|
THƠ VĂN VÀ LŨ LỤT
Từ thượng tuần tháng mười một dương lịch năm nay 2007, cũng như năm 1999, nhiều trận lũ lụt nghiêm trọng nhất chưa từng thấy từ một thế kỷ nay đă đổ ập xuống miền Trung Việt Nam, đặc biệt đă tàn phá vùng Thừa Thiên-Huế. Nhiều tỉnh khác, cũng bị thiệt hại nặng nề về nhân mạng cũng như tài sản. Việt Nam từ xa xưa đă có câu ca dao tang tóc:
Ông tha mà bà chẳng tha
Tháng mười Âm lịch, vẫn c̣n ứng đúng vào thời
kỳ lũ lụt ngày nay, cũng như trận lụt năm Giáp Th́n 1964, chồng
thiên tai lên chiến tranh, vào một giai đoạn ác liệt nhất, đă
phá hại miền Trung thân yêu của nhà thơ Tường Linh ( 1933-
2005), qua những h́nh ảnh bi thảm:
Núi cao sông hăy c̣n dài Về sau, khi Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, đă giải thích là chọn địa điểm cao ráo để dân cư không c̣n sợ nạn lũ lụt, trong Chiếu dời Đô (1010). Như vậy băo lụt đă là mối đe doạ đời đời, phản ánh qua truyền thuyết cũng như văn học thành văn. Pḥng vệ lũ lụt, xây dựng và bảo vệ đê điều là nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia, là nhiệm vụ sống c̣n của dân tộc. Từ ngàn xưa, văn thơ đă đánh dấu những thiên tai như bài thơ của Nguyễn Húc thời Lê Thái Tổ, năm 1429:
Gió thu nổi trận ào ào
Triệu Phong đợt đợt sóng dồi
Quai Mễ Thanh Liêm đă lở rồi,
Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu, Nước lụt, Nguyễn Đ́nh Chiểu
Trong bất cứ đề tài nào, văn thơ Nam Bộ vẫn
một giọng nghĩa khí, “ trung hiếu làm đầu “.
Sông vàng máu đỏ, chết đă quá oan; Đến hôm nay mà nói cứu nước lụt th́ chẳng chậm lắm ru? Phải, vẫn khi chậm thiệt, song đă là một việc tai nạn trời làm, mà lại nghĩa anh em đồng chủng, không thể khoanh tay ngồi nh́n mà không cứu, vậy th́ dù chậm cũng c̣n cứu được, mà đă cho là chậm rồi th́ trong lúc cứu này, lại phải làm sao cho chóng, cho mau, nghiă là làm sao cho có tiền có gạo ngay, bây giờ, chứ nếu để lại chậm hơn nữa th́ thương thay!
Cứu dân nước lụt! Dân nước lụt nghĩa phải
cứu, mà cứu th́ phải cứu cho mau, đă có món tiền để cứu rồi th́
phải làm sao cho trong mười đồng phát đến dân không sót tay ai
đồng nào, lại làm sao cho dân được lĩnh món tiền cứu tế ấy chỉ
là những kẻ chân bùn tay lấm, áo manh khố một mà thôi, đó là
điều chúng ta rất nên chú ư.
Này những ai, này những ai
Một trong những thành tựu đầu tiên của văn
chương quốc ngữ là truyện ngắn “Vỡ Đê” của Phạm Duy
Tốn,1917. Truyện ngắn đầu tay của Tô Hoài là “Nước Lên”,
1938, tả cảnh hộ đê, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và nhiều nhà văn
khác đă để lại những trang văn xuôi xuất sắc về cảnh lũ lụt.
Lời Quê, 1950 Ở một miền văn học khác, tùy bút “Thư Nhà” (1961) một trong những thành công đầu tay của Vơ Phiến đă nhập đề bằng một cảnh lụt ở Quy Nhơn. Nhà thơ Tô Thùy Yên, nổi tiếng với bài thơ “Qua Sông” (1971) tả cuộc hành quân trong cảnh trời nước mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long: ... Giặc đánh lớn, mùa mưa đă tới Mùa mưa như một trận mưa liền Châu thổ mang mang trời nước sát Hồn chừng hiu hắt nỗi không tên ... Người chết mấy ngày không lấy xác Thây śnh, mặt nát, lạch mương tanh Bài này, viết về đề tài lũ lụt, là một thâm t́nh, đặc biệt hướng về đồng bào, và bè bạn, nạn nhân của tai trời ách nước, vừa mới ập xuống trên quê hương. Để chứng tỏ rằng văn chương, dù ở xa tổ quốc, vẫn gắn bó với số phận điêu linh của đồng bào trong nước và để kêu gọi tinh thần lá lành đùm lá rách của mỗi độc giả đối với bà con ruột thịt nạn nhân của thiên tai, vọng lại lời kêu gọi trước đây của Tản Đà: Hỡi ai ai! Là những người ông ở trong nước, bà ngoài nước Có nhiều cho nhiều, ít cho ít, Cứu kẻ bần dân lúc thủy tai. Đặng Tiến, Orleans 12- 11- 2007
|