Đặng Tiến

Tổng quan về hồi kư Tô Hoài

Mừng nhà văn chín mươi tuổi

 

 

 

Chiều Chiều 

 

Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín ch́u ruột đau

Chiều chiều ra đứng ngơ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín ch́u

 

 

Chiều chiều nhớ lại. Chiều chiều lại nhớ. Lại nhớ chiều chiều...

 

Chiều Chiều, hồi kư văn học viết xong 1997, xuất bản 1999, là tác  phẩm quan trọng hàng đầu của Tô Hoài, sau khoảng 170 đầu sách, gồm có truyện ngắn, truyện dài, truyện cho thiếu nhi, truyện phim, và khoảng mươi tự truyện kể từ Cỏ Dại, 1944, đến Tự Truyện, 1978, Cát Bụi Chân Ai, 1992,  Sổ Tay Viết Văn, 1977, Những Gương Mặt, 1988,  và mới đây, Ba Người Khác, tiểu thuyết pha lẫn tự truyện, 2006. Những dư địa kư về Hà Nội và nhiều kư sự, du kư...

 

Và nói chung, kể cả những truyện hư cấu, truyện lịch sử... Tô Hoài viết cái ǵ th́ cũng ra... tự truyện. Anh nhẩn nha kể hết chuyện này sang chuyện khác , mỗi tác phẩm đều mang đến cho người đọc nhiều kiến thức mới lạ và lư thú. Thậm chí giọng kể mỗi lần mỗi khác. Ví dụ mới đây: Ba Người Khác hành văn hoàn toàn xa lạ với những tác phẩm trước đây. Cát Bụi Chân Ai đă đem lại  nhiều hiểu biết về văn học, về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu và nhiều người khác,  một thời đại văn chương chữ nghĩa. Tưởng đến đó là hết chuyện, nhưng Chiều Chiều lại mang lại nhiều ánh sáng mới, rọi chiếu vào một giai đoạn dài và nhiều truân chuyên trong xă hội và văn học từ 1955 đến nay. Ngày nay không thể viết phê b́nh hay lịch sử văn học mà không đọc đi đọc lại Tô Hoài.

 

Tô Hoài luôn luôn gửi gấm từng mảng đời thật của ḿnh vào chữ nghĩa, kể cả trong truyện ngắn, truyện dài, và có thể do đó anh không ưa dùng hai chữ tiểu thuyết. Chính Tô Hoài tự nhận điều đó trong hồi kư Một Quăng Đường viết năm 1972: 

« Sáng tác của tôi đều miêu tả tâm trạng của tôi, gia đ́nh tôi, làng tôi,  mọi cái của ḿnh, quanh ḿnh. Quê người, Giăng thề, Xóm Giếng ngày xưa, trong đó có những mảnh đời, mảnh t́nh cỏn con của ḿnh. C̣n những chuyện loài vật tưởng như xa lạ kia cũng không ngoài cái rộn ràng hay thầm lặng của khu vườn trước cửa nhà » (Tự Truyện, 1985, tr.272).

 

Mỗi kư sự của Tô Hoài đều có sắc thái riêng. Ví dụ mảng hồi kư về thủ đô Hà Nội, từ Chuyện Cũ Hà Nội (1986) đến Hà Nội và Hà Nội (1996) đă đem lại những chứng từ sống động về địa dư, lịch sử, phong tục, tiếng nói của thủ đô, và nhà văn Nga Ni-cu-lin đă tinh tế phát hiện ở nhà văn Tô Hoài một nhà dân tộc học. Viết bao nhiêu về thủ đô Hà Nội Tô Hoài vẫn c̣n  « t́nh thương chưa đă, mến chưa bưa »  nên thừa mọi cơ hội để tự t́nh với Hà Nội, từ tiểu thuyết lịch sử Quê Nhà (1970) đến hồi kư Chiều Chiều.

 

 

Tô Hoài - tranh Nguyễn Sáng

 

Tô Hoài đă viết hàng chục tập du kư, hư cấu hay tự truyện. Chú Dế Mèn đă mở những trang phiêu lưu kư đến khắp các miền đất nước, sang láng giềng Lào, Campuchia, sang các nước Âu Mỹ, Á Phi, mà « đỉnh cao » là núi Kilimangierô, nơi Dế Mèn đă phiêu lưu đến năm 1989 (Chiều Chiều tr. 501). Du kư của Tô Hoài ăm ắp t́nh người và lúc nào cũng đăm đắm ḷng quê.

 

Tiếp theo là hồi kư văn học, đặc biệt là Những Gương Mặt (1988) ghi lại chân dung đậm nét về các tác gia bạn bè từ Nguyễn Bính đến Trần Huyền Trân, đằm thắm t́nh nghĩa. Nổi tiếng nhất là Cát Bụi Chân Ai (1992) viết sau thời kỳ đổi mới, đă gây tiếng vang lớn. Một mặt v́ nó tiết lộ nhiều sự kiện, như thái độ một số nhà văn thời kỳ đàn áp Nhân văn Giai phẩm, mặt khác v́ lối viết mới mẻ, ví dụ như những trang về quan hệ đồng tính với Xuân Diệu (1992, tr. 190), những trang nồng nàn t́nh bạn với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân qua bao nhiêu sóng gió. Sách được in đi in lại nhiều lần, trong nước và ngoài nước. Khi tái bản, Tô Hoài chăm chút đọc lại và thêm bớt, tuỳ nhu cầu thông tin hay t́nh h́nh cho phép. Ví dụ trong Cát Bụi Chân Ai, lần in 1997 trong Tự Truyện, anh ghi rơ tên Hoàng Huế là người năm 1956 đă mỉa mai Nguyễn Tuân «thắt cà vạt đỏ đi khắp năm châu » trên báo Đất Mới. Cũng trong Tự Truyện, ấn bản 1997, Tô Hoài thêm  một chương dài 15 trang cho Nguyễn Hữu Đang (tr. 360-374). Và nói rơ thêm về các nhà văn theo nhóm Trốt kưt (Đệ tứ), như Lam Kiều bút hiệu của Nguyễn Xuân Huy (tr. 282), bây giờ ta mới biết.

 

Như vậy, khi đọc Tô Hoài, dù một tác phẩm in lại, nếu đọc kỹ, chúng ta vẫn thu hoạch được những kiến thức mới và hiểu được thời tiết văn nghệ Việt Nam trong khí hậu chính trị Việt Nam: vào thời điểm nào th́ có thể viết được chuyện ǵ, dù là chuyện t́nh trai, lúc nào có thể nhắc đến tên ai, dù kẻ ấy là công thần của cách mạng.

 

Điều lư thú khác khi đọc Chiều Chiều là những bí ẩn kia do bản thân Tô Hoài kể ra sau 50 năm sống trong guồng máy, từ chi bộ đến Đảng bộ, Đảng uỷ. Từ những hồ sơ, người đọc biết những gian nan một thời của Đồ Phồn, Trinh Đường, Phan Kế An... và thêm một số chuyện khác. Như về Thế Lữ, chúng ta cho rằng đă biết đầy đủ qua hồi kư của bà Song Kim; về Quang Dũng cũng vậy, qua những trang giới thiệu của Trần Lê Văn; về Lưu Hữu Phước, hồi kư Mai Văn Bộ tưởng là đă đầy đủ chi tiết về chính trị. Nhưng đọc Chiều Chiều của Tô Hoài mới biết thêm nhiều oan khuất không ngờ tới. Và biết thêm về đời sống văn chương của một thời chưa xa vắng. Về  oan khiên đè nặng lên cuộc đời những Đặng Đ́nh Hưng, Trần Đức Thảo, Trần Huyền Trân, và gian nan của Nguyễn Bính (tr. 228). Về Phan Khôi, chúng ta đă đọc nhiều trang phê phán hay kư sự cực đoan, bên này hay bên kia, với  dụng ư ngoài văn chương. Đọc Tô Hoài sẽ bắt gặp nhiều nét b́nh thường trong đời sống hàng ngày, bên cạnh các kư hoạ về Hoàng Trung Thông hay Phùng Quán.

 

Lại thêm việc tập kết từ miền Nam, năm 1955, « nhiều cán bộ được bố trí ở lại mất tinh thần đă đổ xô xuống tàu, không kiểm soát được, trong khi những người cần đem ra th́ bỏ lại. Các trường hợp Lam Giang và Vơ Phiến là như vậy » (tr. 209). Vơ Phiến công nhận điều này và tỏ vẻ ngạc nhiên: sao Tô Hoài lại biết đến Lam Giang?

 

Ngay về Tô Hoài, theo các tư liệu văn học phổ biến, chúng ta vẫn cho rằng truyện đầu tay của anh là Nước Lên đăng ở Hà Nội Tân Văn của Vũ Ngọc Phan, năm 1940. Đọc Chiều Chiều mới biết thêm rằng trước đó mấy năm anh đă có Những Chuyện Khó Hiểu đăng trên phụ trang  nhật báo Đông Pháp (tr. 496). Nước Lên là truyện đầu tiên được trả tiền do đó Tô Hoài đă nhiều lần viết « tôi vào nghề bằng truyện ngắn Nước Lên » (Tự Truyện, 1985, tr. 250)  gây ra một sai lầm về thư tịch.

 

- o O o -

 

 

Chiều Chiều là con sông dài, qua bao nhiêu ghềnh thác vẫn tiếp tục xuôi ḍng hồi ức.

Hôm nay là đúng 90 năm,  ḍng hồi ức của Tô Hoài mà vẫn chưa ḥ hẹn ngày xuống đồng bằng hay đổ ra biển cả.

 

 

Vậy Chiều Chiều đă mang lại cho người đọc cảm thụ ǵ mới? So với các tự truyện trước, Chiều Chiều nặng phần phê phán thời đại mà tác giả đă trải qua; ở các tác phẩm trước, Tô Hoài thường bao che, bào chữa, như là một hồi kư bao cấp. Đến Chiều Chiều, giọng kể nghiêm nghị hơn về đời sống chính trị và văn nghệ ngột ngạt những năm 1955-1970, về những sai lầm trong chính sách Cải cách ruộng đất, về các đợt học tập chiếu lệ ở trường Đảng cao cấp là trường Nguyễn Ái Quốc, về đời sống Hà Nội từ ngày tiếp thu 1954, qua mấy đợt sơ tán, đặc biệt là những ngày nhà văn Tô Hoài, trưởng khu phố (1965-1972) phải đi mai phục «bắt gái điếm» (tr. 294) và «những người giặt xi líp thuê cho gái điếm »  (tr. 288), «bắt những anh Hà Nội, buổi trưa thuê pḥng chơi gái» (tr. 290), hay cảnh diệt chuột, bắt mê tín, thậm chí cả việc «trông  nom hơn hai trăm cái hố xí hai ngăn của thành phố »  (tr. 301). Hà Nội thanh lịch của Tô Hoài trong các hồi kư trước, đến Chiều Chiều bỗng sực mùi bẩn thỉu, hôi hám suốt mười trang rất hiện thực mà lần đầu tiên, Tô Hoài đă dành cho «việc ỉa đái của đất Kẻ Chợ »  (tr. 300). Ngôn ngữ này sẽ làm ngạc nhiên nhiều độc giả v́ lạ lẫm ở hành văn Tô Hoài, một tác giả hoa mỹ và duy mỹ, có cả một chủ trương về chữ nghĩa, mà từ 1959 anh đă gọi là «chủ nghĩa tiếng nói». Mới đây anh có bài báo:

 « Làm sao cho mỗi chữ là một hạt ngọc trên bản thảo, hạt ngọc mới nhất của ta t́m được, do phong cách văn chương của ta mà có được. Trang sách mà không có «ngọc», trang bản thảo không có chữ thần, không có tinh hoa chữ th́ cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến nhân vật, biết lấy ǵ mà sống được, không có chữ ngon, chữ bổ nuôi nó, trang viết gầy gùa trống rỗng rồi chết héo » : « Tâm sự về chữ nghĩa »,  trên Tạp chí Văn Học, 12/1998, nhưng bài này viết đă lâu,  đă in trong Sổ Tay Viết Văn (1959).

 

Chữ ỉa, đái không chứng minh, mà cũng không phản bác, «chủ nghĩa tiếng nói» của Tô Hoài; theo tôi, nó chỉ chứng tỏ cụ Tô... bực ḿnh; cụ bất b́nh về chính sách vệ sinh thời đó, mà phải phớt tỉnh, cho đến Chiều Chiều th́ nó bật ra. Sự đời, rồi đến t́nh người, cụ bực nhiều chuyện lắm; thậm chí cụ gắt gỏng ngay với con sông Tô Lịch « tuyệt vời nhất châu Á » (!) (tr. 267) mà một đời cụ chắt chiu trong trí tưởng: cái tên Tô Hoài c̣n có nghĩa là hoài vọng sông Tô.

 

Quen giọng Tô Hoài, người đọc nhận ra lúc ngọt lúc chua: ví dụ với Lê Đạt, trong Cát Bụi Chân Ai (1992, tr. 59) kể lại thời Nhân Văn Giai Phẩm và công tác Đảng, anh kể « tôi làm bí thư, Lê Đạt phó bí thư », là ngọt; đến Chiều Chiều (tr. 106) gọi Lê Đạt là «Ông phó bí thư chi bộ cũ của tôi» là chua.

 

Nhưng ví dụ đậm đà nhất là Như Phong, bạn nối khố với Tô Hoài từ Mặt trận Dân chủ (1943) Văn hoá Cứu Quốc, cùng vào tù ra khám, cùng làm báo Cứu Quốc v.v... Nhưng đến khi đánh Nhân văn Giai phẩm th́ Như Phong đánh Tô Hoài rất kỹ, rất ác và rất hỗn như câu  «cái tật làm ra vẻ ḿnh thông minh của Tô Hoài » (Như Phong, B́nh luận văn học, 1964, in lại 1977, tr.103, nxb Văn Học, Hà Nội) c̣n gọi Tô Hoài là «thằng ngoại ô láu cá, văn chương th́ đẽo gọt »  (CBCA, tr 117). Nhưng trong Những Gương Mặt, Tô Hoài vẫn có một chương rất đằm thắm cho Như Phong (không rơ năm viết). Tôi rất lấy làm lạ, và có lần gạ hỏi riêng anh: «Thế không giận à ?» Trả lời: «Giận ǵ? Gặp vẫn đi uống bia ». Tôi cho Tô Hoài là thánh. Nhưng rồi trong Chiều Chiều, anh kể lại thời kỳ đi thực tế (1958) Thanh Đ́nh tay viết kiếm hiệp ba xu một hôm đến đợi Như Phong tại nhà Xuất bản Văn Học, nói: «Tao vào thằng Thạc, tao với thằng Thạc là bạn nối khố, Thạc là tên cúng cơm của Như Phong » (tr. 28); tôi mới hay Tô Hoài không phải là thánh và cũng biết hờn giận như ai. V́ đă gọi một bạn văn bằng «thằng» dù qua lời người khác, cũng là... không ưa thích.

 

 

-  o O o  -

 

 

Tiếng Việt ta không có một từ chính xác tương đương với chữ humour trong tiếng Pháp, tiếng Anh. Ta tuỳ tiện dùng những chữ hài hước, hóm hỉnh, dí dỏm... Nhưng trí óc Viêt Nam rất giàu uy mua (hay u mặc). Ca dao, tục ngữ, truyện tiếu lâm dân gian chứng tỏ điều đó. Gặp văn học phương Tây, nó phát triển mạnh: truyện Vỡ Đê  từ thời Phạm Duy Tốn là một ví dụ; O Chuột (1943), tập truyện ngắn đầu tay của Tô Hoài là một minh chứng về sau.

 

O Chuột, một h́nh ảnh ví von,  là phản ngữ của động từ O Mèo thông dụng, là một sáng tạo ngôn từ  tinh quái của Tô Hoài (o nghĩa là tán tỉnh, như trong từ o bế ; mèo đối lập với chuột).  Ngoài Tô Hoài ra, không ai nói: « o chuột ». Nhưng humour, uy mua, không hợp với văn chương cách mạng. Hiện thực xă hội chủ nghĩa đ̣i hỏi trào phúng, hài hước chỉ đích danh đối tượng, nghĩa là đối phương; c̣n uy mua th́ không rơ ám chỉ ai, mà nhất định phải là một lối văn linh tinh, không đáng tin cậy, nhất là trước một đề tài trọng đại. Lấy Như Phong làm ví dụ, khi ông ấy phê phán cuốn Mười Năm (1957): «Tại sao Tô Hoài cứ phải giở giọng pha tṛ khi nói đến những giờ phút nhiệt t́nh hay cảm động của quần chúng»  (sđd, tr 132). Khổ thân Tô Hoài, theo cách mạng từ tuổi thiếu niên làm sao dám pha tṛ, đùa cợt, chế diễu (sđd, tr. 104) với cách mạng? Ấy chỉ là cái uy mua,  u mặc đặc biệt trong giọng văn và trong cách sống, cách nh́n đời. Sáng tác Tô Hoài luân lưu giữa hai bờ phong cách: u hoài và u mặc. Cuộc đời Tô Hoài là Nụ Cười Thương Nhớ: tên một bài thơ Đinh Hùng, cố tri và cố nhân. (Nguyên câu thơ là: Nụ cười thương nhớ nét đan thanh).

 

Giọng văn dí dỏm khiến người đọc dù nghe chuyện về những nhà văn ít tên tuổi như Sao Mai (sinh 1924) cũng không chán: «Tôi lại khoái ông có máu đa t́nh mà lại chung thuỷ. Léng téng với ai rồi cũng lấy người ta. Nghe nói ông mới có pḥng mới (...)  vừa cai nghiện (...) bằng một liều thuốc dân gian, mạnh và dữ, phi có nghị lực mới cai được (...) Bài thuốc cai của Sao Mai có gia giảm các vị phụ nữ... » (tr. 25-27). Tô Hoài không nói rơ là gia hay giảm.

 

Giọng văn có khi đanh lại, như khi nói chuyện quyền thế, cơ hội, tráo trở. Tâm hồn anh thoáng rộng, không cố chấp về luân lư hay chính trị, thậm chí c̣n bị Như Phong kết tội là hoài nghi chủ nghĩa (!) (Sđd, tr. 132) ; duy có một điều: Tô Hoài t́nh nghĩa, như đă viết: t́nh nghĩa cũng trong lẽ sống tự nhiên (tr. 516) và đă tự nhiên th́ măi măi (tr. 269) ! Và từ đó Tô Hoài không hiểu những thái độ không t́nh nghĩa; chẳng nhất thiết phải là phản bội hay tráo trở. Nói là nhược điểm cũng được đi.

 

Trong Cát Bụi Chân Ai, Tô Hoài có thể xởi lởi với một đại tá Huỳnh Cự trở áo (1992, tr. 116), nhưng đến  tiểu thuyết trộn lẫn nhiều hồi kư  Ba Người Khác, viết cùng thời 1992, công bố 2006, chuyên đề về thời Cải Cách Ruộng Đất, Tô Hoài mô tả kỹ càng nhân vật chính, là viên đội trưởng ác ôn tên Cự, về sau sẽ là trung tá Huỳnh Cự hồi chánh tại Miền Nam, giọng Quảng Ngăi oang oang trên đài phát thanh Sài G̣n. (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, trang 245. Tiểu thuyết kết thúc bằng cái chết của Huỳnh Cự, bị thanh toán tại Sài G̣n trước 1975 với câu  kết mơ hồ «  không biết thực hư như thế nào ». Sự thật là nhân vật vẫn sống  nhiều năm sau đó).

 

Trong Chiều Chiều Tô Hoài đă gay gắt riêng với Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, v́ là, hay dù là, chỗ cố tri trước 1945 (tr.20). Phải chăng v́ Hiếu Chân tránh gặp lại Tô Hoài sau 1975, v́ chút hào khí tuyệt vọng của con người chiến bại, hay tự cho là như thế. C̣n phần Tô Hoài, th́ không có vấn đề ấy; như cái lần  đưa đám ma ông Minh Đức, chủ nhà xuất bản, anh đă phải trả lời Nguyễn Tuân : « Trong đầu tôi không có câu hỏi nào về việc như ông hỏi »  (CBCA, 1992, tr. 57). Đây cũng là một câu nói ch́a khoá, để t́m hiểu Tô Hoài. Có những câu hỏi Tô Hoài không bao giờ đặt ra. Nguyễn Tuân có vẻ không tin (tr. 57), nhưng mà đúng vậy. Ngược lại, có lúc anh  ấy đặt ra những nghi vấn rất chi là vớ vẩn. Cũng có thể Tô Hoài không biết là Hiếu Chân đă bị bắt và chết trong nhà giam Chí Hoà, 1985. Tôi dừng lại hơi lâu ở trường hợp Hiếu Chân, v́ là một biệt lệ, có thể là duy nhất, nhưng có nguy cơ bị khuếch đại và xuyên tạc.

 

Nhân tiện, mong Tô Hoài rà lại về cái chết của Nhượng Tống. Phải chăng ông ấy bị ban ám sát (Việt Minh) khử (tr. 333) như lời Cụ Thắng, hay bị đồng đảng thanh toán, như nhiều nguồn tư liệu đă ghi lại?

 

Giọng văn Tô Hoài cũng có lúc cà kê ở phần sau, khi kể những chuyến đi các nước Á Phi, Nga, Đông Âu, ở giai đoạn mà các chính quyền cộng sản địa phương đang băng hoại. Tô Hoài đi thăm con trai, lao động tại Laixich (tr. 409) mấy năm sau đă tử nạn tại đấy (tr. 521). Một thảm kịch trong đời, nhưng anh chỉ kể sơ lược. Tô Hoài vốn tiết kiệm những chuyện gia đ́nh, riêng tư. Anh chỉ ghi lại những mảng đời tiêu biểu, có liên quan đến xă hội, văn học, và chỉ đề cập đến con người cá nhân khi nó  « mang h́nh thái trọn vẹn của thân phận làm người »  như lời Montaigne.

 

 

-  o O o  -

 

 

Tâm sự thoáng qua của một người có khi hồi quang cả một thời đại. Như vài ba ngày ngắn ngủi khi Tô Hoài đi xe ôm về thăm lại Xóm Đồng ở Thái Ninh, Thái B́nh, nơi anh đă tham gia Cải cách ruộng đất non bốn mươi năm trước (1958-1996).

 

Chuyến đi ngắn ngày chiếm trọn chương cuối với năm mươi trang cực kỳ súc tích và cảm động, như một chuyến hành hương.

 

Những gian nan biến mỗi quá quan thành cố quận. Những ân hận biến mỗi kỳ ngộ thành một cố nhân.

 

Ông Ngăi, nông dân nghèo, có dáng dấp Phan Khôi, người đă cưu mang Tô Hoài, Phùng Quán, thời Cải cách ruộng đất, năm 1958 ngủ giữa bụi tre, bốn mươi năm sau vẫn ngủ giữa bụi tre, trong khi làng xóm thời kinh tế thị trường  « cứ đua nhau mà nhà tầng nhà gác ». Ông Ngăi b́nh luận : «Ối người đi vay lăi, bán lúa từ lúc vào đ̣ng để làm nhà. Chỉ khác ngày xưa lư trưởng, phó lư giàu có, bây giờ chủ tịch, bí thư, xă đội, dạo trước c̣n chân chủ nhiệm, kế toán nữa cũng trộm cắp mà nên giàu có cả »  (tr. 535). Chủ nhiệm Sự giàu sụ, thành nghiện thuốc phiện nặng, hai con trai ở tù, con gái   « ra ngoài tàu ngủ với trăm thằng. Cả mẹ nó ... Bà lăo cũng chẳng tha thằng nào. Có thế mới giầu như điên »  (tr. 546). Thái B́nh. Lại Thái B́nh. Sao Tô Hoài không trở về Xóm Giếng ngày xưa để hạ màn Chiều Chiều, cho bớt năo nùng tiếng sương?

 

Anh trở lại nhà hát Bà Kư Đường trong truyện Nguyễn Khắc Mẫn, nửa thế kỷ về trước, gặp lại Cô Thẹn mười ba, mười lăm tuổi, ngày xưa, bây giờ là bà lăo : «Nước mắt bà lăo chảy ra, không biết cái nước chết lưu niên ở hai con mắt loà lúc nào cũng ràn rụa nhợt nhạt trên mi, hay là nước mắt (...) Cô Thẹn ngày ấy đây. Bà lăo vẫn nắm tay tôi cất giọng phều phào, rè rè 

 

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà ḷng đă chắc những ngày một hai

 

Câu Kiều này (câu 2282, ĐT) đầu mùa đông 1959, Nguyễn Đ́nh Thi đă ghi sổ lưu niệm bảo tàng L.Tôn-x-Tôi ở Tu La. Mỗi khi mơ màng lại cái chuyến về Thái B́nh này, là thật hay chiêm bao. Hai câu lẫy Kiều t́nh nghĩa kia đă thấy ở Tu La hay đă nghe cô Thẹn, bà cụ Thẹn nghẹn ngào ».

 

Những ḍng cuối Chiều Chiều. Giọng Tô Hoài trầm xuống, nghẹn lại. Chấm dứt cuốn Tự Truyện như vậy là tài t́nh. Hay ở chữ tài. Quư ở cái t́nh. Chữ tài vẫn quư nhưng không hiếm. Cái t́nh vừa quư vừa hiếm, càng ngày càng hiếm, có cơ tuyệt chủng.

 

 

-  o O o  -

 

 

Tên sách Chiều Chiều lấy từ ca dao :

           

Chiều Chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai

 

Tô Hoài trích dẫn ở đầu sách, gọi là ca dao cổ. Thật ra nó không cổ, chỉ mới phổ biến hơn trăm năm nay, v́ nguyên là một câu thơ của Tương An Quận Vương, con vua Minh Mệnh, kín đáo khóc Hồng Bảo, con trưởng vua Thiệu Trị, là cháu, học tṛ và bạn tri âm của ḿnh. Hồng Bảo âm mưu tranh ngôi vua với em là Tự Đức nên bị bắt giam và bức tử trong ngục.

 

Nguyên gốc câu thơ là :

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ người đăy gấm khăn điều vắt vai

 

Đăy gấm là cái hà bao bằng gấm.  Bao là cái đăy, hà là cây sen, v́ đăy gồm có hai phần: đăy lớn h́nh lá sen đựng trầu cau, đăy nhỏ h́nh bông sen đựng thuốc. Màu sắc tuỳ thuộc đẳng cấp: vua dùng đăy bằng đoạn màu vàng, hoàng thân, như Hồng Bảo dùng đăy bằng gấm màu đỏ (điều) dân thường dùng lụa màu xanh.

 

Chi tiết nhỏ không quan trọng ǵ, nhưng tôi vẫn tŕnh với Tô Hoài v́ anh ưa thảo luận về chữ nghĩa, trong cái anh gọi là  “chủ nghĩa tiếng nói” (Có lần anh than với tôi: “Ngày xưa c̣n cụ Hoàng Đạo Thuư, thỉnh thoảng ḿnh c̣n có người nói chuyện về chữ nghĩa. Bây giờ ông ấy qua đời th́....” Anh có những câu nhẹ nhàng thế thôi, nhưng nghe... phát ớn).

 

Chiều Chiều... Tô Hoài dùng chữ theo ư nghĩa, nhưng c̣n v́ âm vang của nó. Chiều Chiều là hồi kư của người cao tuổi, như Nhớ Nghĩ Chiều Hôm của Đào Duy Anh. Nhưng chỉ hiểu như thế th́ chưa tri âm. V́ Tô Hoài rất thích âm vang ấy từ hồi c̣n trẻ, như là lúc 23 tuổi. Tại Sơn Tây, ngày 20 Juillet 1943, anh đă viết trong Xóm Giếng ngày Xưa :

«Chiều chiều Ly thẩn thơ ra ngoài bờ giếng. Gă muốn nói măi, nói măi về những chiều vô tội ấy. Những buổi chiều hoa mộng không bao giờ có thể quên, bởi nó ngây ngất mà chẳng mang một nghĩa ǵ rơ ràng (...).  Sao không chỉ có những chiều thơ dại ấy trong tất cả một đời người...»

Năm mươi năm sau, 1992, trong Ba Người Khác anh viết:

chiều chiều, tiếng người ta gọi nhau lao xao bên đường làng, rồi một chấm sao hôm lấp lánh lên đằng chân tre, đứa con gái lùi vào giấc ngủ, vào cơn mê mù mịt đời người”( tr 199)

Cơn mê nào mù  mịt đời người ? Có cần b́nh luận ?

 

Tô Hoài là nhà văn không bao giờ già. V́ con người anh chưa bao giờ trẻ. Tô Hoài miên viễn là  «buổi trưa mùa thu» «Mùa thu có những ngày không sáng, mà cũng không chiều ».  Nhưng vẫn có những chiều chiều. Những chiều chiều măi măi trong chúng ta.

Thỉnh thoảng lại hanh hao lên một âm hao u hoài, xa vắng...

Chiều Chiều...

 

 

Đặng Tiến

Orleans, 14/9/1999- 24/9/ 2010.

Cập nhật mừng ngày thượng thọ Tô Hoài lên Chín Mươi,

Trung Thu, 1920 - 2010

 

 

Tô Hoài và Đặng Tiến

 

 

Trang Đặng Tiến

art2all.net