Đặng Tiến
 

VƠ PHIẾN VỚI VĂN HỌC MIỀN NAM
 

 

          “ Sách, hễ thích th́ viết ” , Vơ Phiến đă mở đầu ngon lành như thế cho bộ sách Văn Học Miền Nam [1], bảy cuốn tổng cộng 3230 trang, vừa mới được phát hành trọn bộ, lúc nhà văn sắp sửa tṛn 75 tuổi. Cũng do nhà xuất bản Văn Nghệ chuyên in sách Vơ Phiến, đă từng in Toàn Tập Vơ Phiến 9 cuốn, chưa trọn bộ.

Cuốn đầu tiên là Tổng Quan in lần đầu năm 1987, tái bản năm 2000, có bổ sung, sửa chữa danh sách và tiểu sử của non bốn trăm tác giả. Sáu cuốn sau đă ra mắt từ cuối năm 1999 : ba cuốn dành cho bộ môn Truyện, một cho , một cho Kịch-Tuỳ Bút và một cho Thơ. Vơ Phiến lần lượt trích tuyển tác phẩm và giới thiệu 50 tác giả Truyện, 22 tác giả Kư, 14 người viết Kịch và Tuỳ bút, cuối cùng là 32 nhà Thơ. Có người được trích hai lần v́ đă sáng tác trong nhiều thể loại. Trong từng bộ môn, mỗi tác gia được trích tuyển một tác phẩm tiêu biểu, trừ thơ có khi được trích nhiều bài.

Văn Học Miền Nam gồm có những sáng tác văn nghệ được in ấn, xuất bản trong địa phận Việt Nam Cộng Hoà, từ 1954 đến 1975. Dụng tâm và dụng công của Vơ Phiến là khôi phục lại một nền “ văn học bất hạnh ” đă bị chính quyền mới chính thức bôi xoá bằng cách thiêu huỷ, cấm lưu hành tuyệt đại đa số tác phẩm, bắt bớ, giam cầm hay treo bút một số tác giả; chính quyền mới xem đó là “ văn hoá thực dân mới ” “ nô dịch ”, “ đồi truỵ ”, ... đối lập với nền “ văn học cách mạng ”, “ văn học giải phóng miền Nam ”, với những Phan Tứ, Trần Hiếu Minh ... Sự phân biệt ấy, ngày nay, có bớt hằn học, nhưng vẫn tồn tại. Vơ Phiến quyết liệt phản kháng t́nh trạng đó, mà anh xem như là một cưỡng chiếm văn học, một nguỵ tạo danh từ.

Một công tŕnh biên khảo Văn học, trên nền tảng chính trị như thế, lẽ ra phải được cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là ở Mỹ, đón tiếp nồng nhiệt. Nhưng dường như không phải như vậy ; dường như bộ Văn Học Miền Nam đă gây ở một đôi nơi, những phản ứng không thuận lợi trong “ dư luận ”, khiến tạp chí Văn Học2, thân cận với Vơ Phiến, đă tạo cuộc phỏng vấn để Vơ Phiến có cơ hội trả lời những “ dư luận ” thành văn hay bất thành văn. Sau khi bộc bạch suốt 18 trang báo, tác giả đă có lời tự nhủ :

Kiếp sau chớ khảo chớ b́nh
Làm cây dư luận ch́nh ́nh giữa thế gian
Tha hồ quậy dọc quơ ngang


Sao đến nỗi có t́nh trạng như vậy ? Theo báo Văn Học th́ “ dư luận ” “ công khai hay ở chỗ riêng tư ” bất b́nh về ba điểm:

1. Vơ Phiến không khách quan khi chọn tác gia, và số bài thơ được trích tuyển,
2. Anh không công bằng khi phê phán người nọ kẻ kia,
3. Câu văn bông đùa không thích hợp với lư luận, biên khảo.

Vơ Phiến sau khi giải bày hoàn cảnh biên tập khó khăn, đă trả lời bằng những luận điểm nghiêm túc. Nhưng nghiêm túc là để đối chất, tranh luận không nhất thiết phải phơi bày đúng tâm sự của người biên khảo. Văn chương không phải là chuyện hơn thua, nó khác với vơ thuật.

Mục đích bài này là giới thiệu, thông tin, không đi vào chi tiết để phê phán : nếu có trao đổi ư kiến th́ cũng chỉ dừng lại ở đôi nét đại cương.

*

Người đời thường sắp xếp sách vở theo thể lọai, mỗi thể loại có cung cách riêng. Bộ Văn Học Miền Nam không theo một thể loại nào, tác giả nói rơ ngay từ đầu :

Trước hết ḿnh không phải là một nhà phê b́nh, nhà biên khảo ǵ ráo mà lại tự dưng xông ra làm công việc biên khảo phê b́nh là chuyên không nên ” (tr.17) . “ Nhưng khi xong việc, không khỏi ngẩn ngơ tự hỏi : cái đă viết ra đó là cái ǵ vậy ? ... Rơ ràng nó không xứng đáng là lịch sử, là phê b́nh ǵ cả (... ) chẳng qua chỉ có những nhận xét rất khái lược liên quan đến nền văn học và các văn gia một thời mà thôi. Thôi th́ của ít ḷng nhiều vậy ”. (tr. 31)

Khổ nỗi : ḷng ḿnh, người đời mấy ai đă thấy. Thấy rồi, mấy ai đă nhận. Người nhận có khi chỉ v́ ngộ nhận, có khi v́ cơn trái gió trở trời. Chỉ cần nói : “ Sách, hễ thích th́ viết ” như lời khai từ, mà không cần câu nệ vào một h́nh thức, một thể loại. Có thể loại tạo ra tác giả, có tác giả làm nên thể loại. Vơ Phiến là tác gia đă sử dụng tinh tường hầu hết các thể loại, nay tuổi cao sức yếu, anh viết ra cái ǵ, cái ấy tự nó là thể loại.

Tuy nhiên, anh cũng đă sáng suốt và từ tốn ghi nhận : “ Không phải chuyên gia khảo luận, bất quá ḿnh chỉ có lấy cái kinh nghiệm của một người sáng tác mà bày tỏ dăm ba cảm tưởng về việc sáng tác và người sáng tác ” (tr. 506). Như vậy đă là nhiều quá, quư quá, chứ sao lại “ bất quá ” ? Lời chê trách chung là : Vơ Phiến chủ quan. Thông cảm dễ thôi : đă viết văn th́ khó khách quan ; đă là Vơ Phiến th́ lại càng không thể khách quan. Muốn loài người khách quan, ông trời sẽ không sinh ra Vơ Phiến.

*

Trong thể tuỳ bút, Vơ Phiến dành cho Vũ Bằng một chương rất hay. Có lẽ về Vũ Bằng, chưa ai đọc kỹ và viết hay bằng Vơ Phiến. Được như vậy là nhờ chủ quan : viết về Vũ Bằng, vô h́nh trung, t́nh cờ và cao hứng, Vơ Phiến đă gián tiếp nói về ḿnh. Một nhân vật kịch của Ionesco đă đùa : b́nh giảng Shakespeare không ai sành bằng Shakespeare. Về tác phẩm Vũ Bằng, từ t́nh cảm, tư tưởng đến lời ăn tiếng nói, Vơ Phiến viết như tự bạch. Phải chăng v́ các nhà phê b́nh chuyên nghiệp xưa nay viết về anh chưa thoả đáng, chưa sâu sắc, nay anh phải “ tự truyện ” . Ví dụ về lối viết Văn Học Miền Nam, mà có người chê là “ tạp văn ”, chúng ta có thể áp dụng lời nhận xét của Vơ Phiến về Vũ Bằng :

Vũ Bằng có văn phong riêng. Lời văn có khi khinh bạc mỉa mai, có khi bóng bảy kiêu kỳ, có khi lại giản dị, thân mật ; có chỗ ông thậm xưng, ngoa ngữ ; có chỗ ông vắn tắt, cụt lủn. Ông đùa nghịch đấy, ông thê thiết ngay đấy. Ông hư đấy, ông thực đấy. Có lúc ông bảo người này dại th́ không phải thực ông muốn chê dại. Hoặc có khi ông nổi lên khen món ngon nọ cả thế giới không b́ được, th́ trong bụng ông không hề thực sự có cái ư suy tôn cao đến thế (...). Những ai muốn có một bảng xếp hạng nghiêm chỉnh sẽ cuống cả tay, không biết đường nào mà ṃ, mà so sánh (...). Tội nghiệp, ông là nạn nhân của chính ngay cái duyên dáng tài hoa của ông. Lại đáng thương nữa ” (tr. 2408).

Những nhận định trên đây có thể dùng lại nguyên con cho bộ Văn Học Miền Nam của Vơ Phiến. Duy mấy chữ “ tội nghiệp, đáng thương ” ở Vơ Phiến là ngoa ngữ, có khi cần hiểu ngược ; ở tôi, chữ thực, t́nh thực. Tội nghiệp Vơ Phiến quá, nhất là khi viết những ḍng này, tôi nhận được báo Khởi Hành số mới, tưởng niệm Vũ Khắc Khoan, nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm, đă lên án bài viết của Vơ Phiến về Vũ Khắc Khoan (mất năm 1986) là : “ lấy đề tài, cho sự dỡn bút, tựa như một anh bản chất quê kệch lại thích kể chuyện văn hoa, và tựa như thứ chuyện tṛ che miệng thủ thỉ phía sau một đám tang ”[3]. Thật ra, bài của Vơ Phiến về Vũ Khắc Khoan viết đúng, hay và chí t́nh, hiềm vị bạn hiền (tôi nhấn mạnh ở chữ bạn hiền) Viên Linh hiểu ngược.

Cẩn thận và u hoài, tôi đọc lại Vũ Khắc Khoan và đă gặp câu này anh Khoan viết về t́nh bạn với Lê Quang Luật “Y có thể đùa đùa giễu cợt. Mà t́nh th́ thật sự chân t́nh”[4]. Câu này lại có thể áp dụng vào nhiều trang trong Văn Học Miền Nam.

Những đoạn Viên Linh trích dẫn để chứng minh rằng Vơ Phiến chê bai, mai mỉa Vũ Khắc Khoan, những câu ấy, đều có ư ngược lại, là ca ngợi Vũ Khắc Khoan. Ví dụ câu “ Viết truyện mà viết như ông đời nay không viết thế ” (tr. 2757) là câu khen “ v́ ông viết kỹ ”. Câu sau “ văn ông như dịch từ truyện Tàu thuở nào ” cũng là lời ngợi ca tế nhị, riêng cho một cố nhân, thoắt một cái đă là người một “ thuở nào ”. Bằng cớ là trong cuốn dành cho thể loại Thơ, Vơ Phiến lại có một chương cho Vũ Khắc Khoan và nói rơ “ Trong sách, ông viết cầu kỳ điêu luyện hơn hẳn thiên hạ. Cầu kỳ hơn nữa, ông đùa ông giỡn với chữ, ông bày ra những tṛ lộng ngôn lộng ngữ, người đời hiếm kẻ theo kịp ” (tr. 3219). Ít ai biết Vũ Khắc Khoan làm thơ, nhưng Vơ Phiến trích những hai bài, với nhận xét “ Vũ Khắc Khoan không là thi sĩ bao giờ cả . Nhưng ông làm thơ th́ hay ” (tr. 3220). Vậy là khen nhau qua mức rồi, c̣n ǵ nữa (nhưng sẽ mang ân oán giang hồ với những ai là thi sĩ mà làm thơ ... không hay !).

(Nhà văn Vũ Khắc Khoan với chúng tôi là chỗ cố tri, Vơ Phiến biết điều đó, nên trong bài viết ngắn đă trích dẫn tôi đến 3 lần, và xếp tôi vào hạng “ bạn vong niên thân cận ”. V́ vậy tôi mạn phép có ư kiến về sự “ ngộ nhận ” này. Ngoài ra, cũng muốn thông tin về một hiện t́nh, nhỏ thôi, trong báo giới Bắc Mỹ hiện nay. Tuy nhiên bài Vơ Phiến cũng có chỗ cần được bàn luận. Tôi sẽ làm ở một dịp khác.)

Ngộ Nhận là tên một kịch bản của Vũ Khắc Khoan, mang âm hưởng một nhan đề của Albert Camus, Le Malentendu. Văn Học Miền Nam là một “ ngộ nhận ” từ tên sách. Ngày xưa, các sách cùng loại như thế được gọi là trích yếu, trích diễm, sử yếu, sử lược, ǵ đấy. Gần đây c̣n những chữ sơ thảo, lược thảo, khởi thảo... Tựa đề Văn học Miền Nam ôm đồm, đúng với t́nh cảm của tác giả muốn khôi phục cả một thực tại văn học, mà không đáp ứng lại những đ̣i hỏi phức tạp của độc giả.

Trên mặt lư thuyết người đọc mong đợi một bộ biên khảo từ chương, hàn lâm về một thời đại văn học ; về t́nh : họ đi t́m những kỷ niệm với tác giả nọ, bài thơ kia. Họ đi t́m ánh lửa mà thời cuộc và thời gian chưa dập tắt trong tâm thức. Đọc Vơ Phiến, có người toại ư th́ thế nào cũng có người hụt hẫng. Những kẻ chung t́nh ít khi được măn nguyện. Nói văn học, là văn học nào ? Nói Miền Nam, là Miền Nam nào ? Miền Nam của Vơ Phiến chưa chắc đă là miền Nam của Mai Thảo, nói chi đến độc giả chung chung. Những Đêm Màu Hồng chưa chắc đă thoả măn kẻ đi t́m những Chân Trời Tím. Giá dụ Vơ Phiến, thực tế hơn thêm vào chữ “ nhận định ”, “ quan điểm ” ǵ đấy th́ đỡ búa ŕu thiên lôi thiên tướng. Cái tựa đề gần với công tŕnh Vơ Phiến nhất là của ... Paul Claudel : Positions et Propositions (1928), tạm dịch là “ luận nghị và đề nghị ”.

Người đọc đ̣i hỏi một lối viết giáo khoa hơn, đă đành là câu nệ h́nh thức. C̣n lư do tâm cảm : lối viết kinh điển sẽ trung lập hơn ; tác giả cần lánh mặt để độc giả thẩn thơ đi t́m cảnh cũ, người xưa. Độc giả Văn Học Miền Nam như chàng Kim khi trở về vườn Thuư, không gặp cả cô chị lẫn cô em, tạt sang hàng xóm t́m cô Nhă Ca cái thời “ Tay nhỏ che trời rét ” th́ gặp phải ông cụ giữ vườn cà kê kể chuyện ở Nữu Ước , nhà thờ Riverside có 72 cái chuông lớn nhỏ đủ cỡ, như là angelus, knell, carillon, ...v. v. (tr.2998) th́ không bực sao được ? Nước Mỹ có bao nhiêu thứ chuông th́ ăn nhằm ǵ đến Văn Học Miền Nam ?

Ngày xưa sách Thi Nhân Việt Nam ăn khách v́ Hoài Thanh giỏi marketing, khéo “ nhỏ to ” nói thay Xuân Diệu, nói giúp Lưu Trọng Lư, nói giùm độc giả về Tống Biệt Hành, thỉnh thoảng lắm mới lạm bàn về Màu Thời Gian, mà cũng chỉ vắn tắt. Ngày nay ông Ba Thê Đồng Thời cà rịch cà tang giảng giải Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, ông đếm được 80 trang mỗi trang 300 chữ, và đánh giá rằng “ Thanh Tâm Tuyền rất thông minh, năm 16 tuổi đă dạy học ” (tr. 1405) th́ bảo người đọc không sốt ruột sao được ?

Chưa nói đến vấn đề gai góc, là thừa với thiếu : thiếu danh gia nọ đại gia kia. Thiếu Cung Trầm Tưởng, không sao. Tôi có dịp hỏi tác giả Lên xe tiễn Em đi, khi sách mới in ra, anh đáp ngay thẳng, hồn nhiên là không quan tâm, v́ điều ấy không quan trọng. Nhưng thiếu Du Tử Lê là rầy rà : anh ấy đă từng được giải thưởng văn chương Toàn Quốc về Thơ năm 1973, có tên trong nhiều tuyển tập quốc tế. Hỏi đương sự cũng trả lời không quan tâm, nhưng giới ái mộ Du Tử Lê, nghe nói đông đúc lắm, th́ bất b́nh. Tuyển tập các bài ái mộ Du Tử Lê đă phát hành đến cuốn thứ tư[5] dày hơn 400 trang. Vơ Phiến không một ḍng, không xung thiên sao được ? Tuy nhiên những thiếu sót lớn lao như thế, nh́n dưới một khía cạnh nào đó, lại nói lên cá tính của Vơ Phiến và đặc tính của tác phẩm.

Nhưng bên ngoài những phản ứng riêng lẻ nhất thời ấy, bộ Văn Học Miền Nam là một trước tác công phu và tâm huyết, một nguồn tư liệu thiết yếu, xuất hiện hợp t́nh hợp cảnh. Những văn thơ trích tuyển, nói chung, là những tác phẩm đánh dấu một thời đại : một thời của văn học hay một thời của Vơ Phiến. Riêng cuốn I Tổng Quan là một biên khảo về xă hội học văn học miền Nam, linh động, phong phú, cụ thể và xác đáng. Trong văn học Việt Nam xưa nay không nhiều công tŕnh như thế ; kư ức tôi chỉ ghi nhớ một cuốn là Văn Thơ Cách Mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX6 của Đặng Thai Mai, cũng về khoảng 20 năm văn học. Hai tác giả ở hai chân trời khác nhau và theo hai lập trường chính trị đối nghịch, nhưng cùng một quan niệm biên khảo và cùng một giọng kể chuyện cà kê dê ngỗng.

Cụ Mai, sinh thời danh cao chức trọng, mà cũng bị hậu sinh chê là “ phiếm luận salon ”, chữ ấy, thời ấy, ở Hà Nội, nặng lắm ! Bây giờ, mới đây, ai đó có chê Vơ Phiến “ chỉ là tác giả tạp văn ” th́ biết đâu, vô h́nh trung, đă tôn anh ngang hàng với ... với Lỗ Tấn.

Nhưng thôi, ta hồ văn chương chi sự ...

Một công tŕnh biên khảo bề thế như Văn Học Miền Nam, từ một tác giả nghiêm minh, suốt đời tận tuỵ cho văn học như Vơ Phiến, đ̣i hỏi những phân tích và thảo luận kỹ càng hơn. Chúng tôi có thể làm việc này nếu bạn đọc Diễn Đàn có yêu cầu.

Đặng Tiến
Orléans, Trung Thu 2000


Tái bút : Viết thêm cho bạn đọc Diễn Đàn số 100. Đọc Vơ Phiến, có lúc bị tạp âm làm phân trí, phải bỏ cuộc, tôi đọc sang Truyện Tàu : đọc Chiến Quốc Sách, bản dịch, lời bàn của Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi. Hai cụ cho rằng những nhân vật Chiến Quốc, thời đó, không biết tổ quốc là ǵ, nhưng sẵn sàng hiến thân cho tri kỷ, như những Kinh Kha, Dự Nhượng. Lại chạnh nhớ những người bạn vong niên, người đă khuất bóng nơi Tần Lĩnh, người lận đận chốn Giang Nam, là hai ngài Vũ Khắc Khoan và Vơ Phiến. Các vị ấy cũng là những con người Chiến Quốc gặp buổi Xuân Thu : Họ ghét Cộng Sản không bằng ghét tiểu nhân. Họ yêu chủ thuyết không bằng yêu tri kỷ.

(Vớ vẩn ngoài đề)
_______


Chú thích

[1] Văn Học Miền Nam, trọn bộ 7 cuốn. Nxb Văn Nghệ, California. Cuốn I : Tổng Quan, tái bản năm 2000. 6 cuốn trước in năm 1999, khổ 13x21 cm, mỗi cuốn 18 Mỹ kim. Từ 1991 đến 1995 đă có xuất bản rời rạc, khổ nhỏ 11x17 cm

[2] Văn Học, tạp chí hàng tháng, California, số 169, tháng 5/2000, tr. 3-20.

[3] Khởi Hành, tạp chí hàng tháng, California, số 47, tháng 9/2000, tr. 20, cột 1

[4] Vũ Khắc Khoan, Đoản văn Xa Nước, Nxb An Tiêm, Paris, 1995, tr. 11

[5] Du Tử Lê, Tác phẩm và Tác giả, HT Productions 2000, USA, 2000

[6] Đặng Thai Mai, Văn Thơ Cách Mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, nxb Văn hoá, 1960, Văn Học 1964 và 1974, Hà Nội, 200 trang hàn huyên, và 200 trang trích tuyển.

 

Nguồn : Diễn Đàn số 100
 

Vơ Phiến và tác giả, sông Loiret 1986

 

Trang Đặng Tiến

Art2all.net