|
“Thành phố trong hồi tưởng” những Mùa Thu
Nguyễn Mạnh Trinh
Mùa Hạ đă qua. Sân trường với những
ô vuông gạch đỏ mấy ngày trước là nơi để nô giỡn của mấy chú
sẻ nâu nay ồn ào náo nhiệt. Ngồi trên pḥng làm việc nh́n
thấy cũng làm sinh động thêm không khí trong campus của mùa
tựu trường. “Back To School”, lại một chu kỳ sinh hoạt mới.
Thấy lại những khuôn mắt ngơ ngác lẫn háo hức của những cô
cậu sinh viên mới. Thấy lại những công việc mà hàng năm tái
diễn cùng với một vài thay đổi cho huê dạng và một ít khác
lạ. Tự nhiên, thấy lại sự chia sẽ với hồi tưởng một ngày nào,
thuở c̣n sinh viên học sinh ở Việt Nam rồi qua đây làm một
sinh viên già vừa làm vừa học rồi trở lại làm việc ở ngôi
trường đại học. Bao nhiêu là kỷ niệm. Thời gian đi qua. Thấm
thoát cũng đă gần trọn đời người. Tôi đă thấy, ở đây. Bao
nhiêu lớp sinh viên đă vào học và ra trường. Bao nhiêu là
mộng ước, đă có, thành tựu hoặc tàn lụi. Và, tôi vẫn c̣n ở
lại, nh́n theo, làm một người mà như thơ Hoài Khanh “Ta ngồi
lại bên cầu thương dĩ văng. Nghe trong hồn rêu cỏ mọc hoang
vu...” Nước vẫn chảy và, đời cứ theo ḍng. Những khuôn mặt
sinh viên đi qua. Và, tôi ở lại, như cầu thệ thủy dưới ánh
tà huy, của một mường tượng nào xa xăm lăng đăng...
H́nh như, tôi thấy lại những cổng trường xưa, những bạn,
thầy cũ. H́nh như, tôi đi ngược về, những không gian nào,
thời gian nào, xưa cũ nhưng không mất hút. Có lúc, mường
tượng và sinh động. Một đời sống nào, trở lại. Một giấc mơ
nào, tái sinh. Tôi đọc “Thành Phố trong Hồi Tưởng”. Tôi đọc
“T́nh Khúc Đại Học”. Tôi đọc “Tuyển tập Trần Hồng Châu”. Bây
giờ, ngày khai trường của một năm học mới, fall semester năm
nay.
Có lẽ, cả một đời giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, tức nhà thơ
Trần Hồng Châu, gắn bó và dính liền với những ngôi trường
đại học. Là khoa trưởng của đại học Văn Khoa thuộc Viện Đại
Học Sài G̣n. Là giáo sư thỉnh giảng đại học Southern
Illinois University. Là cựu sinh viên luật đại học Hà Nội,
cựu sinh viên văn chương đại học Sorbonne.
Thành ra, khi viết “T́nh ca Đại Học”, ông đă có cái tâm cảm
của một người sống lại một thời của ḿnh. Những giấc mơ tuổi
trẻ, những ấp ủ đi t́m kiếm ngọn nguồn của trí tuệ, cùng với
tính t́nh lăng mạn phóng khoáng, đă hiển hiện trong từng
ḍng chữ. Không phải là những khoe khoang mà chính là thái
độ khiêm tốn kẻ sĩ. Một người có tài năng có danh vị mà cũng
đặt tên cho tác phẩm của ḿnh “Dăm Ba Điều Nghĩ Về Văn Học
Nghệ Thuật”.
Giở từng trang sách của “Tuyển Tập Trần Hồng Châu”, tôi thấy
một trời thơ mênh mông lai láng. Không chỉ ở phần thơ tuyển,
mà, tất cả trong tuyển tập từ những tùy bút, đến những trang
biên khảo, đều có nét thơ mộng lăng mạn cách riêng. Có một
chút bềnh bồng nghệ sĩ, cũng như, một chút suy tư của người
đă lỡ bước vào khung cửa triết học. Nhưng ở tất cả, là một
khuôn trời mà cánh chim xoải bay cũng chưa về đến đích. Ở đó,
là những áng mây phiêu du, bất định...
Jacques Prevert đôi khi đă làm người đọc là tôi nhớ măi với
những câu thơ Barbara của một thời học tṛ, theo giọng đọc
của thầy giáo già mà nghe xôn xao trong ḷng những giấc mộng
viễn du, của trái mơ cứ chín nẫu trong ḷng mà tay không thể
với hái...
“Rappelle-toi Barbara.
Il pleuvait sans cesse sur brest ce jour-la
Et tu marchais souriante
Epanouie ravie ruisselante...”
Th́, Trần Hồng Châu cũng làm cho tôi như sống lại một thuở
mê say đắm đuối mộng tưởng đến phương trời mà ḿnh đă quen
từ sách vở: “Barbara, Trời Mưa Trên Môi Tả Ngạn”
“Barbara!
Trời mưa trên phố biển
Trời mưa trên môi tả ngạn
Trời lặn cùng ta
Em vẫn là em
Hoa ngàn năm hóa thạch...
Đêm Paris
Một ḿnh một ḿnh
Từng giọt lạnh cường toan mưa trên hồn nhỏ
Anh nằm nh́n quả cầu lửa
Thơ cháy
Chẳng c̣n đường về mê cung em
Barbara! Trời mưa trên phố biển?
Trời mưa trên môi tả ngạn?...”
Ba tập thơ “Nhớ Đất Thương Trời “, “Hạnh Phúc Đến Từng Giây”
và “Nửa Khuya Giấy Trắng” chọn lại vài chục bài thơ trong
tuyển tập như chứa đựng hết những tinh túy của một nhà khoa
bảng mà đến khi gần nhắm mắt ĺa đời vẫn mong muốn là một
thi sĩ. Một thi sĩ hiểu theo ư nghĩa cao đẹp nhất, một người
luôn đi t́m cái đẹp và ăn nằm với cái đẹp. Với riêng tôi,
t́m trong thơ, quả ông có cái nét đẹp ấy. Của một tấm ḷng
chân thành muốn đi t́m thẩm mỹ quan vĩnh viễn muôn đời. Ở
trong thơ, là một biển trời tâm sự. Trong vần điệu, là nhịp
thở của trái tim giàu cảm lụy. Từ ngôn ngữ, đă sẵn lời tâm
huyết thiên thu.
Ở thể tùy bút, là những tản văn có phong vị đẹp của những
bài thơ âm hưởng. Nhà giáo Nguyễn Khắc Hoạch có lúc trở
thành một cậu sinh viên đầy mơ mộng của ngôi trường Sorbonne
danh tiếng ngày nào: “...Tôi yêu dáng điệu hồn nhiên và
tư tưởng sung măn của Bachelard trong những bài giảng sớm
thứ năm. Bachelard với cḥm râu bạc phất phơ như một rừng
hoa mai bừng nở với giấc mơ Thơ... Cùng nhau giong buồm lái
trở về nguồn Trí Tuệ và Cảm Xúc nguyên thủy... Tôi yêu những
hoài băo lớn lao của tuổi trẻ trên lầu t́nh tự vắng vẻ, cách
xa huyên náo hỗn tạp của thị thành và thị dân đang quay
cuồng vùng vẫy trong sương mù và trong những vùng lửa đèn
màu nửa khuya ở dưới chân đồi Ste. Geneviève mà chúng tôi
vẫn thân mật âu yếm gọi là Ste. Ginette như một cô em gái bé
bỏng nghịch ngợm.
Ở đây trên đỉnh “đồi” linh thiêng tôi đă mơ tuyệt đối và
hiểu tại sao người ta có thể đắm đuối say mê Thơ và Tư Tưởng
như nhan sắc của một người t́nh. Ở đây tôi đă nâng niu những
giây phút bé nhỏ trong đó tôi bồi hồi cảm động gặp lại chính
tâm hồn ḿnh, diện đối diện giữa thanh vắng và hướng nội
trầm tư. Ở đây tôi đă tập thói quen không bằng ḷng với cái
tầm thường, cái ấu trĩ để cố noi theo hướng đi lên của tinh
thần và nghệ thuật...
Tôi đă ngồi rất lâu dưới chân tượng Montaigne, hiện thân của
thâm trầm và khoan dung trong những giờ nhập thiền diện bích
tuy đây không có bức tường nào cả. Để đón hoàng hôn chầm
chậm xuống trong những tấm áo mây chiều lượt là màu ngũ sắc.
Để lắng nghe tâm tư sốt vỡ da và lớn mạnh cùng với cỏ cây
quanh khu vườn trước cửa Đại Học. Để thấy trên những nẻo
đường của Văn và Triết, lối độc hành cổ điển vẫn có những
nét độc đáo và thực là cần thiết, nếu không phải là lối khám
phá duy nhất...”
Rồi Cambridge, Heidelberg, Havard, những ngôi trường đại học
vang danh của thế giới cũng đầy kỷ niệm với một người luôn
mê say đi t́m chân lư cho trí tuệ và chân lư cho cuộc đời.
Những con đường, những giảng đường, chỗ nào khi ghé thăm trở
lại cũng đầy cảm xúc. Chốn này, đă là nơi miệt mài đi t́m
cách thực hiện giấc mộng ấp ủ.
“...Tôi yêu điệu blue “Ḍng sông xanh” của Cambdidge, điệu
moderato tịch mịch chầm chậm nhẹ nhàng buông lơi, điệu nhạc
tươi sáng vừa dựng xong trong tâm tư cho riêng chính ḿnh.
Để tạm quên ư nhạc waltz cuồng say, dồn dập choáng váng của
thành Wien, với sông nước Donau, ḍng sông xanh, xanh... màu
vàng lá úa, màu buồn tàn thu, màu hoàng hôn mệt mỏi héo hon!...”
Hay: “...Tôi yêu bản trường ca màu hồng của Heidelberg.
Màu mong manh sáng chói yêu đời và cũng hơi đàn bà... t́nh
cảm, bâng khuâng... Hồng nhạt, chiếc cầu đẹp như một giấc mơ,
vươn ḿnh qua sông Neckar chở đầy lịch sử, thơ, nhạc và t́nh
yêu. Hồng, hồng mấy công thự baroque của đại học và ṭa lâu
đài trên ngọn đồi xây toàn bằng sa thạch, màu b́nh minh của
núi rừng “từng biếc chen hồng” ở chung quanh vùng...”
Với Havard, cái nôi của những nhà lănh đạo tương lai của thế
giới, của những cô chiêu cậu ấm nắm hết ngày mai của nhân
loại:
“...Tôi yêu màu nâu pha đỏ, màu đỏ nâu ấm áp bền vững - màu
bordeaux hay huyết dụ? - của tường nhà Havard. Ấm áp ngay cả
khi tuyết rơi trắng muốt xóa mờ những băi cỏ xanh. Ấm áp
nhưng cũng e dè như người dân Boston cổ kính, như những dăy
phố tỉnh nhỏ vùng New England với tường nhà để gạch đỏ lộ
thiên, dăi dầu cùng mưa nắng. Màu phù hợp với kiến trúc nhẹ
nhàng, mănh mai th́ “lập quốc” khác hẳn với những khối
ciment cục mịch vô hồn ở các đại học non trẻ, chào đời sau
Thế chiến thứ hai...
... Tôi ít yêu hơn bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng được
đào tạo ở Havard để sau này bước vào chính trường.Họ mang
tên Roosevelt hay Kennedy. Sống trong nhung lụa và ṿng tay
nuông chiều của các bà mẹ âu yếm nhưng thiển cận lại được
chăm sóc trong lồng kính vĩ đại bên bờ Charles River, xa rời
cái phức tạp của cuộc sống đích thực. V́ vậy mà họ ra làm
lănh tụ, d́u dắt cả trăm triệu người trong một thế giới
chính trị bá đạo, muôn mặt lắt léo và đầy mưu mô xảo quyệt.
Cho nên trong việc đối ngoại xứ này đă có những quyết định
quá chừng ngây thơ (có người độc miệng hơn c̣n gọi là... ấu
trĩ) và nền ngoại giao Mỹ quốc từ sau thế chiến đă đi hơn
một bước giật lùi nguy hiểm tuy về kinh tế đă có nhiều thành
tích vẻ vang. Trách nhiệm của học đường, của những kỹ sư tâm
hồn! Người tuổi trẻ Harvard hăy cẩn thận!
Chiều hôm nay tạm biệt Harvard. Ánh trời hoàng hôn lọc qua
kẽ lá nhuộm vàng từng mảng tường gạch đỏ thành một màu kỳ
thú. Tôi ngắt một chiếc lá ivy. Tôi ngắt cả mùa thu kẹp vào
tập thơ của một tác giả trẻ tuổi sáng tác sau những khuôn
cửa sổ nh́n ra Harvard Yard. Chiếc lá biểu tượng. Chiếc lá
kỷ niệm từ một hải đảo trí thức và sáng tạo bập bềnh giữa vô
vàn đợt sóng vật chất của một thời đại một thế giới tưởng
như cũng đang ch́m dần vào ánh trời hoàng hôn...”
Với đại học Văn Khoa, nhà thơ đă mang cái tâm lăng mạn phóng
khoáng của ḿnh để gây dựng một nền đại học dân tộc phản ánh
được tâm t́nh của một thời đại Việt Nam nhiều biến cố và
mang cái tâm nỗ lực xây dựng tương lai.
“Tôi yêu những tấm ḷng trinh bạch và màu trắng đơn sơ hồn
hậu màu thanh bần lạc đạo trên sân tường Văn Khoa. Văn Khoa
linh hồn thầm kín của đại học và quê hương trong những mùa
lịch sử nóng bỏng và sôi động... Tôi yêu màu trắng chiều
đông hơi ngả sang xám hay xanh nhạt của trường cũ cũng như
trường mới, thoáng gợi cái mong manh u buồn của lớp phấn
light blue shadow nằm dài trên mí mắt khi những cửa sổ linh
hồn bâng khuâng ngỡ ngàng dường như mở rộng cuốn chúng ta
vào muôn vạn nẻo đường mịt mùng xa vời vợi hun hút sâu như
vực thẳm giữa ḷng đại dương... Nhớ thương luôn nên mắt có
quầng viền!”
Tôi muốn trích dẫn nhiều hơn những ḍng tuyệt bút mang cái
tâm vằng vặc vào văn chương. Nhưng nếu như thế th́ phải mang
cả cuốn sách vào trong bài viết. Th́, với vài đoạn đơn sơ,
chúng ta cũng có thể cảm được cái ḷng kẻ sĩ của một người
sống trong một thời đại quá nhiều dâu biển biển dâu. Có lúc,
như trong bài thơ thi sĩ đối thoại với cụ Tiên Điền, người
đă mang vào văn chương Việt Nam những vần châu ngọc, để thấm
thía cái câu “bất tri tam bách dư niên hậu”:
“...Đoạn trường gói chặt tấm son
Một thiên bạc mệnh chưa ṃn tuyết băng
Bóng ai lăng đăng cầm trăng
Gió thu hồng biếc một vầng quan san
Lửa hương một nắm tro tàn
Hồng Lam trăm mối đoạn trường về đâu
Đường đời c̣n mải phân vân
Th́ xin ước hẹn vô vàn mai sau
Th́ xin tát cạn nguồn sầu
Ngh́n thu tuyệt bút điểm màu vấn vương
Phấn hương thừa nhặt nẻo đường
Ṇi t́nh ai cũng đoạn trường với ai?
Đêm thu mộng triệu khơi miền
Đoạn trường bướm trắng ưu phiền gió trăng
Gặp người ta lại cố nhân
Bất tri tam bách... một vần cảm thông”
Bây giờ, giở từng trang Tuyển tập
như thấy lại h́nh dáng người thầy xưa hiện về. Viết văn, làm
thơ, soạn tiểu luận, hay chấm bài, soạn sách giáo khoa, dù
đang đứng trên bục giảng đường hay đang trải hồn theo mộng
biếc thanh xuân những ngày du học, tất cả chỉ làm rơ nét
thêm một vóc dáng thi nhân muôn tuổi. Tôi vẫn nghĩ, trong
tâm thức đơn giản của ḿnh, thi ca sẽ có đời sống dài hơn là
khoảnh khắc ba trăm năm mà cụ Nguyễn Du đă thắc mắc cho nỗi
niềm c̣n mất của chữ nghĩa riêng ḿnh!
Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn:
http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=x5HPcwpknCrytwxQv98g5w%3D%3D
|