Mừng Tô Hoài chín mươi tuổi
(*)
Đọc
CHUYỆN CŨ HÀ NỘI

Mùa này, năm ngoái, nhân giới thiệu tác phẩm
Chiều Chiều của Tô Hoài, chúng tôi có viết bài
Tổng quan về hồi
kư Tô Hoài, để mừng nhà văn lên tám mươi tuổi, ấy là tính theo
tuổi ta.
Năm nay, nhân dịp Tô Hoài viết lại, tái bản có bổ sung
Chuyện cũ
Hà Nội (1), chúng tôi lại mừng Tô Hoài thượng thọ tám mươi tuổi, là
tính theo tuổi Tây: Anh sinh ngày 16 Trung thu năm Canh thân,
tính ra là ngày 27/9/1920, tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, Hà
Đông, nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội. Vào tuổi bát tuần, sau
170 đầu sách, ng̣i bút Tô Hoài vẫn dạt dào xuân sắc. Vẫn một
ḍng suy cảm, một khối u hoài. Duy niềm u hoài bên
Xóm Giếng
ngày nay nhẹ phần mơ mộng, thêm phần tư lự.
Chuyện cũ Hà Nội là
niềm hoài cựu miên man về một thành phố, đồng thời là khối trầm
tư ray rứt một đời người về thân phận làm người.
Về Chiều Chiều, tôi đă từng viết
: " Nói chung, kể cả những
truyện hư cấu, truyện lịch sử,... Tô Hoài viết cái ǵ th́ cũng
ra tự truyện ". Chuyện cũ Hà Nội thật ra là
Chuyện Cũ Tô Hoài,
những mảnh đời cụ thể, những mảnh t́nh cảm, suy tư non một trăm
năm dâu bể. Tư liệu và tư duy. Nhân chứng và tâm chứng. Nghiệm
cho cùng, tác phẩm Tô Hoài là chuyện về con người trong t́nh đời
không bao giờ cũ.
*
Chuyện cũ Hà Nội in năm 2000, là một tập kư sự về Hà Nội. Bản in
1986 gồm 42 chuyện, bản in 1994 gồm 64 chuyện, bản in mới gồm
114 chuyện, có chuyện lấy lại từ
Hà Nội và Hà Nội (1996), như Vườn Hoa, tên cũ là
Vườn và Hoa, Cây Hoa. Nhưng đây vẫn chưa
phải là toàn bộ những bài viết của Tô Hoài về Hà Nội, ví dụ
không có bài xuất sắc Đôi Nét Hồ Tây trong
Hà Nội và Hà Nội. Ấn
bản 2000 không phải là ‘có bổ sung’ mà c̣n có sửa chữa và có thể
nói toàn bộ mang một nội dung mới: hai ấn bản trước mang tính
cách hồi kư, có giá trị xă hội hoặc dân tộc học về địa phương Hà
Nội, th́ ấn bản sau này mang dụng công dân tộc học rơ ràng hơn,
theo gương người xưa : " Các danh sĩ Lê Quư Đôn, Phạm đ́nh Hổ,
thời các cụ chưa có các môn xă hội học, phong tục học, nhưng các
cụ đă ư thức ghi chép cẩn thận về mũ áo và cái nón , bởi cái nón
cũng tỏ ra phân biệt địa vị con người
" (tr. 509). Tô Hoài đă
mở rộng đề tài Hà Nội sang địa hạt văn hoá dân tộc trên cả hai
chiều lịch sử và thời sự, như bài
Đất nói về những dụng cụ làm
bằng đất, công dụng ḥn đất trong đời sống dân tộc hay bài
Tiếng
Trống, Đ́nh Làng, Nón Xưa vượt ra khỏi chu vi Hà Nội. Những bài
như Dung và Quyền nói lên thân phận con người ch́m nổi trong
lịch sử : hoạ sĩ Ngô thúc Dung, tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật
cùng khoá với Nguyễn Đỗ Cung, sau 1954 bán vé tàu điện đường
Bưởi, không c̣n nhận ra bạn bè " chán đến nỗi không c̣n muốn
nhận ra nhau nữa " (tr.727).
Trong Hà Nội và Hà Nội, Tô Hoài viết :
" điều lạ lùng là tôi không
thể bao giờ cắt nghĩa hết được sự nối tiếp ch́m nổi của những
cuộc đời con người trong thế kỷ vừa qua trên đất nước ta
" (tr.
153). Chuyện cũ Hà Nội là thân phận trầm luân cuả những kiếp
người dập dềnh giữa ánh sáng và bóng tối.
Ấn bản 2000 so với hai
ấn bản trước vừa nâng cao gấp đôi số lượng, vừa nới rộng chất
lượng chuyện và rọi sáng tâm hồn tác giả, vậy chữ bổ sung không
chính xác. Tô Hoài, người và văn, qua sáu mươi năm vẫn vậy, mỗi
ngày một sắc nét, dù giọng nói có trầm xuống.
*
Chuyện cũ Hà Nội ghi lại những biến đổi trong nếp sống của một
thành phố, qua cuộc biển dâu của đất nước suốt thế kỷ XX và sự
chuyển động văn hoá trên toàn thế giới, trên con đường Âu hoá,
đô thị và công nghiệp hoá. Ḍng chuyển hoá chung của xă hội loài
người lại va phải những ghềnh thác trong lịch sử Việt Nam qua
cuộc chiến đấu dai dẳng kéo dài hơn nửa thế kỷ – cuộc tranh chấp
– phức tạp, qua nhiều giai đoạn, giữa nhiều thế lực, khi tiềm ẩn,
khi thô bạo. Tô Hoài sinh hoạt, quan sát, suy ngẫm, hồi tưởng
và ghi chép trong ư thức thâm trầm và sáng suốt về văn hoá và
nhân đạo. Đă nhiều người viết về
Phở, thậm chí viết hay hơn Tô
Hoài. Nhưng những bài viết của Tô Hoài, từ tiếng rao đêm
‘ngưu
nhục phấn’ của người Hoa, đến gánh
Phở chợ ngoại ô những năm
1930, đến Phở không người lái thời chống Mỹ, cho đến tô
Phở vịt,
Phở chó ngày nay, món ăn đă phản ánh những biến thiên của đất
nước. " Vẫn phở, nhưng phở đă thay đổi nhiều, theo thời gian và
thời thế " (tr. 616). Đĩa bánh cuốn cũng biển dâu:
" con sâu,
cái kiến, và chiếc bánh cuốn cũng có bước đường đời của nó
"
(tr. 596). Bên cạnh những nổi ch́m của
Chả Cá những gian truân
của món Thịt Chó, bài Cháo là đặc sắc. Xưa kia, Vũ Bằng chỉ dừng
lại ở bát cháo ḷng, Tô Hoài viết cả một chương xă hội học về
món cháo.
Nói chung, ng̣i bút Tô Hoài ưu đăi nếp sống dân giă.
Chuyện cũ
Hà Nội chủ yếu là chuyện người nghèo, bắt đầu từ dân quê trôi
giạt về thành phố kiếm ăn, ở đợ, may thuê, gánh mướn, làm
đào
hát, đào rượu. Tô Hoài ghi lại nếp sống thành phố, từ
Cái xe đạp,
Cái tàu điện, đến Chiếc xe kút kít qua
Phố Hàng Đào, Phố Hàng
Ngang, từ cảnh chợ buôn người đến
cơm đầu ghế.
Những niềm vui của trẻ em nghèo, của Tô Hoài thời cỏ dại:
bẫy
chim, chơi chim, trèo me, trèo sấu, cho đến sinh thú của người
lớn, những Hội hè Đ́nh đám, đặc sắc là thú chơi
Diều Sáo. Là
người hiện đại, Tô Hoài lưu tâm đến đời sống kinh tế, mức thăng
trầm các nghề thủ công và viết nhiều về
Chợ, từ những chợ xép
ven đô, đến những chợ trung tâm, chợ trâu ḅ. Anh đếm, cuối năm
1995, Hà Nội có 135 cái chợ quy mô, không kể chợ xanh chợ cóc
(tr. 504). Anh đă ghi lại những phong tục lớn nhỏ, không nhất
thiết là thuần phong mỹ tục. Những tập quán như
Giỗ Tết, Cưới
hỏi, Đón Giao Thừa, không riêng ǵ Hà Nội. Đặc biệt Hà Nội là
những nhân vật hằng ngày, có tên tuổi trong đời sống vô danh:
Bà Viết, Ông Phó Ngạc khâu thuê, Bác Khán goá vợ,
Ông Ấm làm môi
giới, Cô Ba Tư lên đồng, Ông Đồ Huỵch bị Tây bắt ... là những
h́nh bóng linh động và cảm động của một thời. Những h́nh ảnh
khẳng định Chuyện Cũ Hà Nội, kư sự xă hội, là một tác phẩm văn
học trong ư nghĩa đầy đủ của chữ văn học.
*
Người ta vẫn quen nghĩ rằng:
Văn học là một tác phẩm sáng tạo,
chủ quan, ít nhiều hư cấu. Không đơn giản như vậy. Một tư liệu
về thổ ngơi, như Chuyện Cũ Hà Nội vẫn có thể là một tác phẩm văn
học khi tác giả, ngoài lo âu viết đúng sự thật theo ư ḿnh, c̣n
cố công viết một câu văn, một bài viết một cuốn sách hay, trong
cách chọn chữ, đặt câu, gạn lọc chi tiết, sắp xếp t́nh huống.
Trong tinh thần đó Chuyện Cũ Hà Nội ấn bản
2000 " văn học " hơn
hai lần in trước. Có lẽ Tô Hoài ư thức rơ ràng hơn về giá trị
nghệ thuật. Mới hay : ở tuổi nào người ta cũng có thể
" vỡ lẽ " và tiến bộ.
Bài Diều Sáo, mới bổ sung là một ví dụ. Trước tiên, đây không
phải là một đề tài riêng cho Hà Nội. Tác giả tả rất kỹ cung cách
và vật liệu làm diều: Thân diều làm bằng hóp đá cứng nhất ...
ngả vào mùa lạnh mới chắc thớ. Hóp đá và tre đực ngâm vào bùn
trong ao cả mùa, cả năm. Vớt lên, đẽo gọt qua loa rồi đem gác
bếp cả bộ sườn, bộ khung (...) Phiết giấy dán diều cũng tỉ mỉ
vất vả ... giấy bản có gân vỏ dó, khi seo tờ giấy lại pha gỗ ṃ,
bền không rách được. Cái dây diều chỉ cần ba dẻ đay th́ vừa nhẹ
... xong việc diều, đi thử sáo ... Có ba thứ sáo diều ... hôm
nào gió nhỏ lắp sáo c̣i, gió lửng th́ chơi đẩu, có gió trên mới
đóng sáo chiêng. Sáo c̣i lảnh lót, sáo đẩu rền rền... Có gió,
sáo chiêng mới lên tiếng... Tiếng sáo bổng trầm hoà khéo vào
nhau như phường bát âm ngồi trên trời. (tr. 405-408).
Tô Hoài viết văn kỹ càng, dụng chữ cũ càng như thế là để nghe
tiếng ḿnh nói, nghe lời ḿnh nói, sống lại những âm hao xưa cũ
và thơ dại. Đời sau sẽ quư nguồn tư liệu về diều sáo, qua nghệ
thuật mô tả của tác giả nhưng động cơ của Tô Hoài khi viết đoạn
văn này là để sống lại một thoáng hanh hao xưa vắng.
Tác giả tiện dịp cũng nhắc lại những khúc quành trong đời ḿnh,
đồng thời cũng là của lịch sử : lớp truyền bá quốc ngữ 1940,
ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 12/1949, những ngày chống Pháp,
chống Mỹ. Và thường gợi lại những h́nh ảnh quen thuộc trong tác
phẩm của ḿnh, những đàn chim, những ṿm cây, những trận mưa rào,
những vồng hoa cải. Người đọc Tô Hoài từ 60 năm qua, dạo bước
trên con đường xưa, thỉnh thoảng giật ḿnh v́ một mùi hương cũ.
Và chợt thương, chợt nhớ những
Mùa Hạ Tiếng Chim.
Thành phố này đă bắt ăn hết cả chim trời ... Tôi đă đếm trong
các phố chỉ c̣n chim sẻ, đôi ba con chích bông, con vành khuyên
trốn chỗ nào thỉnh thoảng bay qua và ban đêm chỉ c̣n có con éc
lợn (...) chỉ thương những lá sung. Lá sung non ăn chát mà bùi,
hái lá sung ăn gỏi, ăn mắm, bọc nem chạo. Sao mà thương, ấy bởi
người ăn được th́ sâu bọ gặm tốt, lá sung làm mồi ngon cho sâu
róm, bây giờ mới đầu mùa hạ mà những cây sung đă bị sâu ăn trụi
hết lá (... Chẳng c̣n con chim nào về bắt sâu cho cây, mùa hè
nắng chói chang, sâu bọ đă chén hết lá, cây sung ghẻ bị tróc đầu,
trơ trụi, tiều tuỵ (tr. 532).
Ca dao có câu: Đói ḷng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi
t́m người thương. Bây giờ nghe Tô Hoài
xót ḷng thương những lá
sung, không biết ông ấy có c̣n thương nhớ cái ǵ khác nữa không
đây. C̣n nhớ có lần, mới đây -1995- ông ấy viết
" nhớ thế, nhớ
đến nỗi không biết nhớ cái ǵ " (Hà Nội và Hà Nội, tr. 197).
Nghe Tô Hoài thương những lá sung mà ḷng những nao nao.
Tô Hoài chủ trương dùng từ phải chính xác. Gần đây, anh hay dùng
từ ngữ và cách nói ngày xưa, dụng tâm phục hồi ngôn ngữ cổ. Ví
dụ " Số bác Khán cao, phải lấy vợ thiên hạ
" có nghĩa là t́m
duyên ở làng khác (tr. 180), đi làm mướn kiếm cơm thiên hạ (tr.
545), người thiên hạ đến cày cấy (tr. 568), cùng nghĩa khác làng.
Ngày nay, chúng ta chỉ dùng động từ cưới trong nghĩa kết hôn, Tô
Hoài khôi phục từ cưới trong nghĩa khai trương, khánh thành : cưới chợ
(tr. 368, 501) , cưới tàu điện (năm 1899, tr.724).
Ngược lại trong bài Cưới, anh dùng chữ
lấy vợ, lấy nhau, tổ chức
đăng kư kết hôn nhưng không một lần dùng chữ
" xây dựng " đang
thời thượng. Anh c̣n dùng chữ bảo học thay v́
" dạy học ", đôi
năm mươi để nói người cao tuổi qua đời, thường dùng chữ
seo giấy
, thợ seo ít thông dụng. Làm diều cùng một trang, anh dùng ba
động ngữ : phiết giấy, phết (quả) cậy, phất giấy (tr. 406).
Trong bài Nón xưa anh dùng nhiều lần từ
làm nón, có khi khâu nón,
lợp nón mà không thấy dùng chữ " chằm nón
" là chính xác nhất.
Anh bỏ công giải thích một số từ cổ ngày nay thông dụng nhưng đă
mất nghĩa, như cầu cống : cống có khi nghĩa là
cầu, như Cống Đơ,
cống Mọc ; c̣n cầu có khi là nhà trạm, có cột và mái ngói,
thường gọi là Cầu Chợ. Cầu Giấy là chợ bán giấy.
Cầu không nhất
thiết phải qua sông (tr. 506). Bài Hội Hè Đ́nh Đám giải thích
cặn kẽ hội và đám khác nhau ra sao. Nói chung, Tô Hoài đă làm
sống lại nhiều phong tục hội hè đ́nh đám bằng phong cách văn học,
đọc vui mà trau dồi thêm kiến thức.
*
Tô Hoài là nhà văn nổi tiêng công tâm. Mỗi lần tái bản một tác
phẩm, anh thường đọc lại, sửa chữa ; Thường là mài dũa cho câu
văn gọn gàng, chính xác, có khi thêm bớt đôi ba chi tiết. Nhưng
không phải lúc nào cũng đạt.
Lấy Chuyện Cũ Hà Nội để so sánh : ấn bản 1986 gọi là A, bản 1994
gọi là B, bản 2000 là C cho tiện việc. Chuyện
Ghi Lại : Thôi Hữu
kể về cái chết của Trần Đăng : bản A và B ghi 1949 là đúng, bản
C sửa lại 1951 là sai, ít nhất câu : cũng trong trận ấy, Trần
Đăng đă hy sinh (tr. 288), không chính xác : Trần Đăng bị quân
Tàu Tưởng xử bắn, vùng biên giới, ngày 26.12.1949. Thôi Hữu bị
máy bay Pháp bắn chết ngày 16.12.1950 tại Thái Nguyên. Cái năm
1951 nhất định là sai. Cũng bài này, bản A câu kết thật hay, rạt
rào t́nh cảm.
"
C̣n Trần Đăng, ồ chợt như đầu mùa hạ vừa rồi, ở chiến dịch sông
Thao, chúng ta đă cùng đi lên mặt trận phố Ràng
" (tr. 166). Tô
Hoài trực tiếp nói chuyện với Trần Đăng y như là bạn ḿnh c̣n
sống. Chữ ồ cảm động, chữ
chúng ta thân thiết, chữ đă hoài niệm
cái chết. Bản B, Tô Hoài bỏ chữ ồ chữ
đă, bản C đổi chúng ta
thành chúng tôi. Mỗi lúc một lạnh lùng. T́nh nghĩa bạn bè phai
nhạt đi chăng ?
Về năm tháng, bản B: " Năm ấy tôi khoảng mười ba, mười bốn tuổi,
đương học lớp nh́ " (tr. 350), Bản C, hạ xuống
12 tuổi (tr. 372)
là sai, v́ một đoạn khác anh kể " đến năm 1933 tôi đương học lớp
Ba tiểu học, nhà giáo Trần trọng Kim, được bổ đốc học
"
(tr.428). Mười ba tuổi lớp ba, 14 tuổi lớp nh́ là hợp lư.
Sở dĩ lẫn lộn như vậy là v́ Tô Hoài không có trí nhớ niên lịch.
Thậm chí, ngày sinh cũng chả nhớ. Các tư liệu văn học, khi ghi
tiểu sử Tô Hoài th́ mỗi nơi mỗi khác. Xin miễn dẫn chứng. Cái
nhớ cái quên đều có lư do. Anh kể tuổi thơ:
" không mở xem ngày
tháng trong lịch, thấy bỗng dưng lá mít vàng ối từng chiếc trong
cḥm cây xanh thẫm và quả gấc chín đỏ trên giàn, cũng không biết
là đến tháng mấy, mùa nào " (tr. 589). Trong một thời gian dài,
tôi đă thắc mắc : v́ đâu mà một người có trí nhớ kỳ diệu như Tô
Hoài lại hay quên ngày quên tháng. Bây giờ mới hiểu ra : trí nhớ
là một nguồn sáng tạo, nhưng sự quên cũng là một phương tiện cấu
tạo nghệ thuật. Điều lạ lùng này cần được nghiên cứu thêm. Một
ví dụ khác, câu văn hay : " Khi chim tu hú gióng giả xa xa, biết
tu hú đă về th́ quả vải chín đỏ rộ và nắng gắt
" (tr. 526). Biết
thế thôi, chứ không ghi mùa, ghi tháng, không như Nguyễn Bính,
bạn anh, ghi rơ là cuối tháng Ba. Tất cả mùa xuân rộn ră đi
...
Chưa hè trời đă nắng chang chang
Tu hú vừa kêu, vải đă vàng
Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ
Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan ...
Lại một tiếng chim, thân thuộc, đồng tuế, huê t́nh, Hoàng Cầm :
Anh đi xa em mới biết nói thầm
Đường đê chợ Trầm sang mùa tu hú ...
Các nhà thơ này, dù đăng trí, vẫn nhớ tháng nhớ năm. Riêng Tô
Hoài nhớ cảnh nhớ người mà quên năm quên tháng.
Việc chữa lại văn xưa, là một vấn nạn. Nhiều người đă tiếc cho
Nguyên Hồng : Những Ngày Thơ Ấu ấn bản về sau có sửa chữa không
hay bằng bản in lần đầu. Về Tô Hoài, không có việc ấy. Nhưng đôi
nơi làm tôi băn khoăn. Ví dụ bài Đường Về Quê, nhắc đến những
cô
đầu cổng tỉnh, cô đầu phố huyện ... Cô đầu nhà quê - người ta
gọi thế. Bản A tiếp theo : "Các cô, đêm hôm khách khứa, ban
ngày lại cấy gặt " (tr. 160). Bản B
: "Các cô, đêm tiếp khách
khứa, ban ngày lại cấy gặt " (tr.230). bản
C : "Các cô đầu rượu,
đêm tiếp khách khứa, ban ngày lại ra đồng cấy gặt
" (tr. 281).
Theo tôi, bản A trội nhất, cô đọng, t́nh tứ. Thêm vào đôi ba chữ,
t́nh cảm loăng đi. Đây là cảm giác chủ quan , không dựa vào bằng
cớ, nhưng tôi vẫn đưa ra để người đọc văn, viết văn cùng suy
ngẫm, mà không sợ Tô Hoài giận. Thường thường th́ câu văn sửa
lại âm vang hơn. Cùng bài ấy, mở đầu, bản A và
B : " Đường về quê
nội (tôi) không xa mấy ", bản C bỏ đi chữ
tôi, bớt chính xác
nhưng mang âm giai câu thơ bảy chữ cổ điển. Và đoạn cuối, tác
giả sửa chữ đương bản A thành chữ
đang đồng nghĩa, nhưng khác âm
vang : " Tôi đang đi trong chạng vạng chiều cầu Nảy
" (tr. 285). Câu văn thường thôi, nhưng điển h́nh cho phong cách Tô Hoài, từ
ngôn ngữ, âm điệu đến những t́nh ch́m ư nổi. Câu văn thường thôi,
nhưng để đạt tới chỗ thường đó, nhà văn thuộc loại tác gia tài
hoa và uyên bác nhất của nền văn xuôi quốc ngữ đă phải bỏ ra sáu
mươi năm ngày ngày dày công khổ luyện.
Tóm lại Chuyện Cũ Hà Nội, kư sự địa phương, là một tư liệu văn
hoá dân tộc, một chứng từ thời đại và là tác phẩm có văn học có
giá trị cao về ba mặt nghệ thuật, sử liệu và nhân đạo.
Nói chuyện Tô Hoài không bao giờ hết. Nói lắm th́ cũng là Chuyện
Cũ. Chán chuyện rồi, tôi đi nhởi đây.
Chẳng biết có gặp ai chăng, trong chạng vạng chiều cầu Nảy...
Đặng Tiến
25/8/2000-11-9-2011
________
(1) Chuyện cũ Hà Nội, nhà Xuất bản Hà Nội, 2000. 777
trang. In 500 cuốn, khổ 13x19 cm
_______
* Bài viết tháng 9-2011