Đặng Tiến

 

Huế chào vĩnh biệt Phạm Duy

 

Tranh Bửu Chỉ - Phạm Duy

 

Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má ǵ với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đă để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và h́nh ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế : 1944 khi đi hát rong ; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành.

 

Sau này, và gần đây, dĩ nhiên, anh đă nhiều lần về thăm Huế.

 

Năm1948, từ chiến trường B́nh Trị Thiên thời chống Pháp, Phạm Duy về hoạt động tại vùng địch hậu Đại Lược và nhiều đêm bí mật về gặp gỡ cán bộ, nghệ sĩ nội thành tại Vỹ Dạ, thời điểm sáng tác bài Về Miền Trung :

 

Ôi quê hương xứ dân gầy, ôi bông lúa,

Con sông xưa, thành phố cũ..

 

Ngần ấy chữ thôi là cô đọng tất cả h́nh ảnh chủ yếu về một vùng đất và một thành phố ;không cần đến những « Huế đẹp và thơ », « áo tím, áo trắng, nón nghiêng… » là những vẽ vời, lâu ngày sáo ṃn trở nên phù phiếm.

 

Con sông xưa, thành phố cũ, là đầy đủ, hàm súc và t́nh nghĩa. Không ai nói về Huế nhiều hơn với ngần ấy chữ.

 

Mùa xuân 1944, Phạm Duy lưu diễn trong gánh Đức Huy Charlot Miều, từ Bắc vào Nam, ghé Huế, hát tại rạp Tân Tân, trên đường Paul Bert, nay  là Trần Hưng Đạo. Nhạc sĩ chưa sáng tác nhiều, nhưng 1944 là  bước ngoặt quan trọng v́ anh khám phá ra dân nhạc địa phương Huế, trong nhiều đêm nằm đ̣ lắng nghe những câu ḥ mái nh́, mái đẩy, những bài Nam Ai, Nam B́nh mà trước kia anh chỉ nghe qua đĩa hát. Lần này Phạm Duy nghe trực tiếp, ghi lại nhạc lư, viết thành biên khảo « Những điệu hát b́nh dân Việt Nam ».

 

Anh nhắc lại : Âm giai ngũ cung lơ lớ của ḥ mái nh́ khác hẳn với âm giai điều ḥa (harmonie tempérée) của Âu Tây và âm giai ngũ cung đúng của dân nhạc miền Bắc. Các cung bực của ḥ Huế có những cao độ (intervalles) non hơn hay già hơn cung bực trong âm giai Âu Tây, hay âm giai Miền Bắc.

 

Ḥ mái nh́ hay ḥ mái đẩy là tiếng nói điển h́nh của người dân tại một miền nên thơ nhất của đất nước Việt. Tiếng hát xây dựng trên một âm giai lơ lớ đă thể hiện được sự thần bí của cơi ḷng, v́ vậy nên dễ dàng đi sâu vào tâm hồn người nghe hơn là nhạc ngũ cung đúng của Miền Bắc » [1].

 

1944, Phạm Duy chỉ mới là ca sĩ phụ diễn trên sân khấu b́nh dân, ngoài hai mươi tuổi ; anh học hỏi thêm về nhạc dân tộc và trao đổi với các vị Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Vĩnh Trân.

 

Về tân nhạc, anh tiếp xúc với Ngô Ganh, Văn Giảng, Nguyễn văn Thương.

 

Anh cũng nếm mùi ái t́nh tại Huế, như đă nhắc lại trong bài T́nh Ca, sáng tác mười năm sau, 1953 :

 

Tôi yêu những sông trường

Biết ái t́nh ở ḍng sông Hương…

 

Cách mạng tháng Tám xảy ra khi Phạm Duy đă trở về Hà Nội, 1946. Anh tham dự đoàn quân Nam Tiến, vào Nam Bộ chiến đấu trong chiến khu Bà Rịa, bị thương nhẹ trên cánh tay. Mùa thu 1946, trên đường về Bắc, anh dừng chân mấy tháng tại Huế, cũng để tŕnh diễn « âm nhạc cải cách » theo tên gọi thời đó, chủ yếu là tại pḥng trà ca nhạc Quán Nghệ Sĩ, có khi hát cho Đài Phát Thanh. Anh có gặp gỡ các vị Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn chí Thanh. Nhưng chủ yếu là gặp lại bạn cũ, như Vĩnh Phan, Vơ đức Duy và nhất là Lưu Trọng Lư, mà anh vừa phổ nhạc bài thơ Tiếng Thu nổi tiếng.

 

Huế, mùa thu 1946, thời nghỉ ngơi của người chiến sĩ.  Phạm Duy tranh thủ để sáng tác, hoàn chỉnh, biên tập nhiều ca khúc : Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu, nhạc kháng chiến phổ biến một thời.

 

Khối t́nh Trương Chi phảng phất ít nhiều âm hao Huế :

 

Êm êm dần lan

         Cung Nam Thương mờ vang

Cung Nam Ai thở than

Ai  thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn cung

 

Ngoài nhạc điệu ảo năo, h́nh ảnh  người khuê nữ trong bài hát gần với cô gái Huế tân thời, cuổi triều Bảo Đại hơn là cô Mỵ Nương thời các vua Hùng.

 

Sự thật là có một nàng Tôn nữ như thế, cấm cung trong một dinh thự phía Nam Giao. Anh Trương Chi là chàng ca sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nhưng  «  xa cách nhau v́ đời » do hoàn cảnh và t́nh huống đôi bên. Chút t́nh riêng thầm lặng này giải thích, nhạc và lời lăng mạn, tha thiết của bài Khối t́nh Trương Chi, mà chất trữ t́nh dào dạt không có trong những nhạc phẩm kể chuyện cổ tích khác, như Trầu Cau của Phan huỳnh Điểu chẳng hạn.

 

Sau đó là toàn quốc kháng chiến. Từ Hà Nội, Phạm Duy tham gia kháng chiến chống Pháp, chủ yếu là ở khu Tư, có lúc công tác tại chiến trường B́nh Trị Thiên non sáu tháng, 1948 Phạm Duy đă sáng tác Mười hai lời Ru, Bà mẹ Gio Linh, Bao giờ anh lấy được đồn Tây, sau đổi thành Quê Nghèo. Và đặc biệt Về Miền Trung.

 

Phạm Duy kể :« tôi đă làm công việc phát triển mạnh mẽ cái thanh âm lơ lớ (PD nhấn mạnh) của Miền thùy dương này (…) Tuy nhiên đối với tôi, h́nh thức không quan trọng bằng nội dung. Bài Về Miền Trung là một bài ca Huế hùng dũng, không bi quan yếm thế như một bài Nam Ai, Nam b́nh chẳng hạn » [2].

 

Tại Sài g̣n, đài Pháp Á đầu thập niên 1950 là cơ quan phổ biến tân nhạc mạnh nhất. Trong mục nhạc yêu cầu, trong hai năm 1951-1952, Về Miền Trung là ca khúc được thính giả yêu cầu nhiều nhất, không nhất thiết phải từ Huế. Cho dù nó là khúc ca tiêu biểu nhất cho người Huế đất Huế.

 

Tháng 5-1951, Phạm Duy rời kháng chiến về thành, cùng với gia đ́nh nhà vợ.

 

Năm 1953, anh có dịp trở lại Huế sống dài ngày hơn ba lần trước « có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa ». Cuộc sống êm đềm đưa đến dạ khúc Dạ Lai Hương, 1953, một sérénade theo kỹ thuật Âu Tây. Lời ca tràn đầy hạnh phúc « đời vui như ong bay, ngọt lên cây trái… Đẹp duyên người sống cho người… ». Phạm Duy gọi là  « cảnh sắc đêm thơm xứ Huế ».

 

Thời điểm này Phạm Duy không sáng tác nhiều nhạc trữ t́nh, nhưng âm hưởng Huế lắng sâu vào tâm thức và sẽ tái hiện trong trường ca Con đường Cái Quan sáng tác rỉ rả từ 1954 đến 1960, nhất là đoạn II Qua Miền Trung với đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi. Ca khúc mới nhất của Phạm Duy về Huế là Huế đa t́nh, anh vừa mới phổ thơ Bích Khê, đă thu vào đĩa Dị Khúc Bích Khê,  đă phát hành cuối năm  2010.

 

 

*

 

 

Nhạc dân gian Huế, những cảnh sắc và t́nh người cố đô đă để lại  âm hưởng đậm đà trong tác phẩm Phạm Duy, mà đă có nhiều người Huế nhận ra, từ đó ǵn giữ nhiều cảm t́nh với anh. Thời Việt Nam khép kín, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết dũng cảm, có mơ ước một cuộc đoàn viên giữa giới văn nghệ trong và ngoài nước, trong một bữa tiệc tại cồn Giă Viên. Năm 2005, Phạm Duy được về nước lâu dài, các bạn Huế, trước mọi nơi, đă nồng nhiệt đón tiếp, đưa về Gio Linh thăm người Mẹ năm xưa. Họa sĩ Bửu Chỉ cao hứng vẽ một chân dung và tự hào rằng đă phác họa được tất cả chủ đề chính trong nhạc phẩm Phạm Duy. Trong một festival Huế, ban tổ chức đă dự trù tŕnh diễn Con Đường cái quan, tiếc là dự án bị đ́nh chỉ.

 

Cho đến những năm gần đây,  tuổi đời đă lên 90, sức sáng tác Phạm Duy vẫn c̣n sung măn.

 

Ấy là cũng do tinh thần yêu nghệ thuật, yêu con người, yêu quê hương qua bao nhiêu cuộc khóc cười qua mệnh nước nổi trôi.

 

Cho đến đầu năm nay, nhiều căn bệnh dập dồn, lại thêm cái tang Duy Quang, con trai lớn, sức khỏe anh sa sút hẳn. Và anh đă vĩnh viễn ra đi lúc 14.30 giờ ngày chủ nhật 27 tháng 1 năm 2013 tại Sài g̣n.

 

Đau đớn vĩnh biệt Phạm Duy .

 

 

Đặng Tiến

Orléans, 10-9-2011. Cập nhật 27- 1- 2013.


 

 

[1] Phạm Duy, Hồi Kư I, tr.309, nxb PhạmduyCường, 1990, California. Bài này đă in trong Dân Ca, nxb Văn Nghệ, 1948, Việt Bắc. Và in lại trong Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, nxb Hiện Đại, 1970, Sài G̣n.

[2] Phạm Duy, Hồi Kư II, tr. 257, nxb Phạm Duy Cường, 1989, California.