|
Đặng Tiến Đọc lại TỔNG QUAN VĂN HỌC MIỀN NAM
của Vơ Phiến
Văn Học Miền Nam [1] là
một pho trước tác của nhà văn Vơ Phiến, sinh năm 1925; theo giấy tờ.
Miền Nam ở đây là
cương vực nhà nước Việt Nam Cộng Hoà trước đây, từ Bến Hải đến Cà
Mau, từ 1954 đến 1975. Văn Học bao gồm những sáng tác văn nghệ đă
xuất hiện trong thời gian nói trên, được xếp theo bộ môn : ba cuốn
dành cho thể Truyện, một cho Kư, một cho Tuỳ bút
và Kịch, cuốn út cho Thơ. Về mỗi tác giả, Vơ Phiến
nhận định dài ngắn khác nhau và trích tuyển một tác phẩm tiêu biểu,
trừ bộ môn Thơ có thể trích một hay nhiều bài. Có tác gia được nhắc
đến hai lần v́ sử dụng nhiều thể loại. Cụ thể th́ về Truyện, đếm
được 50 tác giả, về Kư có 22 người, Kịch và Tuỳ bút được 14 tên,
cuối cùng là 32 nhà thơ. Danh mục, tiểu sử ở cuối cuốn Tổng Quan
giới thiệu được non 400 tác gia, lại có bản tra cứu danh sách
(index) tiện lợi. Khước từ Cộng Sản
Vơ Phiến được xem là
ng̣i bút chống Cộng. Chính quyền hiện nay đă ra rả bảo thế, và cấm
đọc cấm nhắc đến ông; và chính ông đă viết:“Vơ Phiến khước từ
Cộng sản ngay từ đầu, có thái độ dứt khoát, vừa sáng tác vừa khảo
luận“( 2000,tr. 240). Ngay từ đầu là thời kỳ chống Pháp, ông đă
bị án tù ở Liên Khu V, nhờ vào hiệp định Genève 1954, bị bỏ sót
trong danh sách tập kết, mới giả làm lái buôn trốn thoát. Tô Hoài
trong hồi kư Chiều Chiều xác nhận Vơ Phiến thuộc diện những người
cần đem ra (Bắc) th́ bỏ lại [2] v́
sơ hở. Về đến vùng quốc gia, ông đă có ngay những tác phẩm tố cáo “chế
độ mà tôi đă từ chối“ [3].
Tháng 4/1975, di tản sang Hoa Kỳ, Vơ Phiến tiếp tục viết sách và
không chấp nhận một thoả hiệp gần xa nào với chính quyền hiện tại .
Nói rơ như vậy để hiểu dụng tâm của Vơ Phiến : Miền Nam (Quốc gia)
đối lập với Miền Bắc (Cộng sản) trong cuộc chiến tranh Nam Bắc cốt
nhục tương tàn kéo dài 20 năm. Văn Học Miền Nam là nền văn chương mà
Vơ Phiến đă góp công xây dựng từ đầu đến cuối, là quê hương thứ hai
được ông nâng niu, tŕu mến. Dĩ nhiên tác phẩm có tư biện chính trị,
nhưng ở Vơ Phiến động cơ chính là nhu cầu tâm cảm và trí thức; vả
lại ông vừa là tác nhân vừa là chứng nhân, nạn nhân của miền văn học
ấy, ông có trách nhiệm, và thẩm quyền phát biểu về nó, cho dù rằng
cách phát biểu có bị giới hạn về mặt thời gian, tuổi tác, sức khoẻ,
tư liệu và văn phong bút pháp. Chưa kể: kỷ niệm, đâu đấy, là một
động lực, đâu đấy lại là một trở lực văn học. Nhu cầu trong và ngoài nước
Văn Học Miền
Nam, Tổng Quan, tức là cuốn I, nay in lại lần thứ 3, chứng
tỏ sách có độc giả. Không dễ ǵ một tác phẩm biên khảo được in đi in
lại. Ở hải ngoại, có nhu cầu về phía những người lưu tâm đến lịch sử
văn học, muốn có những tư liệu đầu nguồn first hand, về nền văn học
Miền Nam từ 1954 đến 1975. Ngoài ra, theo chỗ hiểu biết riêng của
chúng tôi, th́ ở trong nước cũng có nhu cầu như thế, về phía những
nhà nghiên cứu nghiêm minh, muốn thật sự t́m hiểu xă hội văn học
miền Nam, bên ngoài những luận điệu chửi bới biết rồi khổ lắm nói
măi; mà Vơ Phiến là người trong cuộc, v́ ông đă viết sách, viết báo,
làm nhà xuất bản, làm công chức Bộ Thông Tin suốt 20 năm, dài dài
theo lịch sử của chế độ. Cũng có người đọc v́ ṭ ṃ : nền văn thơ ấy
bị lên án như thế, bản thân Vơ Phiến bị chửi bới như thế, vậy thử
đọc xem ông ấy nói năng cái ǵ, đối đáp ra sao. Do đó, trong nước
đang có nhiều người đọc Tổng Quan của Vơ Phiến qua những bản chuyển
lén. Hiện nay số người này càng ngày càng nhiều. Buồn vui trong nghề cầm bút
Đọc Văn Học
Miền Nam để biết chuyện truyền bá chữ nghĩa, đă đành. Mà c̣n
để biết lối sống, cách sinh hoạt, ứng xử của giới viết sách, đọc
sách thời đó. Tổng Quan là một cuốn xă hội học văn học,
đúng hơn là lịch sử văn học. Vơ Phiến ghi nhận thời sự văn học và
báo chí ở mặt nổi, ghi lại những khuynh hướng văn học thăng trầm
trong thế sự, khi phản ánh, khi phản ứng, người ủng hộ, kẻ chống đối.
Ông không làm công việc nghiên cứu văn học thuần tuư, nghĩa là sắp
xếp khuynh hướng rạch ṛi, phân tích động cơ cặn kẽ, tŕnh bày sự
h́nh thành, chuyển biển, theo tác phẩm, tác giả trong liên hệ hữu cơ.
Tao nhân mặc khách theo thanh giáo (puriste) có nhiều lư lẽ chê
trách, c̣n những độc giả muốn t́m hiểu, hay nhớ lại một không khí xă
hội, một thị trường văn học, muốn“ bán tận nguồn, buôn tận gốc“, đọc
Tổng Quan sẽ t́m thấy nhiều yếu tố xă hội đă tạo ra
nền văn học đó. Tần Thuỷ Hoàng ngày xưa, và nhà Minh khi chiếm cứ
nước ta có thể thiêu huỷ toàn bộ tư liệu văn học, - như Vơ Phiến đă
nhắc
[4] -
nhưng ngày nay, một chính quyền, bất cứ chính quyền nào, không có
cách ǵ thiêu huỷ toàn bộ các ấn phẩm. V́ vậy các tác phẩm, nếu có
giá trị, trước sau ǵ rồi cũng được tương lai hồi phục. Riêng một
khí hậu văn học, cái thời tiết xă hội rồi sẽ ch́m trôi theo với một
thế hệ, “một mùa người giữa hai con nước“(une saison d’hommes entre
deux marées), như lời thơ Aragon. Vơ Phiến lưu tâm ghi lại những
buồn vui của nghề, và của người cầm bút, trong một chế độ chính trị
và xă hội đă phôi pha ; vậy đây là một công tŕnh thiết yếu cho nhân
tâm, và quư hoá cho văn học. Huống hồ là trong cung cách “làm
việc tài tử“( Truyện 1,tr. 502), ông đă “ lấy cái kinh nghiệm
của người sáng tác mà bày tỏ dăm ba cảm tưởng về việc sáng tác và
người sáng tác“(tr. 506). Như vậy, đứng về hai mặt nhân văn và
thi văn, Tổng Quan, tập đầu trong bộ Văn Học
Miền Nam, là một đóng góp quan trọng - cần được trân trọng ;
tác giả nói đúng chỗ nọ, sai chỗ kia, th́ lại là chuyện khác. Tổng Quan là một thiên kư sự về xă hội học, ghi lại : văn thơ Miền Nam đă xuất hiện ra sao, trong hoàn cảnh nào, đă biến chuyển rồi kết thúc ra sao, qua một số tư trào và tác gia tiêu biểu. Sách chia làm ba phần :
- Phần I, khái quát
t́nh h́nh vật chất và tinh thần,
Sắp xếp như thế, tác
giả không tránh khỏi lặp đi lặp lại, làm người đọc dễ chán.
Về đời sống tinh thần,
tác giả, miêu tả hoàn cảnh chính trị, tâm lư, vai tṛ của thổ ngơi
Nam Bộ, đưa đến một nền văn học tự do, “một thứ tự do tương đối, có
hạn chế nhưng rộng răi hơn hẳn (miền Bắc)“(tr. 173). Tuy nhiên, cũng
phải phân biệt hai giai đoạn : thập niên đầu, dân chúng hân hoan
phấn khởi, giai đoạn sau “t́nh h́nh chính trị hỗn loạn, xă hội sa
đoạ, kinh tế suy sụp, an ninh bất ổn, với một tinh thần dân chúng
dần dần trở nên thất vọng, chán nản, hoang mang “(tr. 129). Trong
những người thất vọng, chán nản, Vơ Phiến đă trích dẫn những tác gia
đồng thế hệ : Vũ khắc Khoan, Nghiêm xuân Hồng, Vũ hoàng Chương, và
bản thân Vơ Phiến (tr. 271). Ông c̣n có thể kể thêm nhiều tên nữa,
như Nguyễn mạnh Côn, lúc đầu hăng say “Đem tâm t́nh viết lịch
sử“(1956) về sau chua cay nhận là đă “Lạc đường vào
lịch sử“(1965) để cuối cùng đi t́m “Đường nào lên
Thiên Thai“(1969). Chưa kể một số nhà văn, trí thức âm thầm
ủng hộ “bên kia ,nối giáo cho giặc“ . Vơ Phiến đă tóm lược
trong một công thức chắc nịch, mà ông giữ bí quyết về văn pháp :“kẻ
làm giặc, người làm dáng“ (tr. 273). Làm giặc là những tờ báo
Tŕnh Bày, Đối Diện, Tin Văn, làm dáng là báo Vấn Đề của Vũ Khắc
Khoan với Mai Thảo, và những bạn bè trong nhóm Quan Điểm. Tức là
những trí thức tiểu tư sản làm cách mạng. “Làm cách mạng măi
không xong, nản ḷng xoay sang làm dáng“(tr. 273). Câu kéo như
thế, người Pháp gọi là “cú pháp sát nhân “, phrase assassine (!).
Nhưng đây chỉ là phong cách dí dỏm, không ác ư, v́ trong chừng mực
nào đó, Vơ Phiến tự chế giễu ḿnh. II. Những hạn chế
Tuy nhiên trong Tổng
Quan cũng có nhiều điểm cần bàn lại. Kư ức con người thường thi vị
hoá những mối t́nh đầu, Vơ Phiến đă thăng hoa những năm 1955-1956,
khi ông từ bên kia mới về vùng quốc gia, đồng thời với làn sóng di
cư từ Bắc vô Nam. Ông hết lời ca ngợi cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
về mặt chính trị, kinh tế lẫn văn nghệ. Ông viết:“Chính phủ Ngô
đ́nh Diệm thực ra không có hẳn một chính sách văn hoá, không chủ tâm
lái văn nghệ vào một con đường nào, không có tham vọng lănh đạo văn
hoá“(tr. 220). Tham vọng th́ có chứ : nào là nhân vị, duy linh,
pháp trị, v.v... chỉ thiếu cái khả năng. C̣n chính sách văn nghệ th́
có cả quốc sách : diệt cộng, bài phong, đả thực. Cái ǵ chệch ra
khỏi đường lối, hay ngoài phe đảng, là cấm ngay. Ví dụ, cấm cuốn kư
sự lịch sử hiện đại Việt Nam Máu Lửa của Nghiêm Kế Tổ
(1956), cấm cuốn Tuyển Tập Thi Ca Tranh Đấu Hoà B́nh (
tôi nhớ là nhà xuất bản B́nh Minh, Huế, 1955) có in lại thơ kháng
chiến chống Pháp, như Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Thăm
Lúa của Trần hữu Thung. Tự do và áp chế Vơ Phiến có ḷng dành bốn trang cho tạp chí Mùa Lúa Mới, ở Huế, mà ngày nay ít người c̣n nhớ. Ông Trần trọng Đăng Đàn phanh phui không biết bao nhiêu tài liệu công an mà không t́m ra Mùa Lúa Mới, là tờ báo “chống cộng trắng trợn” nhất thời đó. Nhưng Vơ Phiến quên tạp chí Văn Nghệ Mới (Huế, 1955) ra được hai số th́ bị đ́nh bản, một tạp chí văn nghệ giá trị đứng tên Việt Hiến, bút hiệu của Nguyễn văn Xuân; Thu Tâm, bút hiệu của Vơ thu Tịnh, giám đốc Thông Tin Trung Phần và Trần lê Nguyễn là kịch tác gia ( qua đời, 1999). Báo này đăng lần đầu vở kịch Băo Thời Đại, chống Cộng, của Trần lê Nguyễn. Nhưng bị đóng cửa ngay, có lẽ chỉ v́ đă đăng đôi ba bài không vừa ư chính quyền, như truyện ngắn Buổi tắm tất niên, của Nguyễn văn Xuân, kư bút hiệu Xu-văn-Ân, kể chuyện một người nghiện thuốc phiện lười tắm, kết luận ” cách mạng sao cho có thứ ấy mới tài”, bị ngờ là ám chỉ Ngô đ́nh Nhu. Một tờ báo khác bị đóng cửa là Ngày Mai, chủ biên Cao xuân Lữ bi tống suất ra khỏi Huế, hiện nay c̣n sống tại Amsterdam. Nhắc chuyện cũ, có lẽ Vơ Phiến sẽ nhớ ra. C̣n bao nhiêu ví dụ khác, không cần dẫn chứng dài ḍng. Và khi một tờ báo đóng cửa là kéo theo bao nhiêu điều tra, bắt bớ, đàn áp. V́ vậy không thể nói là “không có chính sách văn hoá “.
Trong khí thế tương
tranh thời đó, chống cộng là thường t́nh, có lẽ v́ vậy nên Vơ Phiến
không mấy lưu tâm. Từ đó, trong Tổng Quan và danh biểu
các tác giả, ông không một lần nhắc đến những Đinh xuân Cầu, tác giả
Bên kia Bến Hải (1955), Kỳ văn Nguyên, tác giả T́m về sinh
lộ được giải thưởng tiểu thuyết, dường như cùng một năm với
Đem tâm t́nh viết lịch sử của Nguyễn Mạnh Côn, kư tên Nguyễn
kiên Trung. Báo Chỉ Đạo
Vơ Phiến t́nh nghĩa
khi nhắc đến Mùa Lúa Mới, và công tâm khi nhắc đến hầu hết
các tạp chí quan trọng thời đó, mà không một lời cho báo Chỉ Đạo,
mà ông có biết (tr. 246). Báo này là cơ quan chỉ đạo chiến dịch tố
cộng của Bộ Quốc Pḥng và ông cũng không nhắc đến Người Việt tự
do , tạp chí chỉ đạo và thuyết giáo chính trị thời đó. Ở báo
Mùa Lúa Mới, Huế, Vơ Phiến, Đỗ Tấn... chống cộng trên kinh
nghiệm bản thân; trên báo Sáng Tạo, Sài G̣n, Mai Thảo, Doăn Quốc Sỹ...
chống cộng v́ dị ứng; trong nhóm Quan Điểm, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm
xuân Hồng... chống cộng v́ chính kiến, c̣n báo Chỉ Đạo chống
cộng trong một chính sách rộng lớn, về ư thức hệ, trên quy mô thế
giới, thời kỳ chiến tranh lạnh, đi từ Bến Hải, Quỳnh Lưu đến Poznan,
Budapest, băng qua các quốc gia Đông nam Á. Cũng cần thêm rằng, năm
1959, báo Chỉ Đạo đă có bài viết kỹ càng, dường như là bài
đầu tiên, giới thiệu tác phẩm Vơ Phiến. Người viết lại là... Vũ Hạnh,
kư cô Phương Thảo! Hai đợt Bách Khoa
Tự đặt ḿnh trong
nhóm Bách Khoa (tr. 77), Vơ Phiến không cặn kẽ, không nói rơ có hai
đợt Bách Khoa. Đợt đầu (1957) báo thuộc hội Văn Hoá B́nh Dân của
Huỳnh văn Lang , nên c̣n gọi là Bách Khoa B́nh Dân, do các
ông Huỳnh văn Lang, Hoàng minh Tuynh, giám đốc và phó giám đốc Viện
Hối Đoái điều khiển ; báo được tài trợ, và nhận quảng cáo dồi dào từ
các công ty lớn, các ngân hàng, chưa kể đến hậu thuẫn ít nhiều của
bà Khánh Trang, bí thư của bà Ngô đ́nh Nhu. Đợt sau, từ tháng
2/1965, do Lê ngộ Châu chủ nhiệm, mang tên chính thức là Bách
Khoa Thời Đại, tờ tạp chí đứng độc lập, nhưng vẫn hưởng quảng
cáo và sự hổ trợ một số công chức cao cấp như Đoàn Thêm, Phan văn
Tạo, Trần Thúc Linh. Nhờ vậy mà toà soạn có phương tiện cung cấp
sách báo nước ngoài cho cộng tác viên, như Vơ Phiến đă kể, trả nhuận
bút hậu hĩ ; và quy tụ nhiều ng̣i bút địa phương, theo những chính
kiến khác nhau. Có người lừng danh như Phạm ngọc Thảo, hoặc ít được
biết như Nguyễn ngọc Lương, nhân viên bộ ngoại giao làm nội tuyến,
có người theo Mặt Trận Giải Phóng khá sớm như Thuỷ Thủ, hay muộn hơn
như Trần triệu Luật, cuối cùng như Lữ Phương. Đến 1/1970 báo lấy lại
tên Bách Khoa.
Danh mục các tác gia,
kèm theo tiểu truyện và sự nghiệp trước tác ở cuối Tổng Quan là phần
hệ trọng, v́ là tư liệu khách quan mà cũng là sự đánh giá chủ quan,
dù không là bảng phong thần. Nói chung, th́ danh mục nghiêm chỉnh,
nhưng khó tránh khỏi một số sai sót. Xin chỉ nêu lên vài thí dụ. Một trước tác tâm huyết
Tóm lại trong bộ
Văn Học Miền Nam, cuốn I Tổng Quan là một
trước tác công phu, một kư sự văn học và xă hội học phản ánh đời
sống vật chất và tinh thần của một quần chúng đông đảo dưới một chế
độ xă hội đă đi qua. Một tác phẩm giàu tâm t́nh và tâm huyết, với
nhiều nhận định sắc bén, qua giọng văn tṛ chuyện tự nhiên, thân mật,
dí dỏm. Trong một đề tài rộng răi và phức tạp như thế, dĩ nhiên là
có điểm cần bàn lại, có chỗ cần bổ sung hay sửa sai, nhưng nói chung,
Tổng Quan là một biên khảo thành tâm, đứng đắn, ngay
thẳng, đáng tin cậy.
Vơ Phiến và tác giả, sông Loiret 1986
|