áo vét ba mảnh, gập ḿnh cúi
xuống thật thấp chào chúng tôi. Tôi cũng bắt
chước cong người lại như con tôm chào ông mà
cái lưng hơi rêm rêm. Bà vợ ông từ bên
trong, chạy ra từng bước ngắn lúp xúp, bà
quấn ḿnh trong đống vải áo kimono hoa ḥe
lóng lánh sặc sở. Bà cúi ḿnh xá mấy xá liên
tiếp, tôi cũng trả lễ. Khi tôi cúi càng
thấp, th́ bà cúi càng thấp hơn, đến nỗi như
cái đầu bà gần chấm đất, mà hai mắt bà th́
nhướng lên nh́n vào tôi để chứng tỏ là bà
lịch sự khiêm tốn. Tôi có cảm giác bà thi
đua với tôi, xem ai cúi ḿnh thấp hơn. Rồi
tôi bỗng có ư nghĩ là nếu ḿnh nằm mẹp xuống
sàn, th́ không biết bà làm sao mà cúi cho
thấp hơn.
Tôi bưng món
quà tặng gia chủ. Tôi đă được biết trước là
ở Nhật, đi đến bất cứ nhà ai, v́ bất cứ lư
do ǵ, cũng phải có quà cáp đưa tặng. Không
có quà, dù lớn dù nhỏ, th́ chủ nhà buồn lắm,
và cho rằng ḿnh không có t́nh với họ. Khi
tôi đưa quà, chủ nhà từ chối không nhận, tôi
cũng hơi buồn, định cất món quà đi, nhưng
chú em cứ lấy cùi chỏ mà thúc bên hông tôi
măi, tôi đưa ra một lần nữa, chủ nhà cũng
khoát tay từ chối. Tôi đă thấy ḿnh hơi quê,
ngượng, định rút món quà lui. Chú em đoán
được ư tôi, đưa tay dúi món quà ra trước,
và làm như năn nỉ chủ nhà để họ nhận món quà
cho ḿnh. Nài nỉ cho đến lần thứ tư, chủ nhà
mới thu nhận món quà của tôi. Tôi định nói
với chú em rằng, người ta chê quà của ḿnh,
th́ tại sao lại ép uổng họ làm chi. Về sau
tôi mới biết phong tục của họ, trước khi
nhận quà phải từ chối ít nhất là bốn lần,
mới là lịch sự. Càng bị từ chối, th́ kẻ cho
quà càng phải nài ép dữ dội cho đến khi
người ta nhận quà ḿnh mới thôi. May quá,
tôi không phải là dân Nhật, nếu không th́
suốt đời tôi chẵng có một cô bạn gái nào, v́
khi tôi tặng quà cho ai, chỉ một lần thôi,
họ không nhận là tôi mang về, bởi tôi hay
tôn trọng ư người khác, không muốn ép uổng
và làm trái ư ai. Sau nầy, trước khi tôi về
Mỹ, chú em tặng tôi món quà, tôi không từ
chối lần nào, c̣n hăm hở cầm lấy và toét
miệng ra cười vui vẻ, để chứng tỏ là ḿnh
thích món quà, theo lối xă giao thông
thường. Lúc đó, tôi đọc được ánh mắt ngạc
nhiên lạ lùng của chú em và vợ chú, có lẽ họ
đă thành người Nhật, và không hiểu được tại
sao ông anh ḿnh nham nhỡ, thiếu lịch sự
đến thế.
Chúng tôi vào
pḥng khách, ngồi xuống sàn, toàn sức nặng
hai mông đè lên đôi chân. Ngồi lâu đau đớn
nhức mỏi cả bàn chân và cả đôi mông, cũng
phải cắn răng mà chịu. Tôi trở qua trở lại
đổi thế ngồi lia lịa. Khi chân mỏi và đau
quá, tôi quên mất lời dặn của chú em , bèn
co chân rảy mấy cái thật mạnh ra phía trước.
Bà chủ nhà hoảng vía như có chuyện động trời
xẫy ra, chú em tôi th́ mặt nhăn như cái bị,
đè chân tôi xuống, và nói nhỏ: “ Đừng, đừng.
Người ta cho là thiếu lịch sự, và hỗn láo
lắm. Có mỏi chân thỉ ráng chịu, chứ đừng làm
thế. Kỳ cục.” Tôi ngồi im, vừa ngượng mà vừa
tê chân. Biết thế th́ thà đừng nhận lời ăn
cơm với ông bà nầy cho cái chân đở chịu cực
h́nh. Ông chủ nhà th́ cười mỉm, có vẽ thông
cảm cho cái cực h́nh mà khách đang chịu.
Trong lúc ăn cơm, vợ tôi nói là thức ăn lạt
quá, nhờ tôi với tay lấy chai x́ dầu. Tôi
cầm chai x́ dầu mà rắc vào chén của vợ tôi.
Chú em tôi á lên một tiếng, chận tay tôi
lại. Ông bà chủ nhà và hai người con cũng
tṛn mắt nh́n chúng tôi với vẽ ngạc nhiên,
khủng khiếp, như tôi vừa phạm một sai lầm
khó dung thứ. Chú em tôi đỏ mặt giải thích:
“ Chỉ có phù
thủy và thầy cúng mới được phép tưới x́ dầu
vào chén cơm, và chỉ làm được cho người chết
mà thôi. Người thường, th́ rót x́ dầu vào
đĩa nhỏ mà chấm thức ăn.”
Mặt tôi nóng
bừng, v́ phạm từ sai lầm nầy cho đến sai lầm
kia. Chắc chủ nhà phiền tôi lắm, và có lẽ
hai người con của họ đánh giá tôi như kẽ
thiếu giáo dục. Trong bữa ăn, tôi suưt phạm
thêm một lỗi lầm lớn nữa, là khi ăn ớt cay,
nước mũi tôi chảy tḥ ra, quẹt đi mấy lần mà
không hết, tôi móc khăn giấy định x́ mũi,
th́ vợ tôi nhéo tôi một cái vào chân đau
điếng, để nhắc nhở là đừng x́ mũi mà ráng
chịu đựng. Cứ thút thít như khóc, cho mũi
nước ló ra thụt vào, th́ được người ta đánh
giá cao, v́ ḿnh giỏi chịu đựng. Sau đó t́m
một nơi kín đáo không có ai, mà x́ mũi cho
đă đời, cho đở khổ. Nếu x́ mũi khi có người
khác, th́ là thuộc hạng thiếu giáo dục, vô
loài, người ta cười cho, và khinh bỉ. Điều
nầy tôi đă được căn dặn trước.
Hôm sau,
chúng tôi đi viếng khu phố Shinjuku, một khu
thương măi rộn rịp . Cũng phải bắt xe điện
mới đến nơi. Hôm nay chủ Nhật, đă gần mười
giờ sáng mà phố phường cũng chưa mở hết. Đây
là một trung tâm thương măi, có hàng ngàn
sạp hàng nhỏ, hàng ngàn tiệm buôn bán, đủ
các loại hàng, loại sản phẩm. Chú em tôi cho
biết khu nầy không được sạch sẽ lắm, nhưng
tôi thấy đường sá cũng không có một cọng
rác. Một khu phố thương măi lớn, người
người tấp nập. Trước nhiều cửa hàng, có
người ăn mặc áo vét, cà-vạt đàng hoàng, đang
bắc loa, la hét, mời mọc khách hàng vào mua.
Cứ ngoác miệng ra mà gào, không biết khản
cổ, gào liên tu bất tận, không ngưng nghỉ.
Bên góc ngă tư đường lớn, có ba anh tuổi
trên dưới ba mươi, dựng một cái biển bằng
giấy cứng rất lớn, có h́nh cái mông trần của
người đàn bà, đủ lông lá, và ở chổ tiếp giáp
hai chân có màu sắc đen điu, trông vô cùng
tục tỉu. Không biết họ quảng cáo cái ǵ, tôi
không dám hỏi chú em, v́ ngại vợ tôi hiểu
lầm. Tôi không hiểu sao mà cảnh sát không
bắt mấy ông nầy, dong cái h́nh tục tỉu nầy
ra, có thể làm cho lũ trẻ con bị khích động
mà làm điều không tốt. Trước cửa vào của một
ngân hàng lớn, trong góc, có che hai tấm
mành cao cở đầu người, trên tấm mành có dám
nhiều miếng giấy nhỏ, có lẽ ghi lời khen
thành tích của bà thầy bói do các thân chủ
viết. Sau hai tấm mành là bà thầy bói nổi
tiếng của khu phố, người ta gọi bà là
”Singjuku Nohana Mama” Bà đang xem chỉ tay
cho một cô gái, và có năm cô khác đang ngồi
tựa mông lên thành tầng cấp làm đuôi chờ. Có
một ông vô gia cư, đang ngồi tựa lưng vào
tường, tóc tai dài thậm thượt, mặt mày râu
ria phủ kín, coi bộ mệt và đói. Chú em cho
biết, mỗi ngày cảnh sát đem tiền cho tận tay
những người nầy, ước chừng năm đô la Mỹ, để
họ mua thức ăn cho khỏi đói. Cho từng ngày,
chứ không cho một lần, sợ họ tiêu hoang mà
không có tiền mua cơm. Tôi nghĩ chính quyền
địa phương cũng có ḷng nhân đạo. Có lẻ
những người vô gia cư nầy, cũng bị bệnh thần
kinh, sống vật vờ trong ảo giác. Suốt một
ngày đi phố, tôi chỉ gặp một ông vô gia cư
nầy mà thôi. Đứng ở đầu cầu là một bạch y
đạo sĩ, ăn mặc như một tướng công thời thế
kỹ mười lăm. Áo bào rộng tay, thắt lưng bản
lớn, chân bó xà cạp, đi giày ống của ông
táo, đội một cái nón to như cái thúng úp
trên đầu, một tay cầm thiền trượng, tay kia
cầm cái bát dong lên trời cao. Ông đang đọc
thần chú hay đọc kinh chi đó, cứ lải nhải
măi. Bộ áo quần trắng tinh, sạch sẽ, để
toát ra cái vẽ sang trọng. Có lẻ ông ta đang
quyên tiền, hay xin tiền ǵ đó, không biết
có ai đủ can đảm để cho tiền con người sang
trọng như vậy hay không. Tôi thầm nghĩ,
không biết mỗi ngày tiền xin được có đủ chi
phí giặt ủi cho bộ đạo y trắng tinh kia
chăng? Tôi đứng lại thật lâu để xem có ai bỏ
tiền vào cái bát của đạo sĩ không, chờ lâu
quá, mà không thấy ai cho, tôi bỏ đi. Trên
phố, đường chật chội, xe cộ cũng khá đông,
băi đậu xe là những căn nhà, có dàn sắt đễ
chồng xe lên nhau. Có người vận hành dàn sắt
đưa xe lên xuống. Cũng là một lối giải quyết
chỗ đậu xe. Tôi thấy xe đạp cũng treo chồng
chất lên nhau, để có thể tiết kiệm khoảng
không gian.
Chú em đưa
tôi vào một khu thương măi, người Nhật gọi
là “departo”, có lẻ đó là danh từ nói tắt
của tiếng Anh là department story mà người
Nhật đă mượn và chuyển hoá thành tiếng Nhật.
Khu thương măi có nhiều tầng, bán đủ các thứ
hàng hóa, không khác chi các khu thương măi
khác của các xứ tân tiến. Đặc biệt ở tầng
cuối cùng đưới đất, là một cái chợ bán thức
ăn nấu sẵn. Thức ăn hàng hà sa số. Đủ các
thứ cá, thịt, tôm, cua, rau, bánh kẹo, đă
nấu sẵn, làm sẵn. Đặc biệt nhất là dưa muối,
có thể nói là có hàng trăm thứ dưa khác nhau
làm bằng đủ thứ rau, trái, và chất liệu ngâm
dưa. Người bán hàng mời khách ăn thử dưa, có
những thứ dưa rất ḍn, ngon, và mùi vị đặc
biệt. Với hàng trăm thứ dưa khác nhau nầy,
người Nhật đáng được tôn vinh làm sư tổ về
món dưa của thế giới. Bây giờ tôi mới biết
dân ḿnh chỉ có dưa cải, dưa món, dưa mắm,
hơn được một chục loại dưa, chưa đáng tŕnh
độ học tṛ về món dưa của dân Nhật. Vợ tôi
cho rằng, ăn dưa là một lối hà tiện của
những vùng đất hiếm hoi thức ăn. Bỡi vậy nên
miền Bắc, miền Trung nước ḿnh ăn dưa nhiều
hơn dân miền Nam. Tôi đứng lại xem làm sushi
ở một quầy hàng, thấy một con cá tươi thịt
đỏ ḷm, bề ngang chừng một tấc tây, bề dài
chừng bốn tấc, trải lên bàn, cơm dẻo được
đắp lên một lớp dày. Họ dùng vải ém lại cho
chặt, rồi cắt thành từng lát mỏng. Thế là có
thể đút vào miệng mà nhai miếng cá sống có
dính chút cơm. Vợ tôi rùn vai thè lưỡi và
kéo tôi đi. Cứ nh́n cái khu chợ thức ăn nấu
sẵn nầy th́ suy ra dân Nhật ít nấu nướng. Mà
có thức ăn nấu sẵn bán nhiều và ngon như thế
nầy, th́ tội chi mà nấu ăn cho mệt. Chắc chi
tự nấu đă ngon hơn và rẻ hơn. Tôi dục vợ
tôi mua đủ thứ cá chiên, bánh trái, và thịt
nấu, trông ngon lành lắm. Giá cả cũng rất
phải chăng. Họ bỏ thức ăn vào hộp, bao bọc
bên ngoài bằng giấy hoa, cột lại cẫn thận,
sau đó bỏ vào bao ni lông sạch sẽ, đẹp hơn
cả mấy món quà tặng Giáng Sinh mà tôi thường
nhận được. Vợ tôi cho rằng dân Nhật là giống
dân ưa điếu đóm nhất trên thế giới, nên gói
quà đẹp. Bây giờ tôi mới bớt thành kiến là
món ăn Nhật nghèo nàn, và tưởng đa số chỉ là
tẩm bột và chiên dầu. Những tô ḿ sợi của
Nhật, trông thấy rất bắt mắt v́ cách trang
hoàng, màu sắc rực rỡ, khêu gợi cái thèm ăn,
tưởng là ngon lắm, nhưng rất khó nuốt nếu
chưa quen ăn. Theo tôi, th́ tô ḿ của người
Trung Hoa ngon hơn tô ḿ của Nhật đến mười
lần, mà tô ḿ của Trung Hoa th́ thua xa tô
ḿ Việt Nam, thua xa tô hủ tiếu Nam Vang, tô
bún ḅ, tô phở.
Khi đi trên
phố, tôi moi mấy cái bánh ra ăn, chú em cản
lại, bảo rằng lịch sự ở Nhật không cho phép
vừa đi vừa nhai nhồm nhoàm. Ăn ngoài đường
cũng có thể được, với điều kiện phải có ghế
ngồi. Tôi chỉ vào cái quán nhỏ bên đường, có
mấy người đứng úp mặt vào tường mà húp ḿ
nước, hỏi tại sao những người kia đứng ăn mà
không ai nói ǵ. Chú em giải thích là họ
đứng ăn trong quán, và úp mặt vào tường,
không ai thấy, ở Nhật người ta ăn đứng trong
tiệm là thường. Vợ tôi muốn đi ăn quán Việt
Nam tại Nhật xem nấu ăn ra sao, nhưng đường
xa, không tiện. Chú em cho biết có tiệm Việt
Nam tại Tokyo, mở đă hơn ba mươi năm nay,
vẫn c̣n sống sót, chén bát của quán nầy sứt
mẻ lung tung, trong khi người Nhật th́ rất
trọng h́nh thức trong nghệ thuật ăn uống.
Hiện nay, tại Tokyo đă có gần chục tiệm Việt
Nam, dân Nhật đă biết và bắt đầu thích các
món ăn của dân ḿnh.
Khi xô cửa đi
vào cầu tiểu, thấy hai cô con gái đang tung
tăng đi ra, tôi đỏ mặt vội vă thối lui, nghĩ
là ḿnh đi lầm phía dành cho đàn bà, nhưng
thấy chú em tôi vẫn mạnh dạn tiến vào. Th́
ra ở Nhật, cầu tiêu đi chung. Vào trong nhà
cầu, tôi ngạc nhiên thấy loại cầu tiêu ngồi
chồm hổm như bên Việt Nam ḿnh, mà mấy ông
Tây gọi là cầu tiêu Thổ Nhĩ Kỳ. Ban đầu tôi
thấy tức cười, v́ bàn cầu đặt ngược, người
đi tiêu ngồi quay mặt vào tường, mông đưa ra
phía ngoài cửa. Khi nghĩ kỹ lại, th́ thấy họ
có lư, v́ nếu có ai vô t́nh mở cửa ra, th́
chỉ thấy cái mông mà thôi, không biết mông
ai, người bị nh́n cũng không phải ngượng.
Trường hợp nầy giống mấy cô gái miền sơn
cước bên Việt Nam ḿnh, khi làm vệ sinh, có
ai đi qua, th́ chỉ cần lấy nón úp mặt các cô
lại mà thôi, không cần che chỗ bí hiểm làm
ǵ, v́ của đời ai cũng thế mà thôi. Đi cầu
xong, tôi mới giật ḿnh t́m không ra giấy đi
cầu. Tôi sực nhớ có người đă dặn ḍ là cầu
tiêu công cọng ở Nhật không có giấy đi cầu.
May quá, tôi lục túi quần được mấy cái khăn
giấy, mừng hết lớn. Nếu không có khăn giấy,
th́ e không biết làm sao đây.
Chú em tôi
cho biết, tiếng Nhật là một trong những ngôn
ngữ khó học nhất, v́ phải nhớ mỗi mặt chữ,
và văn phạm cấu tạo lạ lùng hơn các thứ ngôn
ngữ khác. Túc từ đặt trước, chủ từ đặt sau.
Ví dụ như khi nói “ tôi về nhà” th́ phải
sắp đặt chữ theo thứ tự là “nhà về tôi” .
Khi nghe một người nói câu ǵ, th́ phải nghe
cho hết câu đă, mới xác định được câu nói
của họ. Khoan hớn hở khi mới nghe nửa câu.
V́ họ đặt phủ định túc từ ở sau cùng của câu
nói. Khi nghe ai nói : “ Tôi yêu anh ...”
th́ khoan vội mừng, v́ phải chờ chữ quyết
định cuối cùng đă. Nếu nghe thêm chữ “
không” nữa, tức là tôi không yêu anh. Thế
mới rắc rối chứ. Có lẽ người bộp chộp mà ở
Nhật th́ hố to nhiều chuyện.
Tôi
ra phố , khi cần thiết nói tiếng Anh với
người Nhật, họ ít khi trả lời, tôi tưởng
người Nhật ít kẻ học tiếng Anh. Nhưng về sau
mới hiểu là họ ngượng, nói tiếng Anh sợ sai,
chứ không phải là ï không biết. Trên báo
tiếng Anh tại Nhật, tôi thấy có rất nhiều
quảng cáo cần người dạy tiếng Mỹ, và điều
kiện tiên quyết phải là người sinh tại Mỹ.
Điều nầy làm tôi nhớ lại các giáo sư Anh văn
thời xưa, các thầy tập cho chúng tôi cách
nói sai, và không bao giờ sửa lại được nữa,
y như mấy ông Tàu bán hủ tiếu ở Chợ Lớn nói
tiếng Việt.
Chú
em giới thiệu tôi với một nhà thơ người
Nhật, ông nầy móc bóp đưa cho tôi tấm danh
thiếp. Tôi tḥ tay cầm lấy và cất ngay vào
túi. Tôi đọc được vẽ thất vọng trên khuôn
mặt và trong đôi mắt của ông. Về sau chú em
tôi giải thích rằng, người Nhật gặp nhau là
trao đổi danh thiếp. Người không có danh
thiếp là chẵng làm ăn ǵ được cả. Không có
danh thiếp th́ xem như hạng cầu bơ cầu bất,
chẵng có giá trị ǵ. Khi trao và nhận danh
thiếp, th́ phải đưa và nhận bằng hai tay.
Nhận xong không phải đút ngay vào túi, mà
phải nh́n kỹ càng vào cái điều họ khoe trên
danh thiếp, dù ḿnh đă biết tỏng họ là ai
rồi. Đừng viết lên danh thiếp của họ, làm
thế là xúc phạm . Tôi nhận danh thiếp bằng
một tay và cất ngay vào túi, không có danh
thiếp trao đổi lại, th́ ông thi sĩ kia không
thất vọng sao được. Tôi đi du lịch, mang
danh thiếp theo làm chi ! Vă lại, tính tôi
không ưa trao danh thiếp cho ai, nhận danh
thiếp th́ được. Đâu phải như cái anh chàng
Từ Hăi trong truyện Kiều, đi chơi bời trụy
lạc, mà cũng đưa danh thiếp ra khoe. (Thiếp
danh đưa đến lầu hồng. Hai bên cũng liếc,
hai ḷng cũng ưa). Không biết thời nay có
c̣n ai dại dột làm thế không? Cảnh sát kiểm
tục chắc mừng lắm, tha hồ mà lấy chứng cớ
đưa ra ṭa.
Chiều hôm đó,
chúng tôi được tiếp chuyện với hai vợ chồng
người Nhật khác, họ có người con gái sắp du
học ở Mỹ, tại đại học Berkeley, gần thành
phố tôi cư ngụ. Họ muốn gởi gắm cô con gái,
nhờ chúng tôi thỉnh thoảng chiếu cố và săn
sóc. Nhưng họ không đi thẳng vào vấn đề, chỉ
nói chuyện quanh co, bóng gió, lang bang. Đă
được chú em dặn sẵn, người Nhật không bao
giờ mặc cả thẳng thừng, không bao giờ nói
toạc móng heo ra, chỉ bóng gió loanh quanh,
và hai bên ngầm hiểu mà thỏa thuận nhau. Chú
c̣n dặn thêm, đừng bao giờ nói “không”, đừng
bao giờ bác bỏ đề nghị của ai. Thật là khó.
Ở Mỹ, nói có và nói không rơ ràng, mà c̣n
đưa nhau ra ṭa kiện tụng lung tung nữa là.
Tôi nhớ các thanh niên bạn tôi ở Huế, khi
yêu và muốn quen cô nào, cũng không dám đi
thẳng vào vấn đề t́nh yêu, mà nói loanh
quanh là muốn làm bạn, muốn quen trong một
liên hệ trong sáng, không hậu ư, không vẩn
đục, thơ mộng. Và các cô cũng loanh quanh,
chỉ muốn làm em gái thôi, không có t́nh ư
ǵ. Th́ ra, người Nhật giống thanh niên Huế
trong thời đại tôi quá.
Sáng thứ
bảy, một người bạn cũ của tôi, đến thăm và
dự định đưa chúng tôi đi thành phố Yokohama
chơi. Anh đi vượt biển được tàu Nhật vớt,
ở lại dịnh cư, và lấy vợ Nhật. Những năm đầu
th́ đi làm phu khuân vác ở bến tàu, khổ nhọc
lắm, nhưng bù lại, có tự do. Những năm sau
nầy nhờ buôn bán làm ăn khá, mở hăng xuất
nhập cảng, vận chuyển hàng hóa giữa Nhật và
Việt Nam. Vợ tôi có hẹn với vợ chú em tôi
nên không đi được, tôi di một ḿnh. Anh bạn
nầy là một tay chơi thứ thiệt, không có món
ăn chơi nào mà anh bỏ qua. Anh lái xe đưa
tôi về Yokohama, một thành phố hải cảng, đưa
tôi đi thăm phố Âu Châu và phố Tàu. Khu phố
Âu, th́ nhà cửa đường sá giống như một thành
phố nhỏ bên Ư. Đường cũng hẹp, phố thấp. Khu
Phố Tàu th́ có bốn cỗng ở bốn góc, sơn màu
đỏ như cỗng vào khu phố Tàu ở San
Francisco. Buổi trưa chúng tôi ăn cơm Tàu,
cơm Tàu ở đây không giống đâu cả, hương vị
ớn óc, cố gắng lắm mới nuốt hết một phần ba
đĩa.
Anh bạn chỉ
cho tôi thấy cái khách sạn có tháp cao đồ
sộ , có tượng, có cây cối trồng đẹp đẻ. Anh
nói đó là “khách sạn t́nh yêu” . Anh cho
biết ở Nhật có rất nhiều loại khách sạn loại
nầy, để người ta thuê vài giờ, làm chuyện
yêu thương vợ chồng. V́ nhà cửa chât chội,
vợ chồng muốn có tự do yêu nhau, mà không
phải len lén v́ sợ con cái nghe tiếng động,
nghe tiếng kêu rên lạ tai. Hoặc không muốn
trùm mền múa lân che dấu con cái c̣n nhỏ.
Người đàn bà Nhật khi sung sướng trong t́nh
yêu, không gào thét gầm gừ như đàn bà Âu
Châu, mà kêu là “ đau, đau quá”. Anh bạn kể
, lần đầu tiên gần gủi vợ, nghe kêu đau, anh
phải ngưng lại nhiều lần và định bỏ cuộc
luôn. Nhưng sau nghe vợ giải thích, anh mới
hiểu. Loại khách sạn nầy rất phổ biến tại
các thành phố lớn. Trang bị bên trong rất
điệu đàng. Có giường rung, có kiếng bốn mặt
tường, và kiếng trên trần nhà để người sử
dụng thấy h́nh họ trong đủ mọi tư thế. C̣n
có cả máy quay băng nhựa ghi lại cuộc chiến
đấu vật lộn trên giường. Loại khách sạn nầy
tổ chưc rất chu đáo và cẩn mật. Sân đậu xe
được che kín, để người trong pḥng nh́n ra
không thấy xe của người khác, không thấy ai
vào ra. Khi mướn khách sạn, và đưa ch́a
khóa, khách hàng cũng được bảo mật. Nhân
viên khách sạn cũng không thấy mặt người
mướn pḥng, v́ ch́a khóa và tiền được đưa
qua một cái lổ nhỏ . Đi vào và đi ra bằng
hai lối khác nhau, không ai gặp ai cả, các
ông bà lén lút t́nh ái yên tâm mà vi vút .
Nhưng cũng có nhiều ông khi ra về, hoặc v́
mệt quá, hoặc gấp gáp mà quên lấy cuộn băng
video, để lại đó. Có khi bà vợ cũng lén lút
đi chơi với một ông bạn khác, vào thấy cuộn
video chiếu h́nh chồng ḿnh lăn lộn trên
giường với người khác, th́ về nhà cũng phải
im thin thít. Anh bạn nói rằng, có lẽ v́
loại khách sạn nầy, mà đàn ông Nhật hư hỏng
hơn, bồ bịch nhiều hơn. Và các bà Nhật cũng
dễ có cơ hội hơn để đi t́m nguồn t́nh cảm
khác bù đắp vào cái lạnh lùng của hôn nhân,
khi mỗi ngày ṿ vơ chờ ông chồng nồng nặc
mùi rượu trở về nhà lúc nữa đêm. Khi đi qua
một công viên, tôi thấy nhiều cặp, không
phải là trai gái, mà là các ông bà, xồn xồn
có, luống tuổi có, ngồi vuốt ve ôm ấp nhau
trên các ghế đá ở các nơi khuất lấp. Nếu là
vợ chồng, th́ việc chi mà phải có thái độ
lén lút như vậy? Ai cấm vợ chồng họ ngồi ở
nhà nói chuyện tâm t́nh? Anh bạn tôi nhận
xét rằng, không phải chỉ đàn ông Nhật hư mà
thôi, đàn bà cũng hư lắm. Anh thú thật với
tôi, anh cũng lén vợ,ï liên hệ t́nh cảm với
vài cô khác.
Buổi chiều, anh bạn dẫn tôi đến xem một
khách sạn “ḥm”. Khách sạn nầy có nhiều hộc
trên tường, mỗi chiều rộng chừng một thước
tây, dài hai thước. Giống như các hộp chứa
người chết ở trong các nhà xác. Người thuê
chui vào trong đó mà nằm, cuối hộp, có một
cái truyền h́nh nhỏ xíu, và có ngọn đèn lờ
mờ cho khách đọc sách, có cái đồng hồ báo
thức vừa là radio để nghe tin tức, nghe
nhạc. Hành lư phải để trong các hộc tủ khóa
bên ngoài. Anh bạn cho biết là đă từng ngủ
loại khách sạn nầy nhiều lần rồi. Lần đầu
tiên, có cảm giác như nằm trong ḥm, cũng
cảm thấy rờn rợn, và sau đó cả tháng c̣n sợ
huông.
Sáng sớm hôm sau, chú em đưa chúng tôi ra
nhà ga đễ lấy tàu lửa đầu đạn đi về Kyoto,
cố đô nước Nhật. May mà có chú đưa ra chỉ
ngơ vào, nếu không, th́ cái ga có nhiều từng
nhiều nhánh như màng nhện, th́ chúng tôi sẽ
lúng túng không biết đi ngơ nào. Tàu đầu đạn
có ghế ngồi rộng răi, sạch sẻ, sang trọng.
Tàu chạy êm như ngồi trong pḥng khách nhà,
không nghe tiếng rùng rùng, không lắc lư.
Tôi để ly nước mà không thấy bị sóng sánh.
Ông soát vé ăn mặc lễ phục, đội nón kết, oai
như một thủy sư đô đốc, nói năng lể phép dịu
dàng. Một cô bán hàng, cũng mặc đồng phục,
đẩy xe nước ngọt đi qua, cô rao hàng, tiếng
rao thật nhỏ, văng vẵng, như sợ hành khách
nghe tiếng cô rao. Trước khi đi qua toa tàu
khác, cô quay lại cúi gập ḿnh chào hành
khách. Th́ ra dân tộc nầy lịch sự quá, không
phải khi nào cũng gấp gáp, nạt nộ như tôi
tưởng. Khi lên tàu, chúng tôi nghe loan báo
sẽ đi đâu, ghé tỉnh nào, qua vùng nào. Và
trong lúc tàu lửa di chuyển, cũng có một
hàng quang báo, bằng chữ Anh, cho chúng tôi
biết tàu đang đến đâu, ga kế tên ǵ. Rơ
ràng, không thể lạc đường được. Miễn đừng có
ngủ quên khi đi qua cái ga ḿnh muốn xuống.
Hai bên đường, chúng tôi thấy nhà cửa nho
nhỏ, hai ba từng san sát. Có nhà nằm ngay
dưới trụ đèn cao thế. Ra ngoại ô, thấy ruộng
vườn rất ngăn nắp, sạch sẽ, khang trang và
cắt xén gọn gàng, đẹp như công viên. Ruộng
sát ngay nền nhà không chừa một khoảng cách
nhỏ nào. Nông dân trồng trọt dùng toàn cơ
giới. Tôi ngạc nhiên, đi mấy trăm dặm mà
không thấy bóng một con trâu, con ḅ, hoặc
dê, ngựa. Gia súc đem dấu đâu hết? Hai bên
sườn đồi, những vồng trà xén đẹp như cây
kiểng. Tôi thấy vài cái nghĩa địa cheo leo
sườn đá, trên rẻo đất chật hẹp, với những
tấm bia mộ thấp san sát, có lẽ người ta chôn
hủ tro xương bên trong ô đất nhỏ. Nghĩa địa
trông u buồn và nghèo nàn lắm.
Chúng tôi đến
Kyoto vào buổi trưa. Ga chính Kyoto là một
khu thương măi lớn, nhiều từng, bán dủ các
thứ hàng hóa sang trọng, và có cả ba bốn
chục quán ăn lớn nhỏ, rộng mênh mông. Không
có ai hướng dẫn cả, cũng không cần hỏi đường
ai, chỉ đi theo hướng dẫn trên bản đồ của
khách sạn. Ra ngoài ga, rẽ phải, đi hai góc
đường, rẽ phải lần nữa, đi thêm một đoạn,
nh́n qua trái, th́ thấy ngay tên Century
Hotel. Tôi chuẩn bị tinh thần để nằm trên
tấm chiếu trải dưới sàn nhà mà ngủ. Nhưng
tôi thất vọng, v́ khách sạn nầy có giường,
có bàn, có pḥng tắm như tiêu chuẩn khách
sạn tây phương. Tôi muốn nằm trong khách sạn
kiểu Nhật, nằm sàn, tắm chung, cho biết mùi
vị, nhưng chú em tôi tưởng tôi thuộc giới
trưởng giả sang trọng, không đặt thuê các
loại tiêu biểu Nhật mà thuê khách sạn kiểu
Tây phương. Được nằm như nằm đất trong khách
sạn kiểu Nhật mới có cái khoái cảm của người
đi du lịch. Vào khách sạn, chúng tôi hơi
ngượng v́ ăn mặc xuềnh xoàng, chung quanh
chúng tôi mọi người đều đóng bộ, áo vét, cà
vạt, áo kimono lễ phục, sang trọng sáng sủa,
nước hoa thơm phức. Chúng tôi thấy ḿnh bần
hàn quá, lên pḥng thay áo quần cho khá hơn
một chút, nhưng cũng chỉ áo quần đi du lịch
tầm thường thôi.
Buổi sáng
chúng tôi xuống pḥng ăn khách sạn điểm tâm.
Nh́n vào giá một bữa ăn sáng hai mươi lăm đô
la Mỹâ, vợ tôi nói, may mà đă tính vào giá
thuê pḥng rồi, nếu không, th́ thà chết đói
c̣n hơn. Trong pḥng, thực khách ăn mặc
trịnh trọng, nghiêm trang, áo kimono, áo
vét. Cô hầu bàn cũng mang kimono thùng
th́nh, cúi thấp chào, hai tay dâng tấm thực
đơn ra, và hỏi chúng tôi ăn cơm hay ăn
cháo. Vợ tôi cười, nói với tôi rằng, họ
tưởng ḿnh sắp đi làm ruộng hay sao mà buổi
sáng định cho ăn cơm cho đầy bụng ? Một
thoáng suy nghĩ, vợ tôi xác định một tiếng “
cơm” rất rơ ràng, tôi đưa mắt nh́n, vợ tôi
giải thích: “Ḿnh ăn cho no mà đi chơi. Giá
đắt thế nầy tội ǵ không ăn cho đở tiếc
tiền.” Chừng mười phút sau, cô hầu bàn bưng
ra hai mâm cơm. Mỗi mâm tôi đếm được mười
hai cái dĩa nho nhỏ, một tô cơm có nắp đậy,
một tô canh nước đục nhờ nhờ như nước rửa
bát có rắc vài hạt mè đen. Trong mỗi dĩa
nhỏ, có són một chút thức ăn : tương hoa cải
xanh, mù tạt vàng, ba cọng hành chẻ đôi
ngắn bằng lóng tay, bốn cọng đậu luộc, năm
cọng rau nhỏ như tăm xỉa răng, một quả mận
khô ướt nhẹt đen điu xấu xí, ba lát dưa,
miếng tàu hủ nhỏ vàng ngậy mỏng dính nổi lều
bều, một lát cá kho tí ti, và những thứ
khác tôi không biết là thức ǵ. Tí ti, tí ti
mỗi thứ một chút, như vét đâu đó trong thùng
rác vương văi những vụn thức ăn mà cho vào
đĩa. Vợ tôi húp một chút nước canh và nhăn
mặt nói: “ Thúi hoắc, nhạt như nước rửa
bát”. Tôi cứ ăn, dù trái mận chua lè, dù
tương cải cay rát lưỡi, dù canh nhạt và thúi
hoắc, những thứ không hợp với khẩu vị. Người
Nhật ăn không chết, mà họ thấy ngon, th́ có
lẻ lỗi tại cái lưỡi ḿnh, chứ không phải v́
họ nấu ăn dở. Tôi rán căng họng nuốt hết
thức ăn trong các dĩa với một thứ khoái cảm
tự hành hạ cái miệng ḿnh.
Ngồi kế bàn
chúng tôi, là một mệnh phụ mặt bôi trắng
toát như hát bội, mang bộ kimono xúng xính
sang trọng nhiều mầu sắc ḷe loẹt. Gương mặt
trầm tỉnh uy nghiêm. Bà mệnh phụ dùng hai
tay bưng tô canh đưa lên miệng và húp thành
tiếng sộp sộp rất lớn. Vợ tôi tṛn mắt ngạc
nhiên nh́n qua, tôi đá chân vợ tôi dưới bàn
ư muốn bảo đừng ḍm người ta.
Cô hầu bàn
lúp xúp vướng víu trong bộ kimono đến hỏi
chúng tôi là mọi sự có hài ḥa không? Vợ tôi
dài giọng ra như các bà người Mỹ khen xă
giao : “Tuyệt, tuyệt vời”. Cô gập ḿnh lia
lịa để cám ơn.
Ăn xong,
chúng tôi ra bến xe buưt đưa du khách đi
tua. Đa số là người Nhật, hướng dẫn viên du
lịch nói tiếng Nhật, giọng cô ngọt, thanh và
êm ái, như ca hát. Tôi không hiểu cô nói ǵ,
nhưng cũng nghe êm tai. Thỉnh thoảng cả xe
cười ồ lên, không hiểu họ cười chuyện ǵ,
nhưng chúng tôi cũng không nhịn được cười và
cười theo. Trong một ngày, mà xe đưa chúng
tôi đi thăm được năm thắng cảnh nổi tiếng
nhất tại Kyoto. Đặc biệt nhất cho chúng tôi
là đến Nhật đúng vào dịp hội hoa anh đào.
Khắp nơi hoa anh đào nở hồng trời hồng đất.
Những tàng hoa che lấp trời, vạn cánh anh
đào theo gió rơi rơi như mưa hoa. Mặt đất
cũng thành màu hồng nhạt, và khi gió thổi,
th́ muôn vạn cánh hoa lăn tṛn đuổi nhau
chạy trên đường như tấm thảm hổng rung rinh.
Dưới các gốc anh đào, người ta trải chiếu
đông đảo, ngồi quanh, ăn uống, nhấp rượu và
chuyện tṛ, tận hưởng cài hạnh phúc của một
mùa hoa măn khai.
Chúng tôi
được dẫn đi thăm các chùa chiền, các đền thờ
thần đạo. Những đền đài xây cất vào thời xa
xưa mà to lớn, cao ngất, với những cây cột
vĩ dại, những mái nhà mênh mông, chứng tỏ
người Nhật vào thời xa xưa đó, cũng đă có kỹ
thuật xây dựng rất cao. Đặc biệt nhất là sợi
dây thừng vĩ đại kết bằng tóc người, khi xây
đền thờ, không có loại dây nào chịu nỗi sức
nặng của những cây trụ gỗ lớn, dân trong
vùng hiến tóc để làm dây thừng xây chùa. Vào
thăm cựu hoàng cung, thấy trống rốc, không
có ngai vàng, cũng không có bàn ghế, không
giường sạp ǵ cả. Tôi sực nhớ trong các phim
Nhật, các ông vua ngồi bệt giữa sàn, quần
thần cũng quỳ mẹp trên sàn gục gặc nói với
nhau như căi vả. Các đền đài thần đạo, có
vẻ như kiên cố và to lớn hơn các cung điện
nhà vua, cũng có tường cao, hào sâu, đền đài
rộng răi. Chung quanh sân của hoàng cung có
rải sỏi trắng, đi nghe lào xào dưới chân.
Người ta bảo là để pḥng ngừa thích khách,
dù cho họ có khinh công thâm hậu đến đâu,
cũng phải đi đứng chậm lại, và khó tránh
được tiếng động. Cũng như sàn gỗ của hoàng
cung, ván lót mỏng và ọp ẹp, đi nghe gỗ rên
ken két, không phải là họ hà tiện ván trong
khi xây cất, mà là biện pháp an ninh. Những
cây cột, và xà nhà th́ to lớn vĩ đại chắc
chắn. Thế mới suy ra là các vua chúa, các sứ
quân thời xưa bên Nhật thường sống trong lo
âu, trong đề pḥng, không yên ổn an vui. Xem
phim Nhật, ít khi thấy bọn vua chúa quyền
hành nầy cười, và nói những lời dịu dàng,
không nạt nộ cau có.
Ngoài bức
tượng Phật bằng đồng rất lớn vùng ngoại ô
Tokyo, bức tượng mà mặt rất Phật quạu, mặt
bí xị, không có nét thanh thản an nhiên của
bậc đắc đạo. Đa số các chùa khác, th́ tượng
Phật rất nhỏ, đơn sơ, và không có tượng đẹp.
Có những tượng bằng đá xù x́, tróc lở, du
khách đến lấy gáo, xối nước lên tượng, bỏ
tiền vào hộp cúng chùa, rồi đưa tay xoa vai
xoa đầu bức tượng. Cái hành động xoa mó, sờ
soạng bức tượng Phật làm mất vẽ trang nghiêm
kính trọng trong tôn giáo. Hay là xoa mó như
vậy là tỏ t́nh thân mật, là sờ lấy hên
chăng? Vợ tôi nói: “Chắc bọn xấu lợi dụng
bày ra chuyện sờ mó Phật mà phải trả tiền,
đâu phải là bia ôm, cà phê ôm ờ Việt Nam?”
Một số rất nhiều các tượng nhỏ khác, th́ nằm
dưới bờ bụi ven hai đường đi, được trùm bằng
những mảnh vải bạc màu, rách rưới, xơ xác,
trông thảm năo lắm, giống như những kẽ không
nhà vất vưởng bờ bụi. Những bà Nhật đứng
trước tượng Phật cầu nguyện bằng cách dong
hai tay lên trời vỗ bốp bốp liên tiếp và
miệng hô lớn : “ Cà ri gà tồ, cà ri gà tồ ”.
Tại
Kyoto, một buồi chiều, chúng tôi ngồi bên
ghế đá dọc theo con kinh, hai bên trồng cây
đổ bóng mát. Dưới ḷng kinh, vạn cánh hoa
đào che phủ kín mặt nước như bèo, làm
thành tấm thảm lụa màu hồng. Tấm thảm chuyển
động, vạn cánh hoa như rượt đuổi nhau trên
mặt kinh. Trên bờ, hoa rơi như mưa, đậu lên
vai, lên tóc. Khách bộ hành tấp nập đi qua.
Chúng tôi ngồi nhàn nhă, vui với cái rộn ră
của phố phường trong thiên nhiên thơ mộng.
Trên đường
phố, chúng tôi thấy học sinh Nhật, trai gái,
mang đồng phục rất đẹp mắt. Những bộ đồng
phục như sinh viên sĩ quan trường hải quân,
trông oai vệ, đàng hoàng, lưng đeo túi
sách. Các em sắp hàng một đi bộ, nh́n vào
thấy toát ra cái kỹ luật tự giác cao.
Khi nghe vợ
tôi nói là sau khi về hưu, sẽ qua Kyoto thuê
nhà ở năm ba tháng cho vui, chú em tôi cho
biết là tại Nhật, có những ông bà già cho
thuê lại một phần nhà của họ, để du khách ở
trong dài hạn. Thuê nhà ở Nhật, ngoài đóng
tiền cọc ra, c̣n phải có quà tặng cho chủ
nhà. Người mướn nào tặng quà có giá trị hơn,
th́ chủ nhà sẽ cho họ thuê. Chú em tôi,
cũng phải tặng ông chủ hai tháng tiền nhà,
mới thuê được căn nhà đang ở.
Đi thăm xứ
Phù Tang mấy ngày, nhiều thành kiến về người
Nhật trong tôi thay đổi. Không phải đa số
người Nhật lúc nào cũng loăng quăng, hốt
hoảng, đi không ra đi, chạy không ra chạy,
tướng dáng hùng hổ, và ăn nói gầm gừ như nạt
nộ gây sự nhau. H́nh ảnh mà tôi thấy trong
các phim Nhật dường như mang quá nhiều kịch
tính. Người Nhật tôi gặp và tiếp xúc, họ
điềm đạm, nhỏ nhẹ, lịch sự, lễ độ, để toát
ra cái phong cách của một dân tộc có văn hóa
cao. Thức ăn của họ cũng không quá nghèo nàn
và quá đắt đỏ như tôi tưởng. Nhà cửa th́
chật hẹp, nhỏ bé, nhưng ngăn nắp, sạch sẽ,
tươm tất. Đường phố sạch, không có ai xả rác
bậy bạ, và được quét tước chăm sóc kỹ càng.
Điều mà tôi cảm phục dân Nhật nhất là ḷng
lương thiện. Không có ông tài xế taxi nào
gạt gẫm khách lạ, chở họ chạy quanh quanh để
kiếm thêm tiền. Mua hàng quên lấy tiền thối
lại, người bán hàng hốt hoảng chạy đuổi theo
trả tiền lui, đưa bằng hai tay, để tiền lên
khay, cúi gập ḿnh lịch sự chào và trên môi
cười thân thiện, không cau có trách móc. Vợ
của bạn tôi kể câu chuyện vừa xẫy ra trong
căn cứ Mỹ mà chị đang ở. Rằng có một thanh
niên Mỹ qua Nhật thăm bà con, lái xe đi chơi
đêm, khuya về gây tai nạn, cán ba ông Nhật,
hai ông chết một ông hấp hối. Bị bắt, khi ra
ṭa, anh khai rơ là đang chạy xe trong ḷng
đường, bỗng thấy ba bóng đen nhảy ra đầu xe,
gần quá, và bất thần nên thắng không kịp. Ba
bà vợ của các nạn nhân, thưa với quan ṭa,
đại ư rằng, xin ṭa cho điều tra kỷ thêm, v́
chồng của các bà hay đi chơi về khuya say
sưa bí tỉ. Về sau, khi ông chồng hấp hối
được cứu sống, tỉnh dậy ông cho biết hôm đó,
ba ông thách nhau, xem ông nào có đủ can đảm
nhảy ra trước đầu chiếc xe đang chạy qua. Cả
ba ông cùng nhảy ra một lúc. Nhờ lời nói của
ba bà vợ, và nhờ lời khai của nạn nhân, anh
gây tai nạn khỏi bị tù và trắng án. Nghe
câu chuyện, tôi buồn mà nghĩ đến tại Mỹ, các
hăng bảo hiểm khuyến cáo người lái xe đừng
bao giờ nhận lỗi về ḿnh, dù biết rơ ḿnh có
lỗi mười mươi đi rồi, cũng im lặng thôi.
Biết ḿnh có lỗi mà không nhận là thiếu
lương thiện, là muốn đổ cái lỗi lầm cho
ḿnh cho người khác gánh. Vợ tôi thở dài hỏi
: “ Không biết bao giờ bên Việt Nam ḿnh mới
có được một phần nhỏ tấm ḷng lương thiện
của dân Nhật? Cả nửa thế kỷ nay, làm chuyện
trăm năm trồng người, chuyên vun tưới toàn
mầm hận thù, gian dối, bạc ác, đấu tranh .
Con người khô cạn niềm tin yêu, biết khi nào
mới thoát ra được cái di hại lâu dài đó?”
Chú em tôi trầm tỉnh nói : “ Chị đừng lo,
tôi tin tưởng vào hồn thiêng sông núi, tôi
tin tưởng vào cái thiện tiềm tàng trong ḷng
người, sẽ phá tan mau lẹ những ma quái, ác
hại của một thời đại điên khùng. Cái nôi của
những chế độ điên khùng đă tan ră, và dân họ
đang trên đường b́nh thường hóa cuộc đời.
Lịch sử đang vận chuyển, không ai có thể cản
nỗi bước tiến của nhân loại.”
Tràm Cà Mau.