|
Đặng Tiến
VƠ PHIẾN
ĐIỆU NHẠC THẦM VÀ TRUYỆN THẬT NGẮN
Vơ Phiến 1994- Tranh Đinh Cường
Tác phẩm mới nhất của Vơ Phiến Truyện thật ngắn [1] có tựa đề thoạt tiên, có vẻ là một lối chơi chữ, một thoáng nghịch ngợm mà ta thường thấy ở nhiều tác giả tên tuổi, đặc biệt ở Vơ Phiến. Đă có nhiều sách mang tên “truyện ngắn” hay “Truyện Ngắn”, nhưng dường như chưa có chuyện nào là Truyện thật ngắn. Gọi như thế cho nôm na, lại khỏi trùng lặp, như ở nông thôn ngày xưa người ta đặt tên con kỳ quặc để tránh phạm tên các bậc tiền bối hay trưởng thượng. Chưa kể, chính Vơ Phiến cũng đă cho in hai tập Truyện ngắn trong toàn tập tác phẩm [2]. Thứ đến, Truyện thật ngắn quả có ngắn thật. Mấy truyện đầu chỉ độ dăm sáu trang khổ nhỏ in chữ lớn; về sau, truyện dài ra, có khi tới mươi lăm trang, đến độ tác giả phát hoảng, vội vội vàng vàng “kính mong lượng thứ” – lại là một cách nghịch ngợm khác. Truyện thật ngắn được in sau 19 tác phẩm viết trong nước và 5 tác phẩm viết ở nước ngoài từ 1975. Từ Lại thư gửi bạn (1979) đến nay, bên cạnh cuốn Văn học miền Nam (1987) là sách khảo luận, th́ Vơ Phiến không xuất bản sáng tác mới, mà Truyện thật ngắn lại được viết rất nhanh trong hai tháng, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1991. Dù viết nhanh, Truyện thật ngắn nhất định phải được tích luỹ từ lâu nên rất hàm súc, sắc bén và thi vị, tổng hợp được mọi hương sắc trong nghệ thuật Vơ Phiến.
Mười hai truyện thật ngắn kể lại một vài kỷ niệm
tầm thường, những cảnh những người bắt gặp ở quê nhà, nối dài ra
nước ngoài. Mỗi truyện, trong lối viết thâm trầm của Vơ Phiến, đều
có giá trị nghệ thuật và nhân đạo cao, và tự tại. Mỗi truyện là một
hứng thú của người viết, một lạc thú cho người đọc, nhưng mười hai
truyện kết hợp lại thành một chuỗi cườm nhất quán, được cấu trúc
chặt chẽ và hài hoà, gián tiếp nói lên kinh nghiệm sáng tạo của nhà
văn, dưới nhiều khía cạnh: tương quan giữa tác giả và tác phẩm, với
nhân vật, với đạo lư, dư luận, và ngoại cảnh. Kinh nghiệm th́ bao
giờ cũng riêng tư, nhưng trong Truyện thật ngắn – dù
được gói ghém kín đáo và từ tốn – đă vươn lên mức điển h́nh. Có lẽ
nhờ lối ẩn dụ mà sự điển h́nh có tầm khái quát sâu hơn, rộng hơn, v́
mông lung hơn những hồi kư sáng tác có tính cách lư thuyết, từ Nhất
Linh đến Nguyên Hồng, Tô Hoài... Với độc giả, Vơ Phiến vừa gần mà lại vừa xa. V́ gần, ông được nhiều người yêu mến; v́ xa, ông được cảm nhận không đúng mà cũng không sai. Chính điều này đưa tới nỗi cô đơn của người cầm bút và những nét buồn bă thoáng gặp trong Truyện thật ngắn. Bài này chủ tâm nhấn mạnh vào một nét khu biệt trong Truyện thật ngắn, là tâm sự nhà văn trong sáng tác.
Trong truyện đầu tiên Cô áo đen,
người kể truyện – tạm gọi là tác giả – gợi lại cuộc gặp gỡ ngắn ngủi,
trong pḥng đợi một bệnh viện, với một cô gái xa lạ. Ngay từ phút
đầu tiên, anh đă cảm nhận tia mắt của t́nh yêu song phương “ Bước
vào pḥng, đầu tiên mắt phóng đúng vào khuôn mặt cô ta. Cô ta nghe
có người vào quay nh́n, tia mắt hướng đúng vào mặt chàng. Không ai
có dấu hiệu bối rối. Nàng “tự nhiên ” nh́n qua chậu cây...
chàng “tự nhiên” chọn một chỗ ngồi... T́nh yêu ở đây dĩ nhiên chỉ xảy ra trong tưởng tượng, nhưng nó thật trong ư thức quả quyết của nhà văn. Tôi cố t́nh gạch dưới niềm tin chủ quan chắc nịch đó: nội dung một tác phẩm là những t́nh cảm, tư tưởng chủ quan của tác giả; nó có giá trị đến đâu là ở chỗ tác giả rung cảm thành thật đến đâu, và có khả năng ngôn ngữ đến đâu để biểu hiện. Chuyện thơ văn, hội hoạ đại khái đều như thế. Một tác phẩm nghệ thuật, trước tiên, là tiếng thầm của tác giả. Anh là độc giả, anh chỉ là người nghe ké, nghe lén. Vơ Phiến tế nhị và lễ độ, không bao giờ nói thế. Ông nói khác: văn chương giống như những đ́nh đám tốn kém để khoe khoang “ Th́ cũng như một cách thuê lỗ tai người ta vậy mà, thấy không?” (tr. 112). Dù phải bỏ tiền ra mua sách, mua báo, anh vẫn chỉ là người nghe ké, và cần biết giới hạn thẩm quyền – về luận lư và luân lư – ở mức đó. Dù sau này anh có gán cho văn nghệ một thiên chức cao cả nào đi nữa, th́ anh vẫn nhón gót trên nấc thang của người ngoại cuộc. Khi kể lại Một buổi sáng giữa đồng, và “cái hôn phần nào hoang dại...những cái hôn tiền sử” đă bám sâu vào kư ức, người kể thắc mắc:
“Lẽ nào sau bao nhiêu dâu bể động trời, nào
cách mạng, nào kháng chiến, sau hàng triệu mạng người, hàng triệu
tấn bom, lại có thể sục sạo vạch t́m dấu vết một khoảnh khắc cỏn con
của một buổi mai giữa cánh đồng vô danh... Nghệ thuật làm bằng những “lư do không nên kể”. Ngược lại, những lư do nên kể th́ lịch sử đă kể rồi, kể đi kể lại, bắt người ta nghe, bắt người ta học, đôi khi vừa kể vừa xỉa xói, tra tấn hành hạ và hành quyết. C̣n văn chương “là một buổi mai giữa cánh đồng vô danh” – hoặc một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao. Đại khái. “Mỗi tuổi già là một lời tự thú”. Malraux đă trầm tư như thế trong La condition humaine. “Ngày xưa tôi có lần kể cuộc phiêu lưu của một người không nhận ra giọng nói của ḿnh vừa được ghi âm, v́ anh ta nghe lần đầu qua lỗ tai chứ không phải qua cổ họng: và, v́ chỉ cổ họng mới chuyển đến chúng ta giọng nói từ nội giới, tôi gọi cuốn sách ấy là Thân phận làm người”. Malraux giải thích như vậy về sau này, trong Les voix du silence – Tiếng nói củaim lặng. Niềm hoang mang siêu h́nh của nhân vật Malraux hay nỗi hân hoan đón đợi t́nh yêu trong Truyện thật ngắn đều là cách tiếp cận cuộc sống chủ quan trong mỗi ư thức cá nhân, qua giọng nói trong cổ họng. Nhân vật của Nhất Linh cũng có lần lắng nghe tiếng ḿnh nói, khi mở đầu Đôi bạn:
“ – Trời muốn trở rét...
Tác phẩm văn nghệ bắt nguồn từ một tiếng thầm.
Mùa thu trong Đôi bạn là tâm cảnh của Trúc, của Nhất
Linh, một tiếp xúc chủ quan với cuộc sống. Chính Nhất Linh đă tâm sự
trong lời tựa: “ Để qua cái phút trống rỗng không tránh được lúc
bắt đầu viết, theo thói quen tôi viết liều một câu, bất cứ câu ǵ
vụt hiện ra trong trí: Rồi tôi ngồi yên lặng tự bắt buộc phải nhớ lại, gần như sống hẳn lại, cái thời kỳ...” . “ – Trời muốn trở rét...”, cái câu viết liều ấy chính là tiếng thầm trong cổ họng Nhất Linh. Trong Cô áo đen, Vơ Phiến đẩy sự chủ quan xa hơn, để tạo ra biểu tượng. Để bắt gặp tiếng nói âm trầm trong cổ họng, ta cần lắng nghe điệu nhạc thầm trong câu văn, trong cấu trúc ngữ âm của nó, trong đoạn trích ở trên: “ Hơn năm tháng rồi, lâu lâu chàng lại thấy... Hơn năm tháng rồi, cứ lâu lâu... Hơn năm tháng..” Và đây là những tiết điệu khơi ḍng cho khúc nhạc thầm Cô áo đen: “Hôm đó, giữa trưa, chàng đang ngồi thẩn thơ nh́n ra vườn th́ chợt thấy trên cỏ có những con bọ trắng nhảy lưng tưng. Ban đầu ít thưa thớt. Thoắt cái, bọ ở đâu vụt ào tới, nhảy tưng bừng. Lát sau mới biết là mưa đá...” Chúng ta cần đọc cao giọng, đọc đi đọc lại cho nhập tâm câu văn chuyển hoá, biến nhịp điệu thành khúc nhạc thầm của nội tâm, nhiên hậu mới nghe thấy cơn đắm say tư lự của tác giả trong một thực tại sống thành ảo giác. V́ vậy đến cuối truyện, ngôn ngữ chỉ c̣n vọng lại những âm hao, mơ hồ, xa vắng, như một lời kinh "ái bất dị không, không bất dị ái... Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế”. Khúc nhạc thầm ngân lên, loang ra, loăng đi, lắng xuống, sâu dần, tắt ngấm. Im lặng bỗng trở thành h́nh sắc, nở ra, tràn đầy. Nghệ thuật là phút ái ân lơ lửng giữa đầy vơi, mộng thực. Ái tức thị không không tức thị ái. Cô áo đen không tuổi, không tên, dĩ nhiên là không quá khứ, không tương lai. Gặp nhau tại chốn vô danh, gọi tắt là pḥng A. Đặc biệt là vô chủng tộc:“Cô nàng không phải dân da trắng”. Chỉ có “da cô trắng như sáp, như ngà”, “vóc người hơi cao lớn hơn vóc trung b́nh của gái Việt Nam, nhưng hoàn toàn hợp với chàng”. Nàng chỉ xuất hiện trong giây phút mà tạo ra “cái t́nh tức tưởi (...) như trái tim vua Lê Chiêu Thống không chịu tan ră, cứ đỏ hoài dưới mộ. Kỳ cục” (tr.12-13). Tác phẩm văn nghệ bao giờ cũng dựa vào một bối cảnh, nhưng cốt lơi của văn nghệ là phi địa lư, phi lịch sử, phi xă hội, là khối u uẩn trầm tích trong người sáng tác. Truyện thứ hai tả một người bạn cũ, quen biết sơ giao tại Sài G̣n, 1986 gặp lại tại Mỹ. Cuộc sống già nua, lạc lơng, thừa thăi đưa con người đến chỗ hời hợt phù phiếm. Liệu văn chương có Làm một cái ǵ nổi chăng? Truyện mang nặng tâm t́nh tác giả hơn là kinh nghiệm. Truyện thứ ba, Bố khỉ, là mối tương quan giữa nhà văn và nhân vật ḿnh hư cấu nên, nhưng dần dà trở thành một ám ảnh hiện ra bằng xương bằng thịt. Trong một chừng mực nào đó, nhân vật tiểu thuyết thực hơn người thực chung quanh chúng ta. Truyện Em đây liên hệ người viết với đề tài: “khi th́ một tứ thơ, khi th́ một cốt truyện, khi th́ một ư kiến, một mẩu tư tưởng, một đề tài khảo luận... Chúng ở đâu nảy ra bất ngờ... Một khi đă xuất hiện, chúng nó cứ đeo lấy ông. “Em đây. Em đây”. Chúng nó bám riết lấy ông, léo nhéo quấy quả hăm mấy năm trời rồi”. Nhà văn Trà Sơn nhận thức được rằng những lao động cần mẫn gian nan, những tâm huyết của văn học rồi cũng phù du : “Để làm ǵ vậy? Vài ba chục năm sau c̣n có ai xem sách nữa không? Có c̣n cái gọi là văn chương nữa không?” (tr. 34). Nghe qua th́ thấy bi quan, mà có lẽ sự thật c̣n phũ phàng hơn. Nói ǵ đến “vài ba chục năm sau”, ngay từ bây giờ, c̣n mấy người đọc văn chương? họ đọc cái ǵ, đọc ra sao, đọc để làm ǵ? Cứ nh́n vào những “bạn đọc”, “văn hữu”, bằng hữu chung quanh, ngay từ bây giờ là đă ngán ngẫm. Viết là cắn răng mà viết, vậy thôi, đừng chờ đợi ǵ ở độc giả. Ông viết, mà người ta tha cho ông là may, là mừng khúm, là “ông viết hoài, viết hoài. Mái tóc ông.. . Biết đến bao giờ” (tr. 34). Viết hoài, là viết măi; là viết để hoài cố, viết để hoài công. Truyện Đêm đêm mô tả đời sống hàng ngày của nhà văn, tương quan với thực tế, bạn bè, nhà cửa vợ con, “hai đứa ngổn ngang hai kiểu khác nhau”(tr. 42); trong nhà có cái vô trật tự khơi cảm hứng sáng tạo, có cái trật tự làm con người lănh cảm, tê liệt, “lạc hướng”. Trong Tôi nhiều đứa, mỗi nhà văn có khả năng đa hoá nhân cách ḿnh, dự phóng thành nhiều kiểu sống khác nhau, có khi mâu thuẫn và đối nghịch. Nguyễn Du là Thuư Kiều, Từ Hải, mà cũng là Tú Bà, Sở Khanh, mà vẫn là không phải. Mỗi tác giả là những mảnh vụn của nhân loại; và chắp vá những mảnh vụn ấy làm thành tác phẩm. Truyện thứ bảy, Thằng bé nói về ảnh hưởng của tuổi thơ trong tác phẩm. Chúng ta đều biết thế giới Vơ Phiến rất ít trẻ con, v́ trong bản thân Vơ Phiến đă có một cậu bé không kịp lớn. Những đoạn văn hay của Vơ Phiến từ trước tới nay, thường là những hoài niệm: “Ờ, tiếng cu gáy... hồi nhỏ... ngày c̣n ở với ngoại... Tiếng cu gáy bao giờ cũng nhắc nhở, cũng gợi lại thời xưa, kỷ niệm cũ. Dù nó ở gần – ngay ở chỗ cuốí vườn đây thôi – nó vẫn u hoài, vẫn hướng về cái xa, về dĩ văng. Con chim cu, nó nên là con chim vô h́nh. Nó nên có tiếng mà không có h́nh. Nó không nên ở đâu mà ở mọi nơi, không ở thời nào mà ở mọi thời, vô định” (tr. 60). Chiến tranh, lịch sử và đời sống tân tiến đă bứt chúng ta ra khỏi tuổi thơ; ngay ở quê nhà đă vậy. Huống hồ là khi lênh đênh trôi giạt ở nước ngoài. Tuổi thơ là một chủ đề thường xuyên trong tác phẩm Vơ Phiến, và bây giờ, ông đau đớn ghi nhận: “Thành thật mà nói, từ lâu moa không nghĩ tới, không nhớ ǵ về tuổi thơ. Nhất là thơ mộng. Sau bao nhiêu biến đổi trong đời, moa (và cả toa, tất cả chúng ta) xa cách tuổi thơ hơn một kiếp luân hồi. Giữa chúng ta bây giờ với thời thơ ấu cơ hồ không có chút liên hệ ǵ (giữa kiếp này và kiếp trước c̣n có liên hệ nhân quả). Những hoa với mộng, nghe quái đản, không hiểu nổi nữa” (tr. 61). Con người lưu lạc ngay trên quê hương, trong nếp sống, nếp suy nghĩ; và ở hải ngoại, thảm kịch càng thê thiết hơn, nhất là ở nhà văn mà quá khứ là một phương tiện, chất liệu sáng tác. Ba truyện tiếp theo,Thực chất, Con chim, Bạn đời diễn tả thế giới riêng tư, thầm kín của nhà văn, từ những khát vọng nhỏ nhen đến những phân tích tinh tế: tác phẩm, trong chừng mực nào đó là phần nhân cách mà tác giả che giấu, né tránh, hay không muốn phô bày, hay, tự ḿnh không ư thức, nhưng không nhất thiết phải từ khước, dồn nén. Do đó, nói đến ẩn ức theo lối phân tâm học th́ thô thiển. Ba truyện này nhẹ nhàng, rộng thoáng và tư tưởng tác giả không đậm nét. Vơ Phiến dường như muốn dưỡng tâm người đọc và tránh cảm giác luận đề cho nên ở những điểm tâm lư mà ông sở trường phân tích, ông cũng chỉ chấm phá phơn phớt, dành chủ tâm cho hai truyện cuối.
Buổi sáng giữa đồng hoài niệm một
cuộc t́nh hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ở thôn quê, rạt rào xúc
cảm và thi vị, rồi bị cản trở. Tác giả muốn nói lên phần riêng tư
của nhà văn sâu lắng trong tác phẩm, Câu chuyện một khoảnh
khắc, đă nói ở trên. Truyện cuối, Ông Năm Chéo,
mang luận đề rơ rệt: giá trị đạo lư xă hội của tác phẩm. Ông Năm
Chéo tên thật là Chiểu đọc trại – Nguyễn Đ́nh Chiểu, là ông già mù
mà người kể chuyện thường gặp tại một quán nước Chợ Lớn. V́ tuổi tác
và mù loà, ông sống trung thành với đạo đức cổ: trai thời trung hiếu,
gái thời tiết hạnh, và cho rằng “đời xưa hơn đời bây giờ”.
Như ông Năm Chuột của Phan Khôi, ông Năm Chéo ném vào tâm địa con
người những phê phán sắc cạnh làm xốn xang người nghe. Từ đó tác giả
suy nghĩ về những giá trị đạo lư xoay chiều theo cuộc sống. “Đáng
tiếc, hồi đó tôi hậm hực với ông làm chi. Bây giờ tôi đang sống lạc
thời thế, lạc hoàn cảnh, sống hoàn toàn lạc lỏng. Trong Truyện thật ngắn lối mỉa mai như vậy dù cay đắng vẫn dịu dàng, không mấy khi cay độc, như là tác giả đă xa rời trần luỵ đang tự t́nh từ một thế giới khác. Tác phẩm dù rất ngắn cũng có tầm quan trọng đặc biệt: một mặt nó trẻ trung mới lạ – khả năng làm mới tài năng ḿnh ở các tác giả Việt Nam không nhiều lắm đâu, nhất là ở địa vị và hoàn cảnh Vơ Phiến. Mặt khác nó vẫn tổng hợp được những giá trị hằng hữu của tác giả về mặt tư tưởng lẫn nghệ thuật. Cuối cùng qua Truyện thật ngắn, Vơ Phiến đă có những đóng góp quư giá vào những suy nghĩ về văn học của Việt Nam, vốn nghèo nàn, nông cạn và đơn điệu. Người đọc có thể không cần chú ư đến những ư tưởng về thẩm mỹ này, đọc chỉ để mua vui, vẫn có thể thích thú khi đọc Truyện thật ngắn v́ lối hành văn linh động, khi thân mật, khi kiểu cách, lúc nào cũng tinh vi, như khi tả những tiếng guốc trong kư ức: “Guốc có tiếng guốc do dự, có tiếng guốc sấn sướt hăm hở, có tiếng guốc nghịch ngợm láu táu nhanh nhẩu, có tiếng guốc ngần ngại ḍ la, có cả những tiếng guốc của yêu đương: tiếng guốc đầy t́nh cảm dịu dàng... Tôi lắng tai bắt từ không gian những tín hiểu âm thanh tràn đầy xúc động”. Chúng ta cầu mong thật nhiều người, trong và ngoài nước bắt được những tín hiệu của Vơ Phiến qua Truyện thật ngắn.
Tác giả và Vơ Phiến 1986
|