Trần Hồng Châu:

Một Đời Văn Chương, Những Trang Di Cảo

 

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

Trong văn chương: Trần Hồng Châu, ngoài đời thường: Nguyễn Khắc Hoạch, hai danh tính ấy, chỉ là một: thi sĩ. Dù, nhà văn Trần Hồng Châu là chủ nhiệm tạp chí văn học nổi tiếng một thời Thế kỷ Hai Mươi, là tác giả của nhiều tập biên khảo, tùy bút. Và, giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đă giữ chức Khoa Trưởng Đại Học Văn khoa ở Việt Nam trước 1975, cũng như là giáo sư thỉnh giảng của nhiều đại học nổi tiếng ở Pháp và Hoa Kỳ.

Nhà văn Mai Thảo đă có một nhận xét xác đáng về văn chương của một thi sĩ, mà cũng là nhà giáo dục danh tiếng cũng như nhà biên khảo và viết tùy bút xuất sắc :

“ Đọc thơ và văn xuôi Trần Hồng Châu, tôi nghĩ tới hai điều trái ngược.Về một thời đă mất. Và một sự thể không bao giờ mất, bởi nó chẳng hề bị giam cầm trong giới hạn của một thời nào. Sự thể ấy là văn chương, nơi thơ văn Trần Hồng Châu.”

Không biết ư của nhà văn chủ nhiệm tạp chí Sáng Tạo có phải là văn chương của tác gỉa “ Thành Phố Trong Hồi Tưởng “ đă vượt qua được sự đăi lọc của thời gian? Nhất là, cái tâm vằng vặc của kẻ sĩ Đông Phương, trân trọng với văn học biểu lộ qua chữ nghĩa. Ông đă mất, đă khởi hành chuyến tàu đi vào miên viễn nhưng thơ văn vẫn sống, vẫn c̣n truyền sinh lực cho những lớp cầm bút đi sau. Chất trí tuệ lăng mạn, mà nguồn gốc cả từ Đông Phương lẫn Tây Phương đă làm sâu sắc thêm những suy tưởng, và thành chỉ nam cho những cuộc kiếm t́mtrong hành tŕnh làm mới trong sáng tạo.

Đọc “ Dăm ba điều nghĩ về văn học nghệ thuật”, để thấy cái tâm của một người đă hiểu được sự mông mênh của biển cả kiến thức. Dù là một nhà khoa bảng, dù là một người có đủ tư cách để bàn luận văn chương ở vị trí dẫn dắt. Thế mà, chỉ là “ dăm ba điều nghĩ “mà thôi. Nhan đề tác phẩm không có những liên tưởng đến những tư tưởng vĩ đại, những danh từ to lớn. Thế mà, đọc từng trang, từng chữ mới thấy là một đại dương tư tưởng, một tâm cảm sâu sắc đầy tính sáng tạo.

“ Chung cuộc chỉ c̣n lại dăm ba điều nghĩ, một vài xúc cảm và ấn tượng, hoàn toàn gắn bó với thẩm quan và nhiệt t́nh của một cá nhân sáng tạo văn nghệ, thân mật đi bên những người đồng điệu giữa một vườn hoa nhiều màu sắc. Với cả tấm ḷng tha thiết hướng về Chân Thiện Mỹ. Với phong thái rộng mở của con người không muốn bị ràng buộc bởi bối cảnh, thiên kiến, nhóm phái hay ư thức hệ nào cả. Một con người mong mỏi được hoàn toàn thoải mái đuổi theo và ghi lại mọi vẻ đẹp rơi rớt trên giải đất trần gian mến yêu của tất cả chúng ta.

Tất cả mọi vẻ đẹp. Vội vă, đam mê nắm bắt, ôm cho được nhiều, thật nhiều trong ṿng tay hạn hẹp!

Vội vă, bởi chúng ta đều biết cuộc đời ngắn ngủi và nghệ thuật th́ vẫn là con đường muôn dặm, đường đi không tới! Đam mê, bởi Keats từng nói lên sự thực “ Một vật đẹp muôn năm vui” Nghệ thuật và Đẹp là nguồn suối hoan lạc không bao giờ ngừng chảy. Đam mê, bởi trong những chiều tâm sự với Delacroix, bên cột đèn mờ ảo của Place Furstenberg, hay trong pḥng tranh độc đáo của Constantin Guys, Beaudelaire luôn luôn chủ trương gạn đục khơi trong để chỉ nh́n , chỉ giữ lại phần tích cực, phần đẹp, tạm quên những ǵ mà theo một nhăn quan khác, có thể gọi là khuyết điểm nơi các tác phẩm ( critique des beautés ).

Độc giả hăy cùng người viết khoan thai, nhẹ nhàng mở cửa vào vườn hoa của chúng ta. Tạm bỏ quên các hệ thống, các lư thuyết ở ngoài cửa. Không lư giải, không lư luận. Người viết tự coi đó chỉ là phong cách riêng của ḿnh. Và biết rơ là trên văn đàn c̣n nhiều thái độ phê b́nh, nhiều cách thế, nhiều ư hệ khác nữa, khi đến với tác phẩm văn nghệ. Theo quan niệm nào, thái độ nào cũng có phần tích cực và xây dựng. Miễn là hăng say nhập cuộc, không thờ ơ nguội lạnh. Miễn là chân thành t́m hiểu, tất cả bởi và cho văn nghệ…”

Như một bản tuyên ngôn, không có một thái độ dấn thân nào hơn thế nữa. Tất cả “ bởi và cho” văn nghệ. Có nhiều con đường để đến chân lư và đứng ở đoạn đường này không thể phủ định hoặc chê bai con đường người khác đi. Thái độ không cực đoan, lư luận không một chiều, dễ đi đến những nhận định chính xác hợp lư.

Ở nhà thơ Trần Hồng Châu, văn chương là một thế giới khoảng khoát không biên giới phân biệt Đông Tây, là cả hai cơi nhân gian từ hai đầu trái đất ḥa hợp trong cái bàng bạc mờ ảo để thành mơ mộng lăng mạn. Triết lư, có khi chỉ là phương cách phụ thuộc làm thơ văn hiển lộng.

Khi trả lời bà Thụy Khuê, ông đă tự thú nhận ḿnh là người “ ngoại đạo” trong lănh vực triết học:

“.. Tôi yêu tư tưởng và coi đó là chất liệu không thể thiếu được của văn nghệ, nhất là khi tư tưởng có gốc rễ có tương quan mật thiết với t́nh cảm và cuộc sống, nghĩa là có sự hài ḥa cân đối giữa trái tim và khối óc, luôn luôn cửa để mở ngỏ..”

Có phải ngôn ngữ và h́nh ảnh đă tạo thành cảm quan văn chương để ấn tượng tạo ra sẽ in dấu trong bộ nhớ người đọc. Thơ phải vút cao, biển trời vô tận. Cũng như cái tâm, phải chính đính hiền ḥa vằng vặc như trăng rằm và mênh mông như trang kinh không tuổi.

Ông cũng cho biết, chỉ làm thơ khi có cảm hứng, mà là cảm hứng thật sự:

“ Thơ là cái ǵ mung lung, dựa vào cảm xúc nhiều nên tôi cứ tự thả trôi theo thi hứng. Cho thơ hồn nhiên nở ở đầu cành như một bông hoa đến thời, đến lúc th́ xuất hiện, tự nhiên ở đấy như do sự thúc đẩy của một nguồn sinh lực hữu cơ tiềm tàng nào đó. Hăy bỏ rơi rụng lại những lớp bụi bậm lư trí lạnh lẽo, mốt thời thượng phấn son làm dáng, ấu trĩ tầm thường, khuôn ṃn bảo thủ ù ĺ hay cái “ mới “ a dua, giả tạo hung hăng.

Cuối cùng như tôi đă nói nhiều lần chỉ cần biết bài thơ có đạt, có tới hay không. Có tân kỳ, có độc đáo, có làm rung chuyển cả trí thức và t́nh cảm của người đọc không. Có chân chất, có thơ hay không? Thật ra những ư niệm này cũng rất mơ hồ, chỉ “ cảm “ thấy thôi mà cảm th́ là chủ quan, khó phân tích khó định lượng. Nhưng trực cảm mặc dầu là phi ư thức, mặc dầu không đường biên rơ ràng vẫn là cái ǵ đưa ta thẳng vào tận trung tâm sự vật để vươn tới xứ sở của Chân Thiện Mỹ”

Đọc tập thơ mới nhất, để thấy rằng thi sĩ Trần Hồng Châu đă tận dụng những suy tư vào thi ca như thế nào. Suối Tím, tập thơ in lúc cuối đời dường như mang theo tất cả nỗi niềm của một người nặng ḷng với chữ nghĩa.

Thuở đầu đời, là một nhà giáo dục nổi tiếng, là thầy của hàng ngàn vạn sinh viên mà về sau đă thành nhiều khuôn mặt quen thuộc của văn chương Việt Nam. Khi gần rời bỏ dương thế, vẫn nặng ḷng với thi ca của những chân trời mơ mộng lăng mạn. Thi sĩ Trần Hồng Châu, tức giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, khoa trưởng đại học Văn Khoa, người đă xây đắp một nền tảng vững chắc cho ngôi trường đại học c̣n sơ khai. Cũng như, là chủ nhiệm tạp chí văn chương “ Thế Kỷ Hai Mươi”, góp phần vào sự phát triển của văn học miền Nam thời kỳ ấy.

Nhưng, trước sau ông vẫn là người đa mang với nghiệp thi ca. Ông yêu thi ca và hiểu được tính vĩnh cửu của vần điệu ngôn ngữ. Bàn luận về thơ, ông có niềm say mê của một người đi t́m chân lư. Thơ, là một phần đời sống của ông. Trước khi ông qua đời, chúng tôi có vào bệnh viện thăm viếng và nghe được ông nhắc đến “Suối Tím” như một gửi gấm cuối đời của một người làm thơ. Với đám môn sinh hiện diện lúc đó, ông nói với tất cả tâm huyết của ḿnh lúc cuối đời…

Tôi đọc tập thơ này nhiều lần trong những thời điểm khác nhau. Tôi cầm trên tay tập thơ mà tưởng nhớ đến tác giả. Sách vẫn đây mà tác giả của nó đă đi vào chốn hạc nội mây ngàn rồi. Giở những trang, để thấy bầu trời thi ca lồng lộng. Có những nỗi niềm giàn trải qua ngôn ngữ h́nh tượng. Có tấm ḷng kẻ sĩ, mang mang theo thời thế mịt mù…

Sống ở trong một thời đại đầy biến động như bây giờ, giữ cái tâm vằng vặc quá khó. Huống chi, vẫn tính lăng mạn văn nghệ bẩm sinh, thêm chất nghiêm túc phải có của một nhà giáo, thành một khuôn mẫu văn chương như ông cũng là một hiếm hoi trong cuộc sống này. Trong thơ Trần Hồng Châu, từ ‘ Nửa khuya giấy trắng”, “ Nhớ đất thương trời”, “ Hạnh phúc đến từng phút giây”, thơ bay bổng thăng hoa vượt qua những nhiễu nhương của thời thế. Thơ, là kết tinh của trầm lắng suy tư có từ những hệ lụy của cuộc đời…

Một điều cảm nhận thật rơ ràng với tôi, từ “ Suối tím “ nói riêng và toàn khối thơ ông nói chung, có nét trầm mặc xương kính của phong thái Đông phương trong nề nếp suy tư luận lư Tây Phương. Thơ , như giao diểm hội tụ của hai đường tàu, tưởng song song nhưng thật ra vẫn gặp nhau trong từng cảm giác.

Lạ lùng, đọc thơ mà tôi tưởng ḿnh đi t́m công án. Mỗi mỗi trang, tưởng tượng những khuôn cửa mở ra vào những lănh địa riêng. Có cảm thấy những đè nặng của tư duy triết học, nhưng chất luận lư thoảng qua để c̣n lại những gợi ư bức xúc từ những tượng ảnh mơ hồ chỉ có trong những không gian, thời gian của thi ca. Thơ ông có vóc dáng của một chân dung vĩnh hằng, của những kiếm t́m nỗ lực cái thẩm mỹ quan có sẵn từ cổ đại. Ngôn ngữ, có khi là những viên gạch lót đường để bước nghĩ thong dong chân tới nhưng cũng có lúc là tảng lân tinh rực rỡ lóe lên như tinh đẩu dẫn lối soi đường. Thơ, chính là thông điệp gửi trao, của những đêm thức trắng ngậm ngùi , của những ngày lũi lầm trong cảnh bụi trần cát lấm của cuộc nhân sinh.

“Suối tím “ có ḍng thi ca đồng nhất. Kể cả ba bài tùy bút, là những bài thơ văn xuôi mà không gian chính là biển trời thi ca rộng khắp muôn trùng. Con chữ lấp lánh, phản chiếu một cuộc sống nội tâm phong phú. Thực tế đời thường, nếu có những cơn huyễn mộng, th́ cũng là lộ tŕnh thoảng qua để đến chốn vô cùng. Ngôn ngữ- h́nh ảnh – vần điệu , là xuôi ḍng về nguồn, nơi chốn mà sáng tạo đă thành yếu tố để tầm mắt người thơ cao hơn, xa hơn, thăm thẳm hơn…

Nhiều lúc tôi tự hỏi. Ở tuổi già, liệu tâm tư sẽ ra sao? Chán nản. Hy vọng. B́nh thản. Chờ đợi. Hay là tất cả trộn lẫn lại. Tôi chưa biết. Mỗi người một tâm sự một cách sống riêng. Nhưng, có lẽ từ những thi sĩ, nhất là thi sĩ Việt nam, với chất lăng mạn trầm mặc Đông phương, th́ lúc cuối đời, có lẽ là lúc tự t́m kiếm bản lai diện mục ḿnh. Thơ, sẽ thành một phác họa chân dung nhân bản nhất, để , đôi khi, những dông băo hiện thành từ nỗi quặn đau thiên cổ…

Víêt và làm thơ, với đất nước và thời thế, chỉ là những phác họa gián tiếp. Nỗi đau, dường như là những xúc cảm được che dấu lại. Mượn những điển tích xưa, dùng những tên tuổi cũ, để gợi ư thành, để nhắc nhở tới một đẽo gọt của thơ, từ đá tảng nguyên sinh thành những phù điêu dáng tượng hiển hiện cho đời. Bức tượng ấy, từ những nhát dao sáng tác, có chất chứa những nỗi niềm đa mang của cả một thế hệ. Kiêm lời nhưnmg giàu ư, tôi có cảm giác thơ thành những ṿng tay ôm choàng khắp đến vô cùng. Nét riêng của một người, như chuyên chở nỗi đau của muôn người trong dẫy đầy biến cố của Việt Nam bất hạnh…

Đại cương toàn khối th́ như thế, bây giờ đọc lại những trang thơ để t́m những đoạn tiêu biểu th́ tôi lại ngại ngần. Làm sao, để có những chọn lựa chính xác? Làm sao, để nổi bật cái toàn thể trong cái hạn hẹp trích dẫn ? câu hỏi khó, với tôi. Thơ, mênh mông như mây trời, sao có thể nhét dồn trong khuôn khổ hẹp…

Th́ thôi, đành lấy cái tương đối để mong biểu hiện được cái thơ không cùng rộng vậy…

Có bài thơ, tôi đọc trong sự cảm động. Thơ rất chân thành, có nét hiện thực của đời thường. Những ḍng thơ phác thảo lại những thời điểm mà Đỗ Phủ của Trung Hoa hay Nguyễn Du của Việt nam đă sống, đă buồn, đă cảm, đă viết. Thời của ly loạn, mặc dù đă ngưng tiếng súng của những ngày sau 1975 đau thương:

“.. Đời loạn lạc
chó nhảy bàn độc
hậu vận bố con ḿnh chẳng ra ǵ!
Bố đi bộ suốt Chợ Lớn Mới
Về Đại Thế Giới
Để dành tiền vé xe buưt
Bố mua hai đồng ô mai
Một gói đậu phụng
Bên cửa bếp
Hai bố con ngồi nhấm nháp
Vị xí muội mặn chát
Chua ơi là chua
Ôi men đắng cuộc đời
Ngọn gió nào bỗng thổi tứ tung
Vỏ lạc lá vàng bay
Hai bố con lặng lẽ
Cắn từng miếng me khô
Muối ớt cay cay
Từng quả cóc ngâm đường
Dôn dốt ngọt chua
Bố bảo : bố con ḿnh, thế mà gân ra phết!
Bố nằm xuống đất rồi, lại càng thương bố..
Đời loạn lạc!”

Có liên tưởng nào đến bài thơ chữ Hán của cụ Tiên Điền Nguyễn Du ”Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng. Giang nam giang bắc nhất nang không..”(Kiếp cỏ bồng chân không bén rễ. Bắc rồi nam túi nhẹ ven sông.). Dù, một Hán tự, một Việt ngữ. Đời loạn lạc, thân phận kẻ sĩ thật là chán ngán. Thơ Trần Hồng Châu có nét xác thực, ngôn ngữ b́nh thường, nhưng trong phong thái ấy là một thái độ của một sĩ phu trong một thời kỳ đảo điên điên đảo của dân tộc và lịch sử. Một người đi đông đi tây, đă sinh sống nhiều nơi trên thế giới, mà lúc này, hai cha con chia nhau miếng quà nhỏ để dành từ tiền đi xe buưt. Chuyện cười ra nước mắt nhưng có thực của dân tộc chúng tôi. Đọc thơ, để thấy man mác nỗi niềm. Đọc thơ, để thấy những ngôn ngữ đời thường ấy có sức lôi cuốn biết bao . Và , qua đó , thấy được tấm ḷng cha con thắm thiết biết bao…

Bài “ Kỷ niệm về khuya, trừ tịch “, với chữ Em viết hoa, là hiện thực của cảm giác bềnh bồng, của tiến tŕnh t́m bắt hoài hủy trong chuỗi suy tư. Em, có phải là h́nh bóng đời thường, của son phấn lụa là, của vóc dáng kiều nữ xa hoa? Hay, là tượng h́nh sáng tạo chỉ có trong tâm tưởng những người mong ṃi t́m đến chốn lăng mạn vô cùng. Những câu thơ, của một vấn nạn mờ ảo trong tâm thức. Vô vọng, nhưng mê đắm…

“… Ta vùng dậy đuổi bắt các Em.
Trong hương sắc cầu vồng hồi tưởng
Hiện thực đắm say
Ảo giác vơi đầy
Các Em, gấm hoa t́nh cảm của muôn đời
Hay chỉ là bụi phù vân của giấc mơ dài
Đến với ta lúc năm tận tháng cùng…”

Những câu thơ. Áo xuân ngàn nếp c̣n vương vấn. Buồn thu vạn cổ vẫn chờ mong. Em hư vô hay hiện hữu tuyệt vời. Em độc nhất hay hóa thân muôn vạn… Có phải từ mơ phai kỷ niệm? Hay từ dồn dập nhịp đập trái tim của dĩ văng thuở nào? Cũ xưa, nào ai định nghĩa ? Trăm năm? Ngàn năm? Vạn triệu năm? Có phải không tuổi tác là những cảm giác mới nguyên của lúc ban đầu? Đời thường, c̣n có những mốc cắm xác định thời gian. Chứ trong cái hư ảo của cơi hư vô, làm sao phân biệt được giữa sát na giây phút với miên viễn tận cùng. Trong hành tŕnh mù mịt thiên lư cơi xa, vó ngựa cuồng như ngôn ngữ lẩn khuất vào vần điệu. Có ai đánh thức. Một giấc mơ…

‘ …Khi tỉnh giấc
Chỉ thấy trăng khuya ch́m đáy ly cạn
Chỉ thấy mây trời treo cửa song thưa
Đào lư hồng hạnh
Lan hương vương giả
Mưa, mưa hoa
Bao phủ khắp châu thân
Hồn say đây bỏ ngỏ
Hơi thở những thiên ha
Đến với ta lúc năm tận tháng cùng
Ta vùng dậy
Ôm tơ trăng mây gió và sắc hoa gầy
Ta thành Em
Em kỷ niệm
Chúng ta thành trang T́nh Sử
Mở rộng cho muôn đời…”

Tôi yêu những trang tùy bút. Những thành phố trong hồi tưởng. Những thời điểm đă qua mất hút. Nhưng mầm kỷ niệm vẫn c̣n, ngút xanh. Hà nội. Paris. Trường An Tây Vọng. Những nơi chốn của một người và của một thời. Những bài thơ văn xuôi diễn tả bằng một trời tâm tưởng. Tùy bút Nguyễn Tuân sang cả. Tùy bút Mai Thảo kiêu sa. C̣n tùy bút Trần Hồng Châu lăng mạn khơi mở những ḍng nguồn trác tuyệt của thi sĩ.

Viết về chợ hoa của đất ngàn năm văn vật xưa, thi sĩ như muốn sống lại một thời nào xa lắm, từ hơn nửa thế kỷ xa xôi:

“… Ở đây, màu sắc quả là siêu đẳng nghệ thuật. Chợ Đồng Xuân ngày trước Tết là một trời hoa. Hoa giấy, hoa cây và hoa người. Hoa ngoài chợ, hoa trong chợ… khách si giữa hoa, thở hương hoa, chiêm ngưỡng sắc hoa… Ai đă dồn về đây tất cả người đẹp của băm sáu phố phường? Ai đă xê dịch những vườn hoa c̣n đẫm sương mai của Yên Phụ, Nghi tàm về đây, về trung tâm Hà Nội?

Cúc vàng, cúc trắng, hồng nhung, thược dược, lan nhất điểm,… một bản nhạc hoa mà nhạc công là những cô hàng, áo tứ thân, điểm thêm một giải thắt lưng màu hoa lư hay cá vàng, v́ Tết sắp đến.. Hoa sống và hoa cây tự tô điểm rồi cảm thông với nhau. Và tại sao hôm nay trong vườn hoàng cúc giữa chợ Đồng Xuân tôi lại gặp một bạn gái mặc áo vàng, trùng tên với hoa mùa thu? Có những t́nh cờ, những chuyện thực, nghe hoang đường như một bịa đặt, tuy vẫn là chuyện thực…”

Viết về bước chân của người học tṛ cũ trở về trường xưa, nhớ lại đă hơn gần nửa thế kỷ.

“.. Tôi bước vào sân trong. Trời xanh lồng lộng. Những phiến đá vuông nhỏ vẫn dội vang tiếng ngàn xưa dưới chân du khách. Những bậc hè cẩm thạch vẫn trắng trong như ḷng tuổi trẻ. Những hàng hiên cửa vơng vẫn vươn ḿnh lên, ḿnh cánh cung, như xưa. Tôi hơi rùng ḿnh. Thời gian như ngưng đọng. Cái nh́n của Sorbonne. Của người mẹ . Của người t́nh.

Mẹ Sorbonne da mồi tóc bạc
Nhưng không tuổi và trẻ hơn hiện tại

Những giây phút huyền nhiệm. Có lúc người và vật dường như cảm thông quấn quưt lấy nhau. Trói buộc lẫn nhau bằng ngàn sợi dây vô h́nh, bằng màng lưới thần giao. Tôi đứng sững giữa sân trường. Chết đứng. Nước mắt thấm ướt g̣ má. Sao lại có thể như vậy? Ủy mị, yếu đuối quá đi thôi! Bèn lấy kính mát ra đeo, dằn lại ḍng điện cảm xúc đă làm rung chuyển toàn thân. Bốn mươi năm rồi c̣n ǵ! Tứ thập niên gian hựu phùng quân. Lư, Đỗ và họ Tô ở Hàng Châu! Hăy cho tôi vay muôn ngôn và từ để nói lên một xúc động chưa từng kinh qua. Cho tôi giải tỏa niềm ngậm ngùi reo vui này. Như một mảng khí áp, một khối tích tụ chăn ngang lồng ngực vừa trải qua cơn địa chấn…”

Suối Tím. Có những câu thơ như:
“ Nước trôi suối ngọc tê hồn đắm
Âm sắc tím chim gọi ngàn năm
Buồn cây ch́m bóng cỏ đu vơng
Vết thương sỏi trắng đau bộ lạc
Nằm nghiêng nôi lạnh có buồn không?

Màu tím mênh mang buồn. Nhưng mênh mang sâu thẳm mà biền biệt. Cầm tập thơ nâng niu trên tay, nghĩ đến nỗi niềm trao gửi. Đọc thơ mà tưởng đến người nay đă khuất bóng. Thấy lại nụ cười hiền ḥa. Thấy lại những t́nh cảm đôn hậu bao dung khi nói đến nnhững lớp cầm bút đi sau. Và đôi mắt sáng đă từng mơ mộng đă từng ngâm ngùi đă từng vui buồn theo thời thế đẩy đưa.

Tôi đọc trang thơ, không trầm hương mà sao quyện lẫn trong không khí những mùi thơm cổ kính từ thiên cổ tạt về…

 

 

 

Nguồn : http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=17878