|
Đặng Tiến
Huy Cận Trong Tôi

Tác giả Lửa Thiêng, Huy Cận vừa tắt nghỉ tại Hà Nội, lúc 21 giờ
ngày 19 tháng 2-2005, thọ 86 tuổi.
Nhà thơ Bùi Giáng, 1926-1998, có kể lại cơ duyên đă đưa ông vào
sự nghiệp văn chương: vào năm 1943, trước đó một năm, hay chính
vào năm đó, ở Việt Nam có thằng thiếu niên Việt gặp được một vần
lục bát in rơi rớt trên một tờ báo bạn đường: Tâm t́nh một
nẻo quê chung/ Người về Cố quận muôn trùng ta đi. H́nh như
man mác trong không gian thường có những niềm tương ngộ.1
Bùi Giáng lúc đó không tiết lộ tác giả hai câu thơ. Nhưng nơi
khác trong một bài dài ca ngợi thơ Huy Cận, ông đă dẫn chứng
chính xác: « Huy Cận là người đồng quận Nguyễn Du – Hà Tĩnh.
Sông núi non nước kia đẹp dị thường; và con người đất nước kia
sống lận đận làm ăn cày cấy cũng cực nhọc dị thường. Giữa phong
cảnh và con người từ đó liên miên có một cuộc đối thoại thiết
tha không lời, về một nỗi đời bất khả tư ngh́ (…) Phong cảnh
trong thơ Huy Cận là một loại phong cảnh đă khiến con người mở
những cuộc « Lữ » huyền hoặc của Dịch Kinh…
Xa nhau mười mấy tỉnh dài,
Mơ màng suốt xứ đêm ngày nhớ nhung.
Tâm t́nh một nẻo quê chung,
Người về cố quận, muôn trùng ta đi
Nguyễn Du đă làm Liệp Hộ. Huy Cận đă đi muôn trùng. Mặc dù các
ông có thể ngồi im ĺm giữa một triều đ́nh, các ông vẫn cứ thành
tựu cuộc « Lữ » như thường, nơi một triều đ́nh khác, riêng ở một
góc trời miêu cương mạc ngoại
Trông vời trời biển mêng mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng ruổi rong
Dừng cương nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc tiếng c̣n tịch liêu
Tiếng nhỏ thưa tràng đạc đó bàng bạc tịch liêu trong Lửa Thiêng
cũng như suốt Đoạn Trường Tân Thanh, là khởi sự từ một duyên do
uyên nguyên thăm thẳm, mà bấy lâu ta không ngờ tới, nên thường
ngạc nhiên tự hỏi v́ lẽ ǵ thơ Huy Cận lại đạt tới hai chóp đỉnh
huyền diệu nhất ở hai cơi chênh vênh, thơ phong cảnh của ông
không ai kịp, thơ t́nh yêu của ông khiến mọi thiên hạ đầu hàng»
.2
Bùi Giáng có khi viết theo cao hứng. Nhưng bài này ông viết có
căn cơ và căn cứ, có t́nh có lư hẳn hoi. Ông thuộc thơ Nguyễn Du
và Huy Cận ; và năm 1951 có ra sống ở Hà Tĩnh – là tỉnh phía Bắc
Việt Nam xa nhất được ông đặt chân tới.
Ông thừa biết Huy Cận là nhân vật cao cấp của một chế độ mà ông
không ưa thích. Ông cũng biết Huy Cận đang ngồi giữa « triều
đ́nh » và im ĺm như một Nguyễn Du xưa. Một Nguyễn Du khi ĺa
đời 55 tuổi đă nói với con hai chữ « thôi được » ám ảnh Huy Cận
:
« Thôi được ! lời chi quá xót xa » (1996).
Về Huy Cận, hay bất cứ một tác gia đương thời nào, trên đời này
chỉ có Bùi Giáng mới dám viết lời phê phán nồng nhiệt như thế;
người khác dù nghĩ như thế cũng không ai dám hạ bút – kể cả Xuân
Diệu, thiết thân với Huy Cận - «Những niềm tương ngộ» như lời
Bùi Giáng, cơi đời này, nhất là trong xă hội Việt Nam ngày nay,
không nhiều lắm đâu.
Về đoạn Tâm t́nh một nẻo quê chung, người đọc không t́m thấy văn
bản trong các thi tập và tuyển tập Huy Cận. Có người ngờ là Bùi
Giáng phịa – mà ông cũng thường phịa. Nhưng Thanh Tuệ, nhà xuất
bản An Tiêm, cho biết đúng là thơ Huy Cận, có trong một bản chép
tay in tại Paris năm 1983. Tôi ḍ lại th́ đúng, và t́m hiểu thêm
về vần lục bát in rơi rớt trên một tờ báo bạn đường. Đây là bài
Cảm Thông, làm năm 1940 đăng trên tạp chí Bạn Đường ở Thanh Hóa,
do nhóm Hướng Đạo của Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu chủ trương,
đă đăng bài Nguồn Gốc Truyện Kiều của Đào duy Anh, thơ Trần Mai
Ninh, do Lê Hữu Kiều (Nam Mộc) đứng tên, nghĩa là một cơ quan
vận động chính trị, nhất định không in bài «rơi rớt». Tôi bèn
hỏi Huy Cận: «Người về cố quận muôn trùng ta đi», thời ấy anh đă
bí mật tham gia mặt trận Việt Minh, vậy «muôn trùng ta đi» có
phải là đi làm cách mạng? Anh trả lời không phải. Lúc ấy, anh đi
chung một chuyến tàu với một cô bạn gái thân thiết và đồng
hương; đến ga Vinh th́ cô xuống xe về Hà Tĩnh, c̣n Huy Cận đi
tiếp « Muôn trùng ta đi, là ḿnh nói cho oai, chớ muôn trùng chi
mô » lời Huy Cận.
Tôi rất phục ; cái ư đi làm cách mạng là do tôi đề xuất, anh chỉ
cần giả vờ quên, trả lời ấm ớ là tôi sẽ hồ hởi dựng nên một kịch
bản huyền sử cách mạng chung quanh bài Cảm Thông, ai biết đâu mà
lần ? Những Độc Hành Ca của Trần huyền Trân, Tống Biệt Hành của
Thâm Tâm đều t́m ra nguồn gốc cách mạng, th́ « tâm t́nh một nẻo
quê chung » thành tích quá đi chứ ! Nhưng Huy Cận không nhận
thành tích đó. Tuy nhiên lúc tôi hỏi sao anh không cho công bố
bài thơ hay này, th́ anh không trả lời, chỉ nói qua loa : khi
chọn in thơ, lấy bài nọ th́ bỏ bài kia. Nghĩa là anh không muốn
nói. Kỳ thật đây là bài anh tâm đắc, đă chép tay để phổ biến hạn
hẹp tại Paris năm 1983.
Tôi có nêu lên một bài khác:
Đă chảy về đâu những suối xưa?
Đâu cơn yêu mến đến không chờ?
Tháng ngày vùn vụt phai màu áo
Của những nàng tiên mộng trẻ thơ
Bài Buồn này, không có trong các Tuyển Tập. Huy Cận cũng chỉ ậm
ừ.
Khoảng 1978, tôi có mách anh trường hợp Bùi Giáng ngưỡng mộ thơ
anh, bị bệnh tâm thần, đi lang bang và nói lảm nhảm tại Sài G̣n
; và yêu cầu anh lưu ư nhà chức trách địa phương đừng làm khó
dễ. Anh hứa rằng sẽ quan tâm. Khi Bùi Giáng qua đời, Huy Cận có
chính thức làm thơ phúng viếng. Việc nhỏ thôi, nhưng ở cái bát
trận đồ văn học Việt Nam, nó có ư nghĩa. Cũng như bài anh viếng
họa sĩ Nguyễn Gia Trí năm 1993 cũng là việc nhỏ, nhưng ư nghĩa.
Việc nhỏ khác: năm 1998, t́nh cờ Huy Cận và Phạm Duy cùng có mặt
tại Paris. Nhạc sĩ muốn quan hệ, hỏi tôi số điện thọai, tôi tham
khảo Huy Cận, và anh trả lời ngay: «Phạm Duy à? Phạm Duy th́
ḿnh phải gọi anh ấy trước, chớ sao để anh ấy gọi ḿnh?» Sau đó
vài giờ, Phạp Duy gọi lại tôi, giọng c̣n rơm rớm, kể đă nói
chuyện với nhau cả tiếng. Huy Cận cảm ơn Phạm Duy đă phổ nhạc
bài thơ Ngậm Ngùi làm cho nhiều người biết. Sau đó nhạc sĩ sưu
tập 16 giọng hát bài Ngậm Ngùi nhờ tôi chuyển về nhà thơ. Tôi
biết là Huy Cận chân thành, v́ bài Ngậm Ngùi kể lại một mối t́nh
có thật, anh « ngậm ngùi » v́ cô gái đẹp đi lấy chồng. Anh có
nói lên điều ấy và chính thức nhắc đến nhạc phẩm Phạm Duy năm
1993 3, thời mà không mấy trong nước ai nói đến tên Phạm Duy.
Năm 2000, một buổi chiều đi lang bang ở Paris với Huy Cận, tôi
rủ anh gọi dây nói sang Mỹ thăm Phạm Duy chơi, từ pḥng điện
thoại công cộng. Tôi nh́n anh trong ca-bin : lúc đầu hùng hồn,
khoa chân múa tay, về sau lấy khăn tay chậm lên mắt. Không biết
hai ông nói chuyện ǵ, tôi không hỏi.
Những đề tài lớn về Huy Cận đă, và sẽ có nhiều người nói. Tôi kể
lại vài kỷ niệm tuy nhỏ nhưng đă giúp tôi đánh giá anh dưới một
góc độ riêng, và kết luận Huy Cận là con người t́nh nghĩa, chí
t́nh và thật t́nh. Thậm chí có lúc thật thà như đếm.
Huy Cận tự kiêu và tự tin nên dễ quan hệ; khó chơi chăng là
những tay tự kiêu mà không tự tin, tài thấp phận cao. Khi phận
không cao th́ chê đời mắt trắng.
Thơ Huy Cận đạt tới nghệ thuật cao, phục vụ hai đề tài chính: vũ
trụ và t́nh người, bàng bạc từ Lửa Thiêng. Về sau, hai chủ đề
này sẽ đậm nét và cụ thể hơn. Ngày nay, không c̣n ai phân biệt
h́nh thức và nội dung. Nhưng về mặt giải mă ta vẫn có thể nó : ở
Lửa Thiêng nội dung phục vụ h́nh thức, sau Lửa Thiêng, ngôn ngữ
phục vụ ư tưởng. Nhưng dĩ nhiên, đây là cách nói, v́ trong thơ
h́nh thức và nội dung là một.
Các bạn thơ hiện nay, phân biệt thơ Việt Nam đang thịnh hành,
làm hai ḍng. Ḍng thơ cũ gọi là « ḍng nghĩa » quan tâm đến ư
nghĩa, t́nh ư chứa đựng trong lời thơ. Và ḍng mới gọi là « ḍng
chữ » đặt trọng tâm vào vỏ ngữ âm và từ dạng. Thơ Huy Cận thuộc
vào « ḍng nghĩa » nhưng vẫn mới mẻ, nhờ ư thức nghệ thuật cởi
mở và sáng suốt, thường xuyên tiếp cận với thơ nước ngoài.
Đặc tính trong thơ Huy Cận là chất trí tuệ, giọng lừng khừng
triết lư tạo ra cảm giác ưu tư. Trước kia là trí thức, dành cho
một thiểu số độc giả chọn lọc ; bây giờ là trí tuệ, mở rộng cho
đa số, gồm có các cháu thiếu nhi.
Trong Lửa Thiêng, thơ Huy Cận bao la, u hoài và trí tuệ, giàu
tính nghệ thuật ; sau Lửa Thiêng thơ Huy Cận cụ thể, lạc quan mà
vẫn trí tuệ, thêm chất giáo dục cho con em.
Chủ đề vũ trụ trước sau nhất quán ; trước kia là niềm rung cảm
trước vô biên, sau này là tư duy về sự sống.
Chủ đề t́nh người trước sau như nhất, xưa kia là trữ t́nh, bây
giờ thêm tính giáo dục trên nền tảng nhân đạo.
Do đó thi pháp Huy Cận có uyển chuyển theo từng giai đoạn, nhưng
trước sau vẫn nhất khí.
***
Huy Cận là tên thật, họ Cù. Sinh năm 1919, không rơ ngày. Tư
liệu hiện nay ghi là 31 tháng 5 là dựa theo giấy khai sinh thiết
lập khi anh vào trường huyện, đă 8 tuổi.
Sinh quán và chánh quán là làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, nay
thuộc về huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một làng trung du, tả ngạn
sông Ngàn Sâu, dưới chân núi Mồng Gà cách đường xe lửa Nam Bắc
khoảng 5 km. Tư liệu chính thức thường ghi: anh xuất thân từ một
gia đ́nh nhà nho, nghèo và yêu nước. Thật ra gia đ́nh anh làm
ruộng, khá giả và yêu nước ngang ngang với đa số gia đ́nh Việt
Nam khác. So với thế hệ, th́ Huy Cận có học vị cao, sau học
tŕnh trung học tại trường Quốc Học Huế, anh tốt nghiệp Cao đẳng
Nông Lâm tại Hà Nội, 1942. Thời học sinh đă nổi tiếng, có thơ
đăng báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn (1938). Thời sinh viên,
năm 1940, anh cho in tập thơ Lửa Thiêng, Đời Nay xuất bản, Xuân
Diệu đề tựa, Tô Ngọc Vân tŕnh bày. Đây là đỉnh cao trong sự
nghiệp văn học của nhà thơ Huy Cận.
***
Từ 1942, c̣n là sinh viên, Huy Cận đă tham gia mặt trận Việt
Minh và bí mật xây dựng Đảng Dân Chủ. Tháng 7 năm 1945, anh được
triệu tập tham dự Quốc Dân Đại Hội, ở Tân Trào, Thái Nguyên và
được bầu vào Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng Toàn Quốc, gồm có 15
người, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đây là đỉnh cao trong sự
nghiệp chính trị của chính khách Cù Huy Cận. Sau này anh sẽ đạt
được nhiều danh vọng quang vinh khác, nhưng trong thâm tâm vẫn
tự hào nhất về tập thơ Lửa Thiêng 1940, và hội nghị Tân Trào
1945, là nhà thơ, và chính khách trẻ tuổi nhất. Ủy ban Dân Tộc
Giải Phóng sẽ mở rộng thành chính phủ Lâm Thời và Cù Huy Cận giữ
chức Bộ Trưởng Canh Nông rồi cứ tiếp tục tham gia hội đồng chính
phủ, thường thường với chức Thứ Trưởng rồi Bộ Trưởng Văn Hóa, từ
1984 đến 1987 – kiêm chủ tịch Ủy Ban Trung Ương Liên Hiệp các
hội Văn Học Nghệ Thuật. Có người nói: Huy Cận đạt thành tích:
giữ nhiệm chức chính phủ dài lâu nhất thế giới.
Về mặt bang giao quốc tế, Huy Cận là một nhân vật chủ chốt của
chính quyền Việt Nam trong việc trao đổi văn hóa với các nước Á
Phi và Âu Châu, anh là ủy viên hội đồng chấp hành Unesco, Ủy
viên hội đồng Cao Cấp Tiếng Pháp (Francophonie) ; trong những
cương vị ấy, anh thường xuyên đi ra nước ngoài và tranh thủ được
nhiều cảm t́nh và viện trợ văn hóa cho Việt Nam.
***
Gió thổi sân trường chiều chủ nhật ;
- Ôi thời thơ bé tuổi mười lăm
Huế 1936. Trường Quốc Học Khải Định. Huy Cận học lớp Nhất Niên,
bắt đầu viết cho các báo Tràng An, Sông Hương của nhóm Hoài
Thanh, dưới bút hiệu Hán Quỳ. Năm ấy, Xuân Diệu từ Hà Nội chuyển
trường vào học lớp Tam Niên (lớp cuối bậc Tú Tài). Hai nhà thơ
quan hệ thân thiết đến độ có người ngờ là luyến ái đồng tính.
Nhất là khi Xuân Diệu viết « Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine… » rồi
bài thơ « Với bàn tay ấy ở trong tay… » đề tặng Huy Cận. Sau này
Huy Cận kết hôn với em gái Xuân Diệu, về sau ly dị. Cùng học
Khải Định thời đó, c̣n có giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, ca sĩ Minh
Trang ; thầy của họ là Nguyễn huy Bảo, đă qua đời cách đây vài
năm tại Paris. Ông Bảo kể lại rằng, 1938, Huy Cận đă được giải
thưởng toàn Đông Dương (concours général) về Luận Pháp văn. 4
Huy Cận bắt đầu nổi tiếng từ Tết Mậu Dần 1938, khi báo Xuân Ngày
Nay đăng bài Chiều Xưa (Buồn gieo theo gió veo hồ…) trong một
khung báo cùng với bài Cảm Xúc (là thi sĩ nghĩa là ru với gió…)
của Xuân Diệu. Việc có thơ đăng báo, dù là báo Xuân của Tự Lực
Văn Đoàn, không lấy ǵ làm ghê gớm, nhưng Huy Cận rất đắc ư, và
nhắc măi. Bài Chiều Xưa làm năm 18 tuổi, là « đỉnh cao muôn
trượng » trong nghệ thuật lục bát của Huy Cận, cùng với mấy bài
cùng thời : Đẹp Xưa, Buồn Đêm Mưa, Ngậm Ngùi… Sau này thơ bảy
chữ, tám thữ của anh vẫn c̣n nhiều bài hay. Riêng về nguồn lục
bát trong thơ Huy Cận th́ hoàn toàn nghèo đi. Đây là một chủ đề
về thi pháp cần được nghiên cứu cặn kẽ, v́ có tính cách lư
thuyết.
Chiều Xưa gồm 5 cặp lục bát cách quăng:
… Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về.
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê
Trên thành son nhạt. – Chiều tê cúi đầu
Tôi nêu đôi điều ít người lưu tâm : « đồn xa » đây là đồn của
Pháp đóng trên đèo Linh Cảm quê anh, nơi thực dân đă đốt xác
Phan Đ́nh Phùng, lấy tro nhồi vào thuốc súng và bắn ra biển.
Phan Đ́nh Phùng khởi nghĩa vùng quê Huy Cận, dân làng Ân Phú
nhiều người là nghĩa quân. V́ vậy mới có h́nh ảnh « quằn quại
bóng cờ ». Và mới hiểu thấu đáo nỗi « buồn tự thời xưa thổi về »
mà về sau Tố Hữu sẽ vay mượn để làm câu :
Đồn xa héo hắt cờ bay
Hiu hiu phất lại buồn vây vây ḷng
(Tiếng hát đi Đày, 1942)
Nhưng hiểu là mang mang thiên cổ sầu, một cách chung chung cũng
không sai.
Hai câu tiếp theo là câu vắt, enjambement, về cú pháp, câu trước
tràn xuống câu sau, rồi dừng lại giữa câu bằng một cái chấm,
tiếp theo là cái gạch, bắt đầu một mệnh đề khác. Dấu chấm là kư
hiệu cú pháp (văn phạm) dấu gạch là kư hiệu bút pháp (hay thi
pháp), hai yếu tố đó đồng quy và nghệ thuật thơ Huy Cận, tinh
vi, uyên bác. Kỹ thuật này, các nhà thơ Pháp vẫn sử dụng. Có lần
tôi trích dẫn câu này, nhưng nhà in bỏ quên chấm-gạch, nhà văn
họa sĩ Vơ Đ́nh đă viết thư nhắc nhở. Tôi có đưa thư cho Huy Cận
xem, anh rất tâm đắc. Nhưng trong các văn bản lưu hành hiện nay,
chỉ có gạch mà không có chấm. Trong tuyển tập mới nhất, Huy Cận
- Đời và Thơ,5 câu thơ không chấm gạch ǵ ráo.
1939, Huy Cận đỗ Tú Tài, ra Hà Nội học Nông Lâm. Dạo chơi trên
đê sông Hồng, miệt Chèm, Vẽ, nh́n cảnh « bâng khuâng trời rộng
nhớ sông dài » anh đă cảm hứng làm bài thơ Tràng Giang được
truyền tụng qua nhiều chế độ và thế hệ. Anh cho biết « Bài thơ
cũng không chỉ do sông Hồng gợi cảm mà c̣n mang cảm xúc chung về
những ḍng sông khác của quê hương»6. Anh đă làm lại bài thơ
nhiều lần, dưới nhiều thể : lục bát, đường luật « để có một
Tràng Giang hoàn chỉnh, tôi đă sửa đi sửa lại 13 bản thảo» 7.
Nhiều người biết bài này, nhưng có khi nhớ không đúng hai câu :
Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, - bến cô liêu
Giữa câu sau, có cái phẩy, rồi tiếp theo một gạch ngang.
Ấn bản Đời Nay, 1940, cũng thiếu gạch ngang. Tôi dựa theo bản
chép tay của Huy Cận, in tại Paris, 1983. Bản Đời Nay, Tràng
Giang mang lời đề tặng Trần Khánh Giư, bản Đời và Thơ, Hà Nội,
1999, bài Tràng Giang được xếp đầu tiên, vẫn c̣n ghi lời tặng
Khái Hưng, bút hiệu của nhà văn lừng danh tên thật là Trần Dư,
hay Khánh Giư, bị Việt Minh thủ tiêu năm 1947.
Huy Cận là người chung thủy. Những khi « nắng mưa là bệnh của
trời » cho phép, tâm hồn anh có lúc ngời lên những ánh thủy
chung kỳ lạ.
Một năm sau Tràng Giang là Lửa Thiêng, in xong tháng 11 năm
1940. Xuân Diệu đă xuất bản Thơ Thơ trước đó hai năm rồi tái
bản, thời điểm này là giai đoạn lư tưởng của phong trào Thơ Mới.
Nó đạt tới sự đồng thuận giữa nghệ thuật người viết đă chín muồi
và sức tiếp thu của người đọc cũng nồng hậu, cho nên Lửa Thiêng
đă được tiếp đón nhiệt t́nh.
Khó nói được rằng Huy Cận tài ba hơn các nhà thơ khác, nhưng anh
đă bước vào lịch sử thơ ca vào những ngày Tiên tháng Phật.
Khó nói được là Lửa Thiêng hay hơn các thi phẩm khác nhưng nó đă
tổng hợp được nhiều đặc sắc của phong trào Thơ Mới và đồng thời
loại trừ được các vụng về thô tháp trước đó. Là một giá trị tổng
hợp, Lửa Thiêng c̣n nâng cấp nền Thơ Mới v́ bản chất trí tuệ và
ư thức nghệ thuật của Huy Cận, như anh tự nhận định: « giọng
điệu triết lư về cuộc đời, về con người, về vũ trụ của tôi».8
Theo thư tịch, thi phẩm thứ hai của Huy Cận là Vũ Trụ Ca, các
thư mục đều có ghi 1942. Và tác phẩm cũng lừng danh, dù… chưa
bao giờ được xuất bản ! Nằm trong dự tính của tác giả, nó bao
gồm một số bài đăng rải rác trên các báo Thanh Nghị, Điện Tín,…
nổi tiếng là bài Xuân Hành, rồi đến Áo Xuân, làm 1942, hơi thơ,
nhịp thơ trầm hùng, khỏe mạnh, có âm hưởng những hoạt động chính
trị.
Sau 1945, suốt thời kỳ chống Pháp, Huy Cận ít làm thơ, chỉ có
Giữa Ḷng Thế Kỷ, làm tháng 8-1946 – trước ngày Toàn Quốc Kháng
chiến – là đọc được. Măi đến 1958 – 18 năm sau Lửa Thiêng – mới
có tập Trời Mỗi Ngày Lại Sáng, sau đợt đi thực tế lao động tại
Hồng Gai – sau phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Nổi tiếng là Đoàn
Thuyền Đánh Cá. Sau đó th́ Huy Cận sáng tác và xuất bản dồn dập,
khoảng 25 tập thơ. Đề tài đa dạng, phần nhiều do thời sự đ̣i hỏi
: thơ chiến đấu, lao động, sản xuất, mà chính bản thân anh về
sau, cũng có khi không tâm đắc.
Khi Huy Cận đề cập đến thiên nhiên, trời biển, vũ trụ, làng xóm,
quê hương, kỷ niệm ấu thời,khi anh lừng khừng triết lư trong một
thi pháp già dặn th́ vẫn chinh phục người đọc công b́nh – nghĩa
là không có thành kiến với người làm thơ quyền chức và tùy thời.
Hai tập Hạt Lại Gieo (1984), Chim Làm Ra Gió (1989) có nhiều bài
đáng ghi nhớ.
Huy Cận là người sáng suốt: những bài thơ tầm thường th́ anh
biết là tầm thường và rất khổ tâm khi các nhà phê b́nh mang ra
ca ngợi. Có lần anh nói với tôi : « thơ dở như thế mà họ khen,
làm người đọc thắc mắc: những câu không được khen th́ c̣n dở đến
chừng nào ».
Huy Cận tổng luận về ḿnh: « Ḍng thơ tôi luôn luôn nhất quán,
đó là thơ của cuộc đời, của con người, lúc buồn nhất cũng không
lạc vào thơ Loạn, thơ Điên. Trong thơ tôi, cảm xúc vũ trụ rất
đậm nét, nhưng ḥa quyện với cảm xúc về cuộc đời (…)
Con người là thành viên của xă hội loài người, nhưng cũng là
thành viên của vũ trụ, của thiên nhiên. Bởi vậy trong mỗi con
người c̣n có, nên có, phải có những cảm xúc vũ trụ » .
Đây là chân lư đơn giản và hiển nhiên, nhưng không phải ai cũng
nghĩ ra ; và khi đă nghĩ ra th́ không phải ai cũng có quyền phát
biểu.
Người có quyền, có khi lại không nghĩ ra điều ǵ, và khi chợt
nghĩ ra th́ không dám sử dụng cái quyền phát biểu của ḿnh.
Huy Cận là một tài năng lớn, đă có những đóng góp quan trọng cho
phong trào Thơ Mới. Sau này, phần đóng góp của anh, về mặt nghệ
thuật, dù từ tốn hơn vẫn đáng quư, dù nó khó được nhận ra trong
đống vàng thau lẫn lộn. Và khó nhận ra hơn nữa, v́ những thành
kiến. Con người sống trên thành kiến. Nước nào cũng vậy. Riêng
Việt Nam, lịch sử đă lạm phát rồi củng cố thành kiến. Với nhau,
nói chuyện ǵ cũng khó ; nói về người nào đó, càng khó.
***
Sinh thời, Huy Cận mong sống tṛn thế kỷ :
Gắng theo hết thế kỷ hai mươi
Nay thế kỷ mới đă lên 5, có thể nói vui, theo điệu hài hước của
anh lúc sinh thời, là anh đă « vượt biên ». Huy Cận đă hoàn tất
những nhiệm vụ lớn, mà anh đă tự gánh lấy, hay đời đă trao cho,
như anh đă từng cầu mong :
Rồi một ngày kia giă cơi này
Xin cho gieo hết hạt trong tay
Và giờ đây anh đang phiêu diêu về Miền Lặng Lẽ. Có bờ xanh, có
băi vàng, nữa chứ !
Băi biển cuối hè dần vắng lặng
Vô tâm biển vẫn đẹp tưng bừng
Mai đây ta vắng, đời không vắng
Vũ trụ điềm nhiên đẹp dửng dưng
Một chiếc linh hồn nhỏ, một không gian hồn hậu rất thơm tho,
điềm nhiên tan vào vũ trụ đẹp dửng dưng.
Đẹp. - Và dửng dưng.
ĐẶNG TIẾN
Orléans, 25/2/2005

1. Bùi Giáng, Lời Cố Quận, Sài G̣n, 1972, tr. 20. Tuệ Sĩ trích
lại trong tạp chí Văn, tr.18, ngày 15/3/1973, Sài G̣n
2. Bùi Giáng, Đi vào Cơi Thơ, nxb Ca dao, Sài G̣n, 1969, nxb An
Tiêm, 1998, Paris, tr.20-21 ; in lại trong Huy Cận- Đời và Thơ,
tr.159-160, nxb Văn Học, 1999, Hà Nội
3. Huy Cận, Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức chủ biên, 1993,
tái bản 1998, tr.190, nxb Văn Học, Hà Nội.
4. Nguyễn Huy Bảo, đặc san Tiếng Sông Hương, tr. 45-49, Dallas,
1996 trích lại trên báo Ḍng Việt, số 5, tr. 11, California,
1998.
5. Huy Cận, Đời và Thơ, tr. 683, nxb Văn Học, Hà Nội, 1999.
6. Huy Cận, Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn, tr.
48, nxb Văn Học, Hà Nội, 1998.
7. Huy Cận, nt, tr. 189,.
8. Huy Cận, Nhà văn nói về… sđd, tr. 198
|