chu trầm nguyên minh

 

TỘI NGU

 

 

 

3


 

Qua khỏi bến xe, qua một cây cầu, vượt đường ray xe lửa, đi thêm chừng mươi phút xe đạp, rẽ phải, con đường đất dẫn qua một cánh đồng. Ở giữa cánh đồng này có cái chòi, trước chòi có một cây trứng cá, tàng tỏa rộng, che mát cái sân nhỏ khi trời đứng bóng.

Căn chòi nhỏ, lợp tranh, vách được chằm bởi đủ thứ vật liệu, tôn cũ, ván bể, giấy cạt tông… những thứ người ta bỏ ở những đống rác. Căn chòi nghèo nàn, tạm bợ. Bên trong, phía phải treo một cái võng của bộ đội Trường Sơn, trên vách treo lá cờ Đỏ Sao Vàng và lá cờ Búa Liềm. Phía trái là bếp nấu ăn, ở giữa đặt một bàn làm bằng những đoạn tre lồ ồ kết lại, trên bàn có hai khung hình được lồng kính, một là cụ Hồ, hình màu được phóng to, hình thứ hai là hình đen trắng cỡ 4.6 đã ố vàng nhưng vẫn nhìn rõ hình một cô bé cở 8 tuổi đứng trên boong tàu, giữa trời nước bao la, mặt hơi ngước nhìn bình minh phương xa, mái tóc tung bay trong gió. Cô bé trong hình đẹp như một thiên thần nhỏ. 

Đây là nơi dung thân của một Gã đàn ông ốm, da chì như bị sốt rét, có cái sẹo chạy từ trán cắt chéo mắt bên phải xuống tận mép tai.

Hòa Bình 1954, Hắn cùng với một người chị có tên trong danh sách học sinh trường B được Tập Kết ra Bắc. Cha Mẹ Chị Em đã nằm lại nơi vùng kháng chiến, lúc này chỉ còn ba chị em.

 

Chị thứ Tư, chị lớn nhất còn lại:

- Không phải ai cũng được tập kết. Vì sự cống hiến của gia đình ta và vì hai em là học sinh trường B, hai em mới được chọn.

Chị thứ Năm, chị có tên tập kết cùng với Gã:

- Em hiểu, nhưng hai em đi…bỏ chị lại một mình, em không đành

Gã thứ Sáu:

- Phần em, tùy nơi hai chị...nếu hai chị bảo đi thì em đi…

Ba chị em, trong căn chòi lợp rạ, vách trét bằng đất sét trộn với rơm, chỉ lớn hơn cái chòi hiện tại của Gã một cái sạp, đủ cho đứa em trai -là gã- ngã lưng, nhiều lần “hội họp” để giải quyết vấn đề Tập Kết, Đi hay Không [?]. Cuối cùng…một mình gã đi, tập kết ra Bắc.

Gã và chị Tư sau hai ngày lên rừng Bàu Sung, Láng Le … hái củi..

- Mai chị đi xuống Thị Xã..bán gánh củi.

Chị Năm nói.

- Chị nhớ ghé Cậu nói cho Cậu biết là em T. sẽ đi Tập Kết.

- Không cần, chẳng ích gì đâu em.

Cậu là người anh kế của má Gã, từ nhỏ được ông bà ngoại cho xuống Thị Xã học may, ra nghề, thời gian đầu may thuê đồ mộ cho Pháp, sau đó có vợ, lập tiệm may khá nổi tiếng, có nhà ở phố 30 căn. Trong suốt thời gian gia đình Gã trôi nổi trong vùng kháng chiến, Gã ít nghe nhắc đến người cậu này.

Buổi sáng Gã ra cánh đồng đã qua mùa gặt, chỉ còn trơ gốc rạ. Gã móc cua, thỉnh thoảng móc được cả ếch, những cái hang lũ cua đào trong mùa lúa đòng đòng để làm nhà ở trong mùa nắng, Gã không mấy khó nhọc khi đưa đoạn cây bằng ngón tay cái, dài 1m, ở đầu có gắn một cái móc như lưỡi câu cá tràu vào tận đáy hang và móc ra những chú cua, mập ú. Hai chị Gã sẽ làm sạch, gĩa nhuyễn rồi vắt lấy nước, nước cua không tanh nhưng hơi hôi mùi bùn, kho với muối, khi sôi đập một củ sã bỏ vào.. Đó là món ăn ngon nhất của chị em Gã. Nếu có ít tép mỡ tao cua trước khi kho, và bánh xèo nóng… là thành một đại tiệc.
Chị Tư đi xuống Thị Xã về, tiền bán gánh củi chỉ đủ mua một xắp vải màu nâu,  chục con cá lầm, loại cá ít thịt nhiều xương, lớn cở hai ngón tay, và một cục mỡ heo.

- Năm à.

- Em nghe đây.

- Em ngâm gạo chưa ?

- Dạ….em đã xay rồi.

- Có trộn ít cơm nguội không?

- Dạ có.

Chị Tư nhìn Gã:

- Chị đổ bánh xèo, ăn với nước cá lầm kho lạt.

Chị Năm nói:

- Em nó móc được một giỏ cua…và hai chú ếch.

Chị Tư nhìn Gã, nói như reo: 

- Có món em thích rồi. Chị sẽ kho cua –có tao tóp mỡ- ăn với bánh xèo nóng.

- Hoan hô chị.

- Bây giờ thì đi qua nhà Ông Bộ xin ít hành lá.

Gã bước ra khỏi cửa chòi, đi chếch hướng Tây Nam, qua hai đám ruộng, đến một cái gò cao, ở đó là nơi an nghỉ ngàn năm của những người họ hàng đã khuất bóng, bước qua con mương cát nhỏ, đã khô, không còn nước là vào đến khu vườn nhà Ông Bộ. Khu vườn, trồng toàn mãng cầu ta và một ít đu đủ.

Thời trước kháng chiến, gia đình Ông Bộ là địa chủ làng PB. Ông giàu có nhưng ăn ở nhân đức được mọi người trong làng tôn kính nể trọng. Nghe đâu, ngày xưa khi Cha Gã lưu lạc từ Quảng Ngãi vào, một thời gian dài, hết thời trai trẻ, làm thuê cho Ông Bộ, sau đó Ông Bộ thương Cha giỏi dang, hiền lành nên cho học nghề may.

Sau thời kháng chiến, Vợ chồng Ông Bà Bộ không còn, vợ con người con trai cả thừa kế khu vườn này. Họ ở trong một căn nhà lợp tranh, vách đất. Căn nhà ngói đỏ trước kia đã bị Tây đốt từ lâu.

- Nghe nói cháu đi tập kết.  

- Dạ.

- Phải sống sao cho xứng đáng với công lao của Cha… cháu nhé.

- Dạ.

- Chú tin tưởng vào chị em cháu… cũng như ngày xưa Ba của chú đã tin tưởng vào Cha của các cháu. 

- Dạ…cháu cảm ơn chú.

Gã cầm nắm lá hành trên tay, có điều gì làm lòng Gã bâng khuâng, còn ba ngày nữa Gã sẽ ra đi, sẽ xa nơi này, nơi Gã đã sinh ra với biết bao kỷ niệm. Gã sẽ bỏ lại tất cả, kể cả hai người chị thân yêu.

Bên lò than đã đậy khuôn đổ, chị Tư thỉnh thoảng lấy cánh tay quẹt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên mặt, chị nói cười như vui lắm vì thực hiện được điều chị ước ao là cho đứa em sắp đi xa, ăn món ăn mà đứa em thích nhất.

Chị Tư ngồi trên chiếc ghế đòn thấp, trước mặt là lò đổ bánh, bên phải là xoong bột đã xay có pha ít cơm nguội, chị cũng pha thêm nước đúng với độ lỏng cần thiết, trên mặt xoong bột nổi lềnh bềnh lá hành đã cắt cụt cở một lóng tay, kề bên là một cái rổ đựng giá sống, một tô mỡ heo đã thắng, một cây cạy bánh, một dụng cụ thoa mỡ làm bằng sóng lá chuối, có một đầu vạt xéo. Bên trái là một xoong nước mắm đâm có dầm ớt và cà chua đã được nấu chín, một cái tràn được kê cao, trên tràn có chén hành đã trộn ít mỡ heo, một tô đựng cua kho, một tô tương tự chứa nước cá lầm, chén, đũa…

Khi khuôn đã nóng, chị lấy cây thoa nhúng đầu xéo vào chén mỡ, bôi tròn lên khuôn, nghe xèo xèo..tiếp đến là múc vá nước bột vừa đủ tráng kín khuôn, đổ vào khuôn xèo…xèo…, nhón một nhúm giá sống bỏ lên, đậy nắp lại. Khuôn trùm kín miệng lò có 6 lổ hình tròn, trên 6 lổ này là 6 khuôn nhỏ, cái bánh sẽ ra hình tròn và đúng kích cở khuôn nhỏ này..

Chị Tư đổ bột giáp vòng 6 khuôn nhỏ, rồi giở nắp khuôn đầu tiên, dùng cây cạy, xếp bánh làm hai, thành nửa vòng tròn, Gã ngồi một bên nhìn chị thao tác rất rành rẽ, gọn gàng, hắn thầm thương người chị chịu thương chịu khó thay cha me tảo tần nuôi Gã.

- Em đưa chén.. chị bỏ cái này.. ăn cho nóng.

Gã đưa cho chị Tư cái dĩa duy nhất, mẻ một góc.

Chị Tư ngạc nhiên:

- Em…

Gã nói nhanh:

- Em muốn cúng Cha Mẹ.

Chị Năm nói:

- Ờ, phải đó. Em nó sắp đi, nên thắp cây nhang cho Cha Mẹ.

Chị Tư cảm động.

- Năm, em ra sân bẻ ít bông điệp cho em nó cúng. 

Chữ “cúng” chị phát âm nhỏ, hình như chị cố giấu dòng nước mắt.

Nhà nào trong làng cũng trồng ít nhất là một cây Bông Điệp, có loại bông màu vàng, có loại màu đỏ, dùng để đơm trên bàn thờ ông bà khi cúng kính. Trước chòi của chị em Gã cũng có cây bông Điệp hoa màu vàng, ra hoa quanh năm.

Gã đốt ba cây nhang cắm lên bàn thờ.

- Ba ngày nữa con đi tập kết ra Bắc. Con hứa với vong linh Cha Mẹ là con sẽ học thành tài. Hai năm nữa - Tổng Tuyển Cử- con sẽ về báo cáo thành quả học tập cùng Cha Mẹ. Cha Mẹ linh thiêng phò hộ hai chị và con bình an.

Trên chiếc bàn không còn nguyên vẹn, nó đã bị thực dân Pháp –bọn da đen gạch mặt- đốt cháy hết 1/3 trong một trận càn. Chị Tư phải mất nhiều ngày để tìm “vật tư” đóng ghép mặt bàn và chắp hai cái chân đã bị gãy một nửa. Trên bàn, chỉ có tấm hình nhỏ, đen trắng đã ố của Mẹ. Cha hắn không có tấm hình nào để lại.

Hắn ngồi xuống, đưa chén:

- Chị bỏ cái đó cho em. 

Hắn múc một vá cua kho, có tao tốp mỡ, đổ vào chén. Chị Tư tiếp tục cạy bánh bỏ vào chén cho đứa em mà chị thương yêu hơn cả cuộc đời của chị.

- Em ăn nhiều, chị sẽ vui lắm. 

- Dạ,  em 4 cái rồi.

Chị Năm nói:  

- Chị 3 cái. 

- Hai đứa bay ăn hết bột.. chị nhịn cho đó.

Gã cà rỡn: 

- Chị nói thiệt không….em ăn hết cho chị coi.

Chị Năm thách:

- Chị cũng nhường cho đó.

- Thôi..thôi... em nói giởn mà.

Gã thương hai chị nên gắng ăn đến cành hông.

Gã đưa chén cho chị bỏ bánh.

- Cảm ơn chị.

- Em ăn nhiều là chị vui rồi.. khỏi cảm ơn.

Tiếng bột đổ vào khuôn xèo..xèo... Chị Năm ăn nhỏ nhẹ, nói cũng nhỏ nhẹ, đúng phong cách người đẹp nhất nhà, nên Gã chỉ nghe loáng thoáng. 

- Em ăn đi…ăn nhiều lên..

- Dạ.

- Hai năm nữa mới có dịp đổ bánh xèo cho em ăn.

Hắn cười buồn:

- Thèm lâu chừng nào, ăn càng ngon chừng ấy mà chị.

Chị Tư lại nói:

- Em ăn đi…ăn nhiều thêm.

- Dạ...ngon ơi là ngon..

Chị Năm vừa múc một muỗng cua kho đổ vào chén của Gã:

- Thật không đó?

- Thật mà.. khoái khẩu quá chừng..

Chị Tư gạt cái bánh nóng vừa cạy vào chén chị Năm:

- Hai đứa ăn hết bột chị mới khen.

Gã trợn mắt:

- Em bể bụng mất.

Ba chị em cùng cười tưởng chừng như rất vui, nhưng trong thâm tâm Gã biết hai chị đang buồn vì sắp xa Gã. Gã cũng vậy.

Bỗng chị Tư nói:

-Em tập kết …chỉ có hai năm thôi.

Chị Năm thêm:

- Sau hai năm..tổng tuyển cử..em về..

Gã nói:

- Em biết - và cười -  hai năm, một cái vèo thôi.. chị hén.

- Đúng chỉ một cái vèo là chị em mình đoàn tụ lại thôi.

Trong ba ngày còn lại, chị Tư tiếp tục đi Củi, đem xuống Thị Xã bán. Chị mua đủ thứ cho đứa em sắp đi xa, một số thuốc chữa bệnh, nhiều nhất là thuốc ký ninh chữa sốt rét, 3 chai Nhị Thiên Đường và hai bộ quần áo cũ nhưng còn mới, không biết chị mua hay ai cho, và đích thân chị may cho Gã cái áo khoác từ xếp vải màu nâu mua ở chuyến củi đầu tiên.

Sáng ngày thứ ba chị Nguyệt đến cùng với một đứa con gái nhỏ, cở Gã, có đôi mắt to, đen, đặc biệt là mái tóc dài đến quá vai, và 5 người đàn ông, tuổi cở chị Tư..

Chị Nguyệt là « Người Trên Tỉnh”, năm 1952 đã về thôn N xã H, nơi gia đình gã đang sống, đưa Gã và chị Năm lên học trường B ở khu Lê. Chị là cán bộ cấp tỉnh, phụ trách Văn Hóa của Việt Minh.

Chị Nguyệt động viên hai chị của Gã đừng buồn và “Có chị, tụi bay khỏi lo cho thằng T”. Gã chào hai chị và ra đi, gã cắn răng để không bật ra tiếng khóc, nhưng khi quay lại nhìn lần cuối, Gã chỉ thấy cái bóng hai chị đứng nhìn theo, mờ trong màn sương trắng. Gã khóc tự lúc nào mà Gã không hay. 

Gã có một thân thể gầy còm, chỉ có da bọc xương, tay chân khẳng khiu, mảnh khảnh, da vàng ủng vì sốt rét, gã như một bộ xương biết đi.. Gã suy dinh dưỡng sau một thời đói khát bệnh tật, chỉ có đôi mắt to màu nâu dưới chân mày rậm của Gã là sinh động và đẹp đến lạ lùng, đôi mắt ẩn chứa một sức mạnh, một nghị lực. 

Đoàn người đến L-H thì trời đã xế chiều, chỗ tập trung chờ tàu rất đông người, Chị Nguyệt vào cái nhà làm văn phòng điều hành thực hiện mọi thủ tục cần thiết như yêu cầu, rồi trở ra đưa mọi người đến ngồi ở căn nhà cất tạm bằng lá buông.

- Chúng ta ăn cơm…chờ ghe, thuyền đưa ra tàu đang chờ ngoài khơi.

Mọi người lấy cơm vắt mang theo ra ăn với muối mè là chính, có người có cả trứng chiên. Đứa con gái, tên Thảo, ăn chung với người thanh niên tên Tân.. Tân bẻ vắt cơm làm hai đưa cho Thảo một nửa:

- Ăn đi em. 

- Dạ.

Sau này Gã biết đó là hai anh em ruột, quê ở Bàu Su, có cha hy sinh trong một trận càn, mẹ và hai người anh hy sinh trong trận bố ba ngày của bọn da đen đánh thuê. Lũ gạch mặt. Gia đình còn lại ba người, người chị ở lại.. 

Chị Nguyệt đưa tay chỉ chiếc ghe bầu từ ngoài biển đang chạy vào bờ:

- Chuẩn bị thôi, ghe vô kìa..

Khi chiếc ghe bầu dừng lại ở đầu chiếc cầu bắc từ bờ ra biển dài hơn 100m, một cán bộ mang cái xà cột khá lớn, hô to:

- Các đồng chí.. tập họp.. tập họp. 

Tân cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của Thảo.

- Nhanh lên em.

- Khẩn trương.. các đồng chí.. khẩn trương. 

Khi mọi người hàng ngũ chỉnh tề, Xà Cột nói:

- Ai được đọc tên...  bước ra khỏi hàng... nhanh chóng ra ghe..

Mọi người lần lượt được đọc tên. Khi chiếc ghe bầu kín người thì Xà Cột ngưng đọc, số người còn lại tan hàng. Chiếc ghe bầu nổ máy chạy ra biển. Gã, chị Nguyệt, Thảo, Tân đi đợt này, còn số người chung đoàn còn lại đi đợt sau.

Chiếc ghe bầu rẽ nước chạy về hướng Đông, chẳng mấy chốc chiếc tàu neo giữa biển hiện ra rõ dần. Đây là lần đầu tiên trong đời Gã thấy chiếc tàu to và dài đến như vậy, trên tàu đã đông người ra Bắc như Gã. Từ chiếc ghe bầu cập sát hông tàu, mọi người lần lượt leo lên boong bằng những dây thang thòng từ boong tàu xuống biển, trẻ em như Gã và Thảo có người giúp sức, thoáng chốc chiếc ghe bầu trống trơn, nổ máy và quay lại bờ.

Phải chờ đến đợt đưa người thứ 4, chiếc tàu mới nhổ neo. Đây là tàu của Ba Lan giúp Viêt Nam trong việc thực hiện chương trình di tản từ Bắc vào Nam thường gọi là “Di Cư” và từ Nam ra Bắc gọi là “Tập Kết “. Chương trình này đã ký kết giữa các bên bởi Hiệp Định Genève 1954.

Chiều đã xuống, ánh nắng vàng trải khắp trên biển cả mênh mông. Gã nhìn vào đất liền, gọi thầm: chị ơi!

Năm đó Gã 11 tuổi.


 

Trở lại phần 2

Xem tiếp phần 4


 

art2all.net