|
Đặng Tiến Thơ Hoàng Cầm Truyền thống và hiện đại
Hoàng Cầm - xưa và sau này
III. Mùa Thu tỏa nắng
Ai về bên kia Sông Đuống
Dịu dàng, đằm thắm và trong sáng, nụ cười ánh lên đôi mắt; dù rằng
câu thơ không nói gì về đôi mắt, ánh nắng và mùa thu vẫn tỏa ra từ
cái nhìn hồn nhiên, đôn hậu, ngời niềm hạnh phúc ấm và sáng, lên đời
sống nông thôn ảm đạm, xa xăm. Câu thơ sáu chữ đã xuất hiện từ lâu,
từ trước thời Nguyễn Trãi, nhưng không thông dụng về sau; nhịp thơ
tự do và khoan thai, nhẹ nhàng, cởi mở. Bốn âm bằng liên tiếp, trầm
lặng và cởi mở, cười như mùa thu, chợt lóe lên tia sáng sắc
cạnh của hai âm trắc tỏa nắng. Tia nắng bất ngờ nhắc chúng ta nhớ
lại ánh nắng cuối thu đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh: “Ở
ngoài, như ý mong ước của trúc, trời bỗng nắng to’’.
Đi buôn khắp cả phố phường Thân mẫu Hoàng Cầm bán vì sinh kế, đôi vai trĩu nặng đôi bồ, chăm chút nuôi con ăn học, và hình ảnh bà cụ (1891-1961) vẫn thường xuất hiện trong thơ:
Bên kia Sông Đuống Bóng dáng bà mẹ quê thấp thoáng trên những đường làng quạnh vắng, bước cao thấp bên bờ tre hun hút, hoặc trên những chuyến đò ngang miệng hé hạt na nhòa bến vắng, làm nhớ đến một bà Tú Xương chưa xa xôi lắm, và câu thơ Lưu Trọng Lư:
Nét cười đen nhánh sau tay áo Ta có câu ca dao Yêu người yêu cả đường đi. Đơn giản và chân xác. Bóng dáng cô hàng xén trên Đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú đã chồng lên hình ảnh cô gái quan họ:
Đêm hội Lim về
Đường tình không tuổi theo trời đất chuyển màu, từ đồng chiêm
đất rạn qua đồi chè nước ngập. Bước chân mẹ còn đê mê
cát mịn lại phải bấm sâu vào đường trơn mưa lạnh. Xuôi
ngược dọc ngang, những nẻo đường trong thơ Hoàng Cầm hẹn hò nhau ở
một ngã ba: đường đến nhau và đường tìm về.
Em gánh gạo về nhà phú hộ Trên đời không gì đẹp và quý bằng thân thể người đàn bà. Và những vết sẹo do lao động hay roi vọt cứa ngang vạch dọc kia là những nhục nhằn chung cho nhân loại. Người phụ nữ lam lũ và tất tả vẫn giữ nét duyên dáng:
Tàu cọ em che đàn gà mới nở Nói đến người phụ nữ Việt Nam, không thể chỉ dừng lại ở làn môi khóe mắt, mà phải nhắc đến mồ hôi nước mắt, những vất vả và thiệt thòi. Điều ấy, nhà thơ chỉ thì thầm, nhưng vẫn rõ giọng. Người phụ nữ hiện lên dịu dàng trên nền trời quê hương, giữa tiếng ếch nhái, ếch ương, chẫu chuột, tiếng chim bạc má, cú vọ tu hú, bồ các, chìa vôi, cạnh con mèo mướp trong xó bếp, cánh chuồn chuồn, châu chấu, bươm bướm, đàn kiến lửa ngoài sân, cái giun đất lòng thòng mỏ con gà trụi, giữa những cành ổi, cành nhãn, cành chanh, ngọn bí lông tơ hoa xoan lả tả và bao nhiêu hình ảnh thân thương khác. Người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm không quyến rũ vì nhan sắc nhưng đáng yêu và đáng nhớ qua bóng dáng, linh hoạt, năng nổ, tận tụy và cam phận:
Tiếng hát theo em đi vớt bèo Thơ về lao động, hiện thực và lao động tình tứ như vậy xưa nay không nhiều lắm đâu. Thỉnh thoảng lắm ta mới gặp ở Nguyễn Bính:
Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ
Thường thường, những cô gái lầu hoa, người em sầu mộng… dễ đẹp
dễ thơ hơn người phụ nữ ngày ngày vật lộn với thực tại. Và làm
thơ, đọc thơ là để quên thực tại, chủ yếu là lao động, do đó,
thơ hay về người phụ nữ lao động hiếm và quý. Và khó làm.
Người ở gái trót mê anh đánh cá Hay cô gái bị bức bách lấy lẽ nhà giàu, mảnh gương rạch ngang cổ, chết rồi còn bị xã hội lên án:
Sai lấy mo cau Xã hội phong kiến, khe khắt và bất công, nghiền nát những mối tình và những giấc mơ:
Chúng ta yêu nhau có tội tình gì
Có những cặp tình nhân đói nghèo chẳng được sánh đôi,
những chàng trai nghèo đói phải xa quê, những phụ nữ
nón quai thao úp bụng, khăn gói lìa quê…
Chuỗi pháo đùng thèm bay
Hoàng Cầm làm thơ ca ngợi quê hương và cuộc sống. Nói chung thơ
anh lạc quan vì tin vào cái đẹp, cái tốt, tin vào hạnh phúc,
nhưng vẫn mang nhiều nét buồn đau. Từ đó, thơ anh nhiều giai
điệu và giàu nhân tính, chịu sự đọc lại và lọc đãi. Ngôn ngữ
khúc mắc, có lúc cầu kì lại càng làm nổi bật chất trí tuệ - một
chất trí tuệ nhuần nhuyễn tình cảm, thường quay về quá khứ. Thạch Lam, “Hàng nước cô Dần’’ trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường [2]Dân ca quan họ Bắc Ninh, nhiều tác giả, nxb Văn học, Hà Nội, 1962, tr. 17. Đọc thêm: Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển, nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978. |