|
Đặng Tiến
CHIM VÀ RẮN: CÁI NH̀N TƯƠNG ĐỐI TRONG VĂN CHƯƠNG VƠ PHIẾN
Nhà văn Vơ Phiến (Nguồn h́nh : Diễn đàn Thế Kỷ)
Sau khi ḿnh chết mà con cháu có làm tới quận công, sao bằng đang sống mà gặp được sự chung t́nh. (Vơ Phiến) Tạp chí Văn học (Cali) có lần đă đăng một tạp luận của Vơ Phiến : « Đối thoại về thịt cầy ». Người quen đọc Vơ Phiến sẽ ngạc nhiên : cái ǵ vậy cà ? Xưa nay có bao giờ nghe Vơ Phiến đ̣i đối thoại ? Hai chữ đối thoại nó lơ láo trong từ vựng Vơ Phiến. Và sao lại đối thoại về thịt cầy, một món ăn mà ông chưa chắc đă sành ? Ông đă viết về thịt ếch, thịt rắn, thịt rùa, có nghe chuyện thịt cầy bao giờ đâu ? Chắc là ông ngụ ư cái ǵ đây. Tôi lại có dịp suy nghĩ thêm về tác phẩm Vơ Phiến. Ngày nay, chúng ta đang có gần đầy đủ tác phẩm Vơ Phiến qua bộ Toàn tập mà nhà xuất bản Văn Nghệ đă dần dà in ra từ nhiều năm nay. Vơ Phiến sử dụng nhiều thể loại, và qua các tập Tùy bút, Tiểu luận, ông đề cập tới nhiều đề tài : cái ăn, cái mặc, cách nói, cách viết, cỏ cây, chim cá, người ngợm ; trong văn học, ông viết về truyện dài, truyện ngắn, truyện xưa, truyện nay, từ câu thơ tám chữ đến bài cḥi. Lạ là ông chưa viết ǵ về món hát bội, nay gọi là tuồng cổ, một thể loại đặc biệt của quê ông, như Tản Đà đă có lần nhận xét : Tuồng B́nh Định, rạp Phú phong. Sao lại có sự thiếu sót đó ? Vơ Phiến nhất định phải hiểu biết về tuồng, trong cái nôi văn thơ của tuổi thơ, bằng cớ là có khi ông trích một đoạn tuồng dài của Tú Thận : « Ăi ăi quan hầu nhập yết nhập yết… » trong truyện Về một xóm quê (1957).
Suy nghĩ lang bang, tôi chợt nhớ đến truyện ngắn
Trăng lu của Lê Vĩnh Ḥa được xây dựng trên một vở tuồng,
Trảm Trịnh Ân. Lê Vĩnh Ḥa là em ruột Vơ Phiến, theo kháng chiến
từ thời chống Pháp rồi chống Mỹ. Vơ Phiến, thỉnh thoảng rời rạc đây
đó, có nhắc đến em ḿnh một cách gián tiếp, như trong truyện Anh
em (1957) « từ khi quê quán chúng tôi trải qua những biến cố
to lớn… th́ em Tân tôi đă xử sự ra một người dân đầy trách nhiệm. Nó
mạnh dạn rời bỏ gia đ́nh tham gia vào cuộc chiến đấu dài suốt mười
năm (…) Nó hết lao những mũi nhọn vào ngoại địch th́ liền quay lại
lao vào những người đồng bào khác thành phần. Nó cất phương tiện
chiến đấu thời loạn mà dùng một phương tiện chiến đấu thời b́nh. Nói
cách khác, nó làm văn sĩ, một văn sĩ chiến sĩ. Nó viết những câu năo
nuột, ai oán về những cuộc sống bần hàn trong sạch giữa một xă hội
bẩn thỉu, nhớp nhúa. Nó thành hẳn ra một kẻ hiệp sĩ hào hoa của thời
đại đấu tranh giai cấp rồi. Đoạn văn mỉa mai, chua chát mà vẫn đằm thắm. Hai nhà văn anh em đă chọn những con đường khác nhau, v́ đă có hai lối nh́n khác nhau về cuộc sống. Tôi xin trở lại chuyện tuồng hát bội với một giả thuyết : Vơ Phiến chưa viết ǵ về hát bội v́ nghệ thuật tuồng xa cách với nhăn giới ông : tuồng là một nghệ thuật cách điệu – « dưới chân không ngựa cũng ra roi » - và những nhân vật cường điệu, bị đẩy tới cực độ của cái tốt và cái xấu : những Tần Cối hay Nhạc Phi, Tạ Thiên Lăng hay Khương Linh Tá đều không xê dịch được trong không gian Vơ Phiến trong đó « một con nhện đu đưa ở đầu một sợi dây tơ thả lửng lơ giữa nhà. Một con ông bầu bay quẩn vài ṿng rồi chui vào cái lỗ khoét ở ḷng trính. Một con chuột nhỏ, thấy im vắng chạy ra đến giữa nền nhà, rồi ngập ngừng, đứng lại, quơ cái đuôi nhọn một cách e ngại. Con nhện chạy quanh cây cột ŕnh bắt con ruồi. Và bụi mọt lặng lẽ rơi lên mặt chiếc phản gỗ ở phía chái nhà trên…và mỗi tiếng trở ḿnh của tôi trên chiếu đủ làm kinh động cả cái thế giới những con chuột con dán. » (Thư nhà, nxb Thời Mới, Sài g̣n 1962, tr.128. In lại trong Tùy Bút II, nxb Văn Nghệ, California 1987, tr.100.) Thế giới ấy làm sao chịu nổi tiếng la hét “ăi ăi quan hầu nhập yết nhập yết” của hí trường hát bội ? Và sân khấu tuồng cổ làm sao dung dưỡng được “những nhân vật rầu rĩ lố lăng, không hứa hẹn một vinh dự ǵ cho chỗ quê hương” ? (Thư nhà, câu cuối).
Có lẽ v́ vậy mà chưa thấy Vơ Phiến viết ǵ về hát
bội chăng ?
1. LẼ SỐNG Chúng ta ghi nhận ở đây sự hoài nghi của Vơ Phiến trước những lư tưởng đạo đức và chính trị lớn lao, xa vời. Có những người chết v́ trung quân ái quốc, v́ một lập trường, chính kiến, th́ cũng có người chết bên cạnh, chết với, chết v́ một ít đồ lót của con đĩ già, và Lẽ sống của họ dừng lại chỗ ấy. Các đạo lư, tôn giáo, chế độ chính trị t́m cách nâng cao lẽ sống con người, nhưng đồng thời cưỡng ép con người khi phải nhón gót, khi phải qú gối, khom lưng cho vừa với tầm thước một lư tưởng nào đó. Con người không phải ai cũng có, hay có khả năng có, một lư tưởng ; đa số t́m thấy hạnh phúc trong lẽ sống tầm thường nhất; “một ít đồ lót của con đĩ già” là một biểu tượng, nó thô bạo v́ nó trả lời lại một xă hội thô bạo, một giai đoạn lịch sử thô bạo, một ư thức hệ độc tài đàn áp, trấn áp con người bằng những lư tưởng, lập trường, quan điểm. Con người không phải ai ai cũng yêu nước. Thế mà tôi buộc anh phải yêu nước; không phải yêu nước một cách tự nhiên, chung chung, mà bằng lập trường giai cấp, trên quan điểm này, chỉ thị nọ, nghị quyết kia. Vơ Phiến đă nêu lên vấn đề tự do con người, trước những giáo điều nói chung, chứ không riêng ǵ với người cộng sản. Nhưng người cộng sản cảm thấy bị va chạm và tổn thương nhiều nhất, v́ lập trường và vị trí độc tôn của họ. Và họ xúm vào xỉ vả Vơ Phiến, gọi ông là “biệt kích văn nghệ”; họ chửi bới hạ cấp mà không chính xác, nên vô h́nh trung, làm quảng cáo cho Vơ Phiến, biến ông thành một thứ lănh tụ chống cộng, điều mà ông vẫn mang ra chế riễu. Truyện Lẽ sống đă đưa h́nh tượng đến lằn mức giới hạn, để chúng ta có thể hiểu rằng : cuộc sống, tự nó, là lẽ sống. Không cần t́m ư nghĩa cuộc sống ở đâu xa : sự sống, trong mỗi hơi thở của mỗi tế bào, đă mang ư nghĩa của nó. Lịch sử trong giai đoạn khắc nghiệt đă lất át ư nghĩa đó, nhưng không thể hủy diệt v́ nó là cơ bản, là nhựa sống của nhân loại. Vơ Phiến đau đớn và chua cay, nhưng công b́nh và thân ái, đă nhận xét : “tiếc thay cuộc tranh chấp lớn lao thường khi bị bắt buộc phải khuấy động đến cả những đời sống hèn mọn, phải dùng đến những phương tiện nhỏ ấy, để làm ra cái lớn lao” (Thư nhà, tr.148). Làm ra cái lớn lao ? Làm lịch sử là một cách… viết tắt – chữ của Vơ Phiến đấy ! Cái lớn lao và những cuộc đời nhỏ nhặt là một chủ đề thường xuyên lảng vảng trong văn chương Vơ Phiến. Truyện Về một xóm quê bắt đầu bằng cái chết của một người anh : “Khi anh tôi đi chuyến dân công cuối cùng, anh không cho giặt chiếc chiếu vẫn lót cho đứa cháu trai đầu ḷng mới mười ba tháng, anh muốn mang theo cả mùi nước tiểu của con để những đêm nằm trên núi bớt nỗi nhớ con… Anh Hai tôi chết không có mồ, và cũng không chắc được vùi đến ba tấc đất”. (Trong Đêm xuân trăng sáng, tr. 310).
“Chuyến dân công cuối cùng”… tác giả không
xác định thời điểm, nhưng người đọc đoán là chiến dịch Tây Bắc
khoảng 1953-1954 đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ. Chúng ta không
b́nh luận về những mất mát trong chiến tranh – họa sĩ Tô Ngọc Vân đă
hy sinh trong chiến dịch này – mà chỉ ghi nhận h́nh ảnh người công
dân đi làm nhiệm vụ - thành tâm hay miễn cưỡng, có hay không có ư
thức công dân – đă mang theo mùi nước tiểu của đứa con thơ. Liệu
những nhà lănh đạo chính trị sẽ đánh giá ra sao ? Dù sao những con
người tầm thường ấy – mà xă hội cho là thấp kém – lâu nay vẫn rầu
rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại –(Thư nhà,
tr. 149), nhưng lúc cần th́ cũng phải tàn bạo, như Bốn Thôi trong
Thư nhà “tên địch đă bị bác ta đập một báng súng vào đầu, tên
ấy vẫn c̣n bị nằm đó” (tr.146). Tôi chạnh nhớ đến truyện Đôi
mắt (1947) của Nam Cao : “vô số những anh răng đen, mắt toét,
gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu
kinh mà lúc ra trận th́ xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm
đến vợ con”. Dĩ nhiên, những người ấy sẽ là những anh hùng dũng
sĩ, họ được hưởng những vinh quang mà đa số nhân vật Vơ Phiến không
bao giờ mơ tưởng. Nhưng có quả thật người chiến sĩ của Nam Cao
không hề bận tâm đến vợ con không ? Trên căn bản người dân quê
Việt nam có thật khác nhau như thế không ? hay chỉ có những lối nh́n
khác nhau về con người, những quan niệm khác nhau về Lẽ sống ?
Đất nước Việt Nam đă chịu đựng những trận chiến tranh ghê gớm. Ngày nay, có kẻ đă tổng kết số bom đạn trút xuống làng mạc chúng ta. Có ai tính sổ được những tang tóc, mất mát, thù hận trên đất nước ? Ngày nay, những chính nghĩa đốp chát nhau chan chát, c̣n những vết thương đang âm thầm nhức nhối có bao nhiêu nhà văn chịu lắng nghe, bên ngoài những gào thét thị phi ? Những đau thương câm lặng của người dân vô tội, được Vơ Phiến gói ghém trong một truyện ngắn. Chim và rắn (1967), đăng ở tạp chí Bách Khoa (số 265-266 ngày 15-01-1968). Khi xin phép xuất bản, truyện đă bị kiểm duyệt của Sài G̣n thời đó gạch xóa rất nhiều – dường như là tác phẩm Vơ Phiến bị kiểm duyệt chiếu cố nhiều nhất (Bách Khoa (phỏng vấn) số 302 ngày 11-08-1969), in lại trong Tạp bút, nxb Văn Nghệ, California 1989, tr. 408). Truyện kể lại những tàn phá của chiến tranh trên cuộc đời của chị Bốn Ch́a Vôi, một phụ nữ nông thôn trong một làng xôi đậu ở miền Trung, “một người nghèo rớt mồng tơi, nhà dột cột xiêu, một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch vú bỏ ḷng tḥng… Chị kiếm củi, ṃ cua, bắt ốc, lúc ở mép suối, lúc ven rừng ven đồi”. Nhờ vậy mà chị có thể vừa làm bạn với Chim, vừa làm bạn với Rắn, trong khi loài người thích chim mà sợ rắn. Chồng bị bom chết, chị gả con gái cho một hạ sĩ quốc gia, tiệc cưới gần tàn th́ bị ném lựu đạn, “anh hạ sĩ chết ngay tại chỗ, c̣n chị Bốn Ch́a Vôi th́ đứt đi nửa ống chân, khắp người lỗ chỗ đều có mảnh lựu đạn ghim “ dân làng đồn rằng chính đứa con trai chị Bốn theo “lực lượng” đă ném lựu đạn để trừng phạt người em gái lấy lính ngụy. Chị được chữa chạy tại tỉnh lỵ, có khả năng t́m việc làm tại thành phố, nhưng rồi vẫn về quê. “Chị trở về làng làm ǵ ? chị đă mất một người chồng, một đứa con rể ở làng. Một đứa con gái dở dang và một đứa con trai thất lạc. Như vậy không đủ ê chề rồi sao ? chị c̣n trở về làng làm ǵ với thân h́nh thủng nhiều vết và với cặp nạng ? Để có thể thản nhiên trở về chỗ tử địa, chỗ sấm sét ấy, con người phải được hướng dẫn bởi một thứ t́nh cảm mănh liệt, không biết là thứ t́nh cảm ǵ tốt hay xấu, nhưng nó phải thật sự mănh liệt. “ Chị về không phải v́ t́nh yêu làng mạc, không phải như Thập Tam trong Thư nhà ngày áp Tết về làng để nghe tiếng gà gáy hay chó sủa. Chị Bốn Ch́a Vôi về làng là để trả thù. “Có người nói chị bây giờ như con hổ thọt, chị dữ tợn vô song. Thằng Bướm bị phục kích hai lần, đều do chị mách. Ba Thiên cho vợ về quy chánh (…) chị Bốn Ch́a Vôi cứ lồng lên : nó mang nợ với đồng bào nhiều quá lắm. Nó phải trả. Hồi chánh thế nào được (…). Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng. Biết bao giờ gỡ cho xong. Nhưng họ say rồi, họ bị hút vào cơn lốc…” Chim và Rắn ngoài những đặc sắc riêng, c̣n tổng hợp được nhiều ư tưởng và phong cách Vơ Phiến. Ở đây, tôi chỉ ghi lại hai điểm : cái nh́n tương đối của tác giả đối với cái tốt, cái xấu. Người kể chuyện “tôi” nâng niu một cánh hoa lan v́ “một vết trắng trên lá lan” mà ông tưởng là phân chim : ḷng vẫn tiềm tàng một niềm khao khát nhớ nhung. Bỗng nhiên gặp một giọt phân chim, niềm vui bừng dậy. Nhưng vài hôm sau mới biết đó là phân một chú thạch sùng, một loài ḅ sát như rắn, sự ngộ nhận không thể tha thứ được, một sai lầm nham nhở, bẽ bàng. Cái tốt với xấu, chính với tà, chân với ngụy, có lúc cũng như “một vết trắng trên lá lan” – phân chim hay là phân rắn. Nhưng điều nguy hại – điểm thứ hai – là nó đă đưa đến hận thù, đă biến một phụ nữ chất phác, hồn nhiên như chị Bốn Ch́a Vôi thành một con vật chính trị hung bạo, “một con hổ thọt, dữ tợn vô song, đứng về phe nhất định đ̣i nợ”. Và Vơ Phiến, từ 1967 đă bày tỏ một ưu tư lớn về dân tộc, một ưu tư chính đáng, ngày nay, hiện giờ đang dày ṿ, hành hạ lương tâm người Việt chúng ta. “Mai sau, khói lửa với quằn quại chấm dứt, nhưng cái nét tàn nhẫn nọ rồi có sẽ lưu lại như một di tích trong tâm hồn chị và những người như chị , lưu lại như một thêm thắt vào cái vốn các đặc tính truyền thống của dân tộc chăng ? (…) Chém giết lọc lừa suốt một phần tư thế kỷ, như thế liệu có thành một tập quán sinh hoạt gây một tệ hại tâm lư ?” Chúng ta vốn tự hào về truyền thống dân tộc. Nay truyền thống ấy được thắt thêm một cái gút hận thù. Nên tự hào thêm chăng ? Tôi bâng khuâng nhớ đến ông Bốn Tản trong truyện Lẽ sống ở đầu bài này, một ông già nhà quê trên 80 tuổi … c̣n lại một ít máu phọt từ chỗ sọ vỡ … một ít đồ lót của con đĩ già…
Lẽ Sống của ông già nhà quê, chắc ǵ đă
nhảm nhí? Và “mưa bay mây mù giữa đồng” Thịt cầy, người ta ăn hay không ăn, thích hay không thích, chẳng có ǵ phải đối thoại. Dù cho thi hào Nguyễn Du có thích thịt cầy, hay người Mỹ, đỉnh cao của văn minh công nghiệp, có không chấp nhận thịt cầy như Vơ Phiến đă ra công tŕnh thuyết, th́ cũng không ảnh hưởng ǵ đến mùi vị một món ăn. Đối thoại về thịt cầy nghĩa là… không đối thoại ǵ cả. Nghĩa là tắc tị ! Như những lời qua tiếng lại về văn học, về chính trị hiện nay. Ông Ba Thê Đồng Thời thế mà thâm. Sống, chó được phân chia thành nhiều loại, đẳng cấp phân minh. Chết, chỉ c̣n lại hai loại: chết có ích, chết trên mâm cơm, để bồi dưỡng cho nhân loại tiến bước, vươn lên lư tưởng, chết như vậy là cầy. C̣n chết b́nh thường, dù cho mồ yên mả đẹp, vẫn là chó; chó chết c̣n tệ hơn chó sống. Gọi nhau là “đồ chó” đă là tệ, chửi là “quân chó chết” c̣n nặng nề hơn. Cái đạo lư của con người, kể ra cũng sơ lược. Chiều cuối năm. Nhớ bạn hiền. Mùa đông chiều xuống sớm. Chưa thèm rượu mà đèn đường đă sáng. Nhớ xa xôi. Nhớ một câu văn Vơ Phiến không biết đọc ở đâu. Có thể không phải Vơ Phiến. Chỉ đơn giản thế này thôi : “Trời ! một ngọn đèn vàng cạch tầm thường khuất lấp trong một cái thường nhật vô danh như thế, vẫn sáng đâu đó nơi chàng suốt ba mươi năm (…) “Chiều vẫn c̣n mưa bay nửa trời, những con én chiều bay lẻ đă lặn mất vào bóng tối…”.
Chiều nay 28 -9 -2015, ngọn đèn đă tắt.
Và con én chiều bay lẻ đă vĩnh viễn lặn mất vào
bóng tối.
Viết 1991, cập nhật cho ngày tang Vơ Phiến
Vơ Phiến và tác giả, sông Loiret 1986
|