Khi đề cập đến kinh nghiệm đau thương của Hàn Mặc Tử tôi tiếc chưa được
đọc bài của Vơ Long Tê, một chuyên gia về văn chương Thiên Chúa giáo về
vấn đề này; nghe nói bài sắp sửa đăng báo, tôi đợi hoài chưa thấy. Tôi
cần nói thêm: Không riêng ǵ Phúc Âm, những tín ngưỡng khác của
người Á Đông cũng t́m một giải đáp cho đau thương; Phật giáo th́ cho đó
là những đợt sóng triền miên của Mê hà hay Khổ hải; Lăo giáo th́ cho đó
là định luật của Vô Tri. Cái can trường của nhà thơ là do đức tin vững
chắc ở Đấng Cứu Thế, và đức tin đó đă được bồi dưỡng trong cái Dũng của
triết lư Đông phương lẫn cái kiên tŕ trong ḷng dân tộc. Nói đến xác
tín của Hàn Mặc Tử không phải tôi không biết (hay tệ hơn nữa, tôi không
nhớ) đến những giá trị bằng hữu kia. Khi suy nghĩ về khổ lụy của nhân
sinh, tôi đọc lại kinh Coran của Hồi giáo th́ có cảm giác như là họ
không chấp nhận Khổ đau như người Ki-tô giáo hay người Á Đông, v́ họ cho
là do sự hành hạ của Thượng Đế. Vậy trong Hàn Mặc Tử có sự giao hoà giữa
một đức tin sung măn và một tâm hồn niềm nở, tạo ra một nguồn thơ hết
sức sâu xa.
Trong tinh thần Phúc Âm, Hàn Mặc Tử đă sống trọn vẹn Đau Thương
của hiện thế, trước hết v́ đó là phương tiện Chúa đă dùng để Cứu Thế,
thứ đến để chuẩn bị cho vinh hiển mai sau, như lời giảng trên núi, sửa
soạn cho Ngày sống lại với Đấng hằng Sống, hằng Ngự Trị. Nhưng trên b́nh
diện sáng tạo, quan niệm Đau Thương đó đă thể hiện ra sao? Tôi
tiếc là không được đọc bài báo của Lê Tuyên về những chủ đề trong thơ
Hàn Mặc Tử, đăng trên tạp chí Đại học Sư phạm cách đây bảy tám
năm ǵ đó. Nay tôi lại đề cập vài h́nh tượng quen thuộc trong thơ Hàn
Mặc Tử như Trăng, Máu, và Hồn.
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!
Đó là điệp khúc độc điệu của một ngư phủ, theo lời kể của Quách Tấn. Đó
cũng là khúc nhạc ḷng của nhà thơ. Trăng là một thứ ánh sáng vừa của
nội tâm, vừa của ngoại giới. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới tương quan
giữa những h́nh ảnh thi ca và đức tin.
Ảnh hưởng của đêm trăng đối với bệnh phong đă được ông Trần Thanh Mại
triển khai đầy đủ. C̣n nét quyến rũ muôn đời của ánh trăng đối với thi
nhân th́ viết bao nhiêu pho sách cũng c̣n điều chưa nói. Nhưng không thể
nói thơ Hàn Mặc Tử mà không đề cập tới trăng, v́ theo Trần Thanh Mại th́
hai phần ba của tập Đau Thương nói về trăng, nửa phần c̣n lại nói
về hồn. [1]
Trăng, trước hết là ánh sáng tràn ngập cả vũ trụ Hàn Mặc Tử
Gió ùa ánh sáng vô trong băi
Trăng ngậm đầy sông chảy láng lai (tr. 54)
Trăng là thứ ánh sáng êm dịu, mầu nhiệm phủ ban đêm, đối với ánh
sáng chói chan bỏng rát của mặt trời nhiệt đới; Trăng tạo thi vị cho
bóng tối tại những vùng nông nghiệp có sinh hoạt về đêm, và như Xuân
Diệu kể, th́ có “trăng của t́nh duyên, trăng của xa xôi, trăng của hăo
huyền” và trăng của “những đền đài mỏng thoáng”. Văn học của chúng ta từ
xưa đến nay, vẫn le lói những ánh trăng bất tận. Tôi không dài ḍng về
địa hạt rộng rinh không bến này, chỉ muốn đề cập đến khía cạnh
tượng trưng của ánh trăng trong giáo lư.
Trăng trước hết là Ánh Sáng, một chủ đề rọi suốt mặc khải Kinh Thánh, từ
ngày thứ nhất của sáng thế, khi đức Chúa Trời phân định ánh sáng và bóng
tối, (“Gen” I, 3-4), cho đến chương cuối cùng của “Khải Huyền”, khi con
người, trong trời đất mới, hưởng được một ánh sáng miên viễn (“Ap.”
XXII, 5). Như vậy thế giới di chuyển từ một vùng ánh sáng tương đối, ánh
sáng vật chất đối với bóng tối ban đêm, đến một ánh sáng tuyệt đối, ánh
sáng vĩnh cửu ngay trong châu thân Thiên Chúa, v́ “Ngài là Sự Sống mà Sự
Sống là Ánh Sáng” (“Jean” I, 4). Và quá tŕnh từ tương đối nọ đến tuyệt
đối kia là sự phấn đấu không ngừng giữa ánh sáng và bóng tối, tựa hồ như
một cuộc phấn đấu giữa nguồn sống và cơi chết. Ở Hàn Mặc Tử, ánh trăng
là một thứ Ánh Sáng đang tương tranh cùng Bóng Tối, trong một tư thế bi
thảm, khác với mặt trời là chiến thắng – dù là tạm thời - của Ánh Sáng
Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô (tr. 30)
Mâu thuẫn tâm cảm của nhà thơ là vừa yêu bóng đêm - vũ trụ Hàn Mặc Tử là
một vũ trụ về đêm - vừa yêu ánh sáng, và vươn tới một nguồn chói lọi
Ta ước ao đội mũ triều thiên
Và tắm gội trong nguồn ánh sáng (tr. 59)
Sự thật mâu thuẫn đó nằm trong những h́nh ảnh đa nghĩa của Kinh Thánh,
v́ bóng tối cũng là một sáng tạo của đức Chúa Trời. (“Gen” I, 1-2) Từ
điển Giáo lư Kinh Thánh khai triển điểm tế nhị đó như sau: “Bóng tối
tượng trưng cho một kinh nghiệm kép: hoặc nó xác nhận không có ánh sáng,
hoặc bao hàm sự hiện hữu của ánh sáng. Con người muốn có ánh sáng tràn
đầy nhưng t́m đến bóng tối; Chúa là ánh sáng, là lửa bỏng, mà cũng là
bóng mát. Kinh Thánh lư theo sự đa nghĩa đó”
[2] . Chúng tôi muốn đề nghị
một ư nghĩa mới cho ánh trăng. Ở Hàn Mặc Tử trăng là một sự tương tranh
đồng thời tương ứng giữa ánh sáng và bóng tối, vừa tương khắc vừa tương
sinh. Trăng là Bóng Tối hết là Bóng Tối và Ánh Sáng chưa đủ là Ánh Sáng.
Trong biện chứng Sáng - Tối đó, tâm hồn Hàn Mặc Tử vẫn được xác định
bằng Ánh Sáng, tức là “con của Ánh Sáng” khác với con của bóng tối hay
“con của Hiện Thế” (“Luc”, XVI, 8). Vậy nhà thơ là Ánh Trăng, v́ chàng
là con của Ánh Sáng
Không gian đầy đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng (tr. 30)
V́, bên dưới b́nh diện siêu h́nh, về mặt đạo đức, vẫn phải có sự phân
biệt giữa bóng tối và ánh sáng (“II Co VI”, 14) giữa ánh sáng chân chính
và giả trá (“II Co XI”, 14)
Và t́nh ta sáng láng như trăng thanh. (tr. 55)
Thỉnh thoảng Hàn Mặc Tử không ngại mượn một vài h́nh ảnh của Kinh
Thánh để tả trăng, như
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
G̣ má riêng thôi lại đỏ hường
(Trần Thanh Mại, tr. 55)
Chúng ta liên tưởng ngay đến một câu của “Thi Thiên” (104, 2) “Chúa bao
phủ ḿnh bằng ánh sáng như cái áo”.
Trăng trong Hàn Mặc Tử không những là một thứ ánh sáng ảo huyền và hiu
hắt. Nó có h́nh có trạng, như một vật cụ thể khả xúc. Có khi là một món
hàng – ai mua trăng ta bán trăng cho – có khi là châu báu, là hơi
nước chảy, hay là một người đàn bà, mà tôi mường tượng phải đẹp lắm
trong nhan sắc làm bằng Ánh Sáng và Im Lặng
Tôi lần cho Trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời
(Trần Thanh Mại, tr. 64)
Và nói chung, trăng là hồn, là máu của bóng đêm: tôi có nói đến ba chủ
đề, kỳ thật chỉ là ba tiết diện của một thế giới:
Gió rít tầng cao trăng ngă ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
(Trần Thanh Mại, tr. 63)
H́nh ảnh máu hoặc nhỏ từng giọt, hoặc ọc từng búng, hoặc
đọng thành vũng, hoặc chảy thành sông, có lẽ là dấu hiệu
của bệnh lư. Ư nghĩa của máu là cuộc sống v́ máu mang sinh lực đến cho
mỗi tế bào, mà đồng thời cũng là cơi chết, khi đă khô, đă đọng thành
vũng máu đào trong ác lặn. (27) Về h́nh ảnh máu vẫn thường gặp trong
thơ Baudelaire, Jean-Piere Richard viết: “Sự xuất huyết thiêng liêng ở
chỗ nó hội tụ cuộc sống hiển nhiên và cái chết tàn nhẫn.”
[3] Máu là cuộc sống đang
chết, hay là cái chết tiềm ẩn trong cuộc sống. Máu là hồn của thể xác mà
cũng là xác của linh hồn, nói khác đi máu là thơ:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính năo cân ta
Bao nét chữ quay cuồng trong máu vọt
Cho mê man chết điếng cả làn da
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả ḷng ai trong mớ chữ rung rinh
(Trần Thanh Mại, tr. 58)
Máu, cũng như thế, vừa là một hành hạ, vừa là một giải thoát. Chúng ta
vẫn thường gặp những h́nh ảnh máu trong Kinh Thánh: máu là nguyên
lư sự sống, nhưng khác với linh hồn ở chỗ máu là thành phần hư nát của
cơ thể, c̣n linh hồn vẫn tồn tại đợi ngày Phục Sinh
[4] . Từ máu Cứu Thế trên
Thánh Giá đến máu chiên con, h́nh ảnh của đau đớn, của hư nát lại là
h́nh ảnh của Hy Vọng; máu của chúng sinh tuy không vào được nước đức
Chúa Trời (I, XV, 50) vẫn là một môi giới, một phương tiện, một ánh
sáng, một thẩm mĩ:
Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang (tr. 38)
Trong bài “Biển hồn ta” (tr. 52) bắt đầu bằng câu Máu tim ta tuôn ra
làm biển cả…, người đọc có cảm giác như máu và hồn là một, hay máu
là hồn của xác thịt c̣n thể phách là hồn của toàn cơ thể, v́ chính nhà
thơ cũng phân biệt hồn ngoài và hồn trong:
Hồn hăy thoát ly ra ngoài tâm tưởng
Là hồn đừng nghĩ ngợi đến hồn trong
Cứ để mặc hồn ngoài bay lưởng vưởng
Ngao du cùng khắp cơi trí mênh mông
… Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan ră
Bốc thành âm khí loăng nguyệt cầu xa…
Đă là hồn rồi mà c̣n có tử thi nữa sao? Lại c̣n ngắm được tử thi của
ḿnh nữa sao? Ở đây, ngoài sự phân biệt “hồn” và xác cố hữu trong tiềm
thức người Việt nam, ta c̣n phải ghi nhận thêm ảnh hưởng phong thổ vùng
từ Qui-nhơn đến Phan-thiết nơi Hàn Mặc Tử sống, vùng đất của người Chàm.
Nhà thơ thế nào cũng nghe chuyện ma Hời đêm đêm ĺa khỏi xác đi chơi hay
ăn đêm, và đă nhớ đến những chuyện đó trong cơn mê sảng bệnh hoạn. Nhưng
trong Thánh Kinh, nhất là Cựu Ước, chúng ta c̣n bắt gặp
dấu tích sự phân biệt đó, bắt nguồn từ tư tưởng Do-thái giáo, Thân thể,
tiếng hébreu (do thái) gọi là basar, dịch ra la-tinh là caro, thành
tiếng Pháp là chair. Xác thịt, nếu không có sinh khí, chỉ là một “tử
thi”. Hơi thở của Jahweh đă hà sinh khí vào xác thịt, nhưng chỉ tạo nên
một quân b́nh mong manh: “thần khí của ta sẽ không lưu lại măi trong
loài người, v́ loài người chỉ là thân xác” (“Gen VI”, 3); vậy trong tư
tưởng Do-thái giáo, chẳng những hồn và xác khác biệt nhau, mà hồn là
thần khí mà Đức Chúa Trời kư thác vào thân xác con người đó thôi, chứ
không hẳn của con người. Do đó, trước khi chết, Chúa Jésus đă nói “Thưa
Cha, trong tay Cha con trả lại linh hồn”, (“Luc XXIII”, 46) và Huy Cận
đă nhắc lại trong câu Lạy Thượng Đế tôi cúi đầu trả lại, Linh hồn
tôi… Linh hồn đó, là cái thần khí của Jahweh nay trở về với Jahweh,
chứ không phải là cái hồn ĺa khỏi xác của Hàn Mặc Tử. Hồn này
lại là một chuyện khác, một biểu hiệu của sự sống; hồn này có thể chết,
có thể hư nát như thịt xương (“Ps”, 78, 50) lang thang xuống âm ty sống
đời khổ ải, cho đến ngày Thượng Đế cho lịnh hồi sinh những đống xương
tản mác [5] . Trong những lời
truyền dạy của Thánh Tự, Hàn Mặc Tử đă nhớ những chi tiết phù hợp với
tâm hồn hay bệnh trạng ḿnh nhất, nghĩa là sự phân biệt giữa hồn và xác,
trong khi giáo lư Thiên Chúa về vấn đề này, phức tạp hơn nhiều.
V́ nhà thơ, trong cơn hành hạ của bệnh lư dĩ nhiên là t́m cách giải
thoát, dù chỉ bằng mê sảng
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau v́ rùng rợn đến vô biên
Tôi d́m hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập dần lên tới ngực (tr. 53)
Ở đây, ta bắt gặp h́nh tượng Trăng, Hồn và Máu dồn dập lại trong tương
quan chặt chẽ: nhà thơ khạc hồn ra khỏi miệng, hay điên cuồng
mửa máu ra, hay ngậm cả miệng ta trăng là trăng, cả ba h́nh
ảnh đều oà vỡ từ thân xác, và từ thân xác Đau Thương. Hàn Mặc Tử
đă dùng thơ để sống trọn vẹn tín lư của ḿnh. Chàng đă thấy hồn ḿnh
trong máu vọt, và hồn ḿnh chính là máu đang tuôn trào lênh láng; chàng
đă ghi lại những cảm giác rùng rợn đó, bằng những h́nh ảnh ta đă gặp
trong Cựu Ước: hồn trong máu (“Lv XVII”, 10) hồn là máu (“Lv
XVII”, 14), một thứ máu luôn luôn vươn đến ánh sáng, như h́nh ảnh đức
Chúa Trời chói chan trong tấm áo dệt bằng ánh sáng trong “Thi Thiên”
(104, 2) và đẫm máu chiên con trong “Khải Huyền” (XIX, 13). Máu chiên
con trở thành Ánh Sáng, và chiên con là ngọn đèn bất diệt của Jérusalem
mới. Do đó, tôi nói Hồn, Máu và Trăng chỉ là ba màu sắc chiết quang của
một Ánh Sáng Duy Nhất. Người đi trong Mơ Ước. Trong mơ ước, Hàn
Mặc Tử đă gọi Ánh Sáng Khải Huyền đó là Xuân Như Ư.
Cho mau lên! dồn ánh nguyệt vào đây…
Đưa ra, nào là nhạc thơm, hương gấm, mộng ngọc và hoa trinh bạch, đàn
ly tao, tranh tuyệt phẩm…
Vẫn là chưa bưa, chưa đă, chưa nguôi được chí muôn sao!...
Phải mời cho được XUÂN THIÊN ra đời (tr. 65)
Như vậy Xuân Thiên ở đây phải là một mùa xuân khác. Không c̣n là
mùa xuân phảng phất ngày xưa trong làn nắng ửng khói mơ tan. Tuy
là trời hạo nhiên trong thế giới đợi chờ của Gái Quê cũng
là một công tŕnh châu báu, do phép tắc màu nhiệm của đấng Vô thỉ Vô
chung, nhưng là một thế giới hư nát, sẽ vỡ lở, sẽ chấm dứt. V́
công tŕnh châu báu của Thượng Đế, sau khi con người tự dấn thân vào
tội ác, cũng đồng thời là một sự phẫn nộ của Thượng Đế; mặt đất, nguyên
là Quê Hương của loài người đă trở thành một Lưu Đày, không c̣n là vườn
Địa Đàng long lanh nhũ hương và bích ngọc, cũng không phải là Đất Hứa
óng ánh sữa thơm và mật ngọt; trên mặt đất, lúa tốt c̣n mọc lẫn với cỏ
hoang, trái lành ửng chín trong gai bụi, và lương thực loài người c̣n
trộn lẫn cát bụi với mồ hôi; Và con người không những thịt da sượng
sần và tê điếng mà c̣n nứt nẻ như muốn tan ră ra cùng vũ trụ, làm
cho mê lẫn máu và hồn ta là ta hay không phải ta. Thế giới hiện
tại, tuy vẫn có thanh sắc, nhũ hương, vẫn mang sẵn mục nát trong
mầm sống. Và mầm sống đó, có sung măn đến đâu, th́ nhà thơ vẫn ḷng
thương chưa đă mến chưa bưa, nên phải mời cho được Xuân Thiên.
Chúng ta chưa quên được Người đang say sưa đi trong Mơ Ước đă gặp
ở trang đầu. Vậy Xuân Thiên đây là niềm mơ ước ở sự tồn sinh sau cơi
chết, sẽ được phục hồi trong cảnh trời mới đất mới, rạng ngời trong
danh Cha cả sáng. Những thi phẩm cuối cùng của Hàn Mặc Tử như
Xuân Như Ư gom góp xong đầu năm 1939, Thượng Thanh Khí đầu
năm 1940, gồm hai vở kịch thơ Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội
viết dở dang, đều nói lên niềm Mơ Ước đó. Trong bài này, tôi tạm xếp ba
tác phẩm trên cùng những bài cuối tập Đau Thương vào chủ đề Xuân
Như Ư, cho gọn, và như một giai đoạn trong thi tŕnh Hàn Mặc Tử.
Mùa Xuân Thượng Thanh, đó ra sao? Về chủ đề mơ ước trong Thánh Kinh,
một chuyên gia về giáo lư Thiên Chúa nhận xét: “Cuộc sống vĩnh viễn được
xác nhận rơ rệt bao nhiêu, th́ những đường nét của nó lại mờ nhạt bấy
nhiêu. Không những mờ nhạt, mà đôi khi c̣n thiếu sót. Sự tồn sinh không
được mô tả, dù dưới những h́nh ảnh khải huyền”.
[6]
Lẫn trong mơ hồ đó, nhà thơ tha hồ mà tưởng tượng quang cảnh trời đất
mới. Nếu Xuân Như Ư c̣n nhiều h́nh ảnh dựa theo tín lư Thiên
Chúa, th́ Cẩm Châu Duyên lại gần với huyền tượng của dân gian
phảng phất không khí thần tiên của Đạo giáo - một thứ Đạo giáo b́nh dân,
không ăn thua ǵ đến cái “đạo khả đạo” của Lăo Tử. V́ vậy Hoài Thanh cho
rằng Hàn Mặc Tử “chốc chốc lạc vào thế giới đồng bóng.” Thật ra trong
cái hoa hoè của dự tưởng, nội dung ṇng cốt của Xuân Như Ư vẫn là
một tín điều Thiên Chúa giáo.
Trước hết đó là một mùa Xuân. Nghĩa là một thế giới mới, một khung cảnh
tái tạo, như cảnh thành Jérusalem mới được thánh Jean rao truyền ở
chương cuối Phúc Âm, Trời mới đất mới được dựng lên trên cảnh
trộn trạo, tán loạn của ngày tận thế
Cả vũ trụ tàn theo ngày Phán xét
Là khủng khiếp cả Trời Đất tiêu diệt (tr. 60)
Mùa Xuân đó ở xa. Ở thật xa nếu nh́n từ thế giới hồn nhiên của Gái
Quê
Cửu Trùng là chốn xa xôi ấy
Chim én làm sao bay đến nơi (tr. 37)
Nhưng kinh nghiệm Đau Thương, kinh nghiệm của xác tín trong khổ
năo, đă chắp lên thân xác nứt nẻ của nhà thơ đôi cánh phượng hoàng. Bằng
những bất hạnh, Hàn Mặc Tử đă đến gần với Chúa và gần với mùa xuân Mơ
Ước hơn là cánh én bơ vơ:
Phượng tŕ! Phượng tŕ! Phượng tŕ! Phượng tŕ!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bây giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang (tr. 37)
Trong bài “Thánh nữ Đồng Trinh Maria” này, với nguồn rung cảm mănh liệt
của đức tin, nhà thơ đă sống cả thế giới hiện tại lẫn mùa xuân dự tưởng,
đă nói đến cơn lậm luỵ đă trải qua dưới thế như là một quá khứ.
Và trong đức tin đó, nhà thơ đă vẽ cho ta địa h́nh của Đất Mới, trong
bài tựa tập Xuân Như Ư:
V́ chưng muôn xuân là lương thực ngon ngọt, mĩ v́, ánh xuân là nguồn
tơ tưởng thơm tho tinh khiết, khí xuân là mạch trường sinh bất tử, t́nh
xuân là cung cầm nguyệt mê ly, tuổi xuân là NGỌC NHƯ Ư, tên xuân là DẠ
LAN HƯƠNG.
Và xuân là phong vị thái hoà của năm muôn năm, trời muôn trời, chân
lưu trên thượng tầng không khí, bàng bạc cả giải Hà Sa, chen lấn vô tận
hồn tạo vật…
Loài người hăy tận hưởng một hơi cho đă ngán và cao rao danh Cha cả
sáng… (tr. 66)
Chúng ta thử khai triển vài nét chính của Xuân Như Ư. Chúng ta đă
thấy đó là mùa xuân hồi sinh, sau khi “Trời thứ nhất, đất thứ nhất tan
biến.” (“Ap. XXI”, 2) Như đặc biệt mùa xuân này nảy lộc từ mùa đông,
nhưng sẽ không bao giờ chuyển sang mùa hạ Mai nầy thiên hạ mới tinh
khôi… Và sẽ c̣n tinh khôi măi măi, v́ đă đi vào cơi tứ thời xuân
non nước. Trong Cầm Châu Duyên nhà thơ gọi là Xuân vô cùng
đến ngàn năm ơn phước và mô tả như một tia sáng triền miên:
Liên hồ đây bốn mùa xuân cả bốn
Ngát hương đưa trong gió sớm chơi vơi
Làm nước mát và chưa bao giờ gợn
Vết phong trần đưa lại ở xa khơi
(Trần Thanh Mại, tr. 147)
Đoạn cuối “Khải Huyền” truyền giảng rơ ràng. Đất Mới đây, là châu thân
Thiên Chúa; mùa xuân của Hàn Mặc Tử (trường sinh bất tử năm của muôn
năm, v́ ở “Khải Huyền”, Chúa đă kết luận: “Ta làm mới mọi vật. Ta là
Alpha và Oméga, là nguyên lư và cực chung.” (“Ap. XXI”, 5-6)
Xuân Như Ư tiếp đến là một vũ trụ thơm tho và tinh
khiết v́ là càn khôn mới dựng lên. Ở đây, nhà thơ như rợn
ngợp trong trinh nguyên của Đất Mới, mà tượng trưng là con chiên con vô
tật và vô tội, làm ngọn đèn trinh bạch rọi sáng cả hoàng thành. Thi sĩ
vội nguyện cầu gội rửa:
Tôi van lơn thầm gọi Chúa Giê Su
Ban ơn xuống cho mùa Xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng (tr. 74)
Và để ngợi ca vinh hiển của Nguồn thơm, nhà thơ đă cao ngâm giọng
long lanh, thanh thoát:
Ta cho ra một ḍng thơ rất mát
Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương (tr. 70)
Theo Hoài Thanh - người may mắn hơn chúng ta, được đọc toàn bộ thi phẩm
– th́ Cẩm Châu Duyên, thi phẩm cuối cùng, là “trong trẻo hơn cả”
[7] . Âu cũng là chuyện lạ.
Gái Quê, từ ban sơ, đă là một ḍng suối rừng vẩn đục, rồi chảy qua
một cuộc đời khổ ải, chuyên chở không biết bao nhiêu trần lụy, ấy mà dần
dà lại gạn lọc hết phù trầm, để đổ ra đại dương bằng một giải Cẩm Châu
trong vắt. Thật là một đặc điểm trong thẩm mĩ thi ca.
Đất Mới c̣n là một xứ rực rỡ, cao sang, v́ xuân mang tên một loài
Ngọc:
Ánh hào quang chan chói ngắt lưu ly
Ôi! Cao sang khôn vi, trọng ai bi
Trên nước cả có vô vàn châu báu (tr. 67)
Những h́nh ảnh tráng lệ như gấm, ngọc, trân, châu, thất bảo, nhũ
hương, mộc dược đều muốn gợi lên một vinh hiển, như khi sứ đồ tả
thành Jérusalem mới trong “Khải Huyền”: “Thành ấy chói sáng như một viên
bửu thạch, như bích ngọc rạng ngời… Tường th́ xây bằng bích ngọc, thành
th́ xây bằng vàng ṛng, tợ như thuỷ tinh trong vắt. Mười hai cửa th́ làm
bằng mười hai hột châu.” (“Ap.” XXI, 11, 18 và 21) Dựa theo “Khải
Huyền”, tôi cho rằng những đền đài dự tưởng trong Hàn Mặc Tử là một
phóng thể của đức tin Thiên Chúa, v́ cảnh Bồng Lai của Á Đông, cảnh thần
tiên của Đạo gia không có cái huy hoàng rực rỡ đó.
Cuối cùng Xuân Như Ư là một thái hoà tuyệt đối, trong
không gian và thời gian, thái hoà của năm muôn năm, trời muôn
trời. Ở đó, trời th́ b́nh an như nguyệt bạch, c̣n người th́
hoan hảo, no nê nhờ trái cây bằng ngọc, vỏ bằng gấm. C̣n
nói chung:
Thiên hạ thái b́nh và trời tuôn ơn phước
Như triều thiên vờn lượn khắp không gian (tr. 71)
Ở đây, sầu đau ch́m trong quên lăng. Đất Mới không c̣n cảnh “chết chóc,
than khóc, kêu ca hay đau đớn nữa”) (“Ap”, XXI, 4) v́ những lậm luỵ
dưới thế đă qua. Ở đây tất cả đều là ánh sáng. Và ánh sáng là linh
thị cuối cùng bao trùm trọn vẹn thi tŕnh Xuân Như Ư, đồng thời
rọi lại toàn bộ tác phẩm Hàn Mặc Tử như một Thánh thể kết tinh
triền miên vươn tới Ánh Sáng, vươn tới Ánh hào quang chan chói ngất
lưu ly. Hay trở về Ánh Sáng. Ở đây, chúng ta đi sâu vào ngơ ngách
cối cùng trong đức tin Hàn Mặc Tử:
Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng
Tôi sẽ dừng lại ở đây, dừng lại ở h́nh ảnh Nguồn Ánh Sáng, vừa là
một vươn tới, vừa là một trở về, Mùa Xuân Như Ư đẹp trước hết v́
là Xuân thứ đến v́ nó là Như Ư, nó đưa con người về với
Chúa, về với Nguồn. Vậy Nguồn Ánh Sáng ở đây là Alpha và
là Oméga, vừa là cội rễ vừa là cứu cánh con người. Và cơ cấu thơ Hàn Mặc
Tử do đó gói ghém cả mặc khải Thánh Tự lẫn lịch tŕnh Cứu Rỗi. Tôi có
cảm giác đă làm xong một bài luận mạch lạc. Bây giờ là kết.
Tham vọng của tôi trong bài này là đề nghị một lối nh́n nhất quán vào
tác phẩm Hàn Mặc Tử trong giới hạn những bài thơ c̣n lưu truyền, nghĩa
là trên một sự nghiệp bị thời gian cắt xén. Khai quật cơ cấu nội tại của
sự nghiệp đó, chúng tôi lại c̣n mong ước rọi sáng những bài, những câu
thơ mà các nhà phê b́nh xưa nay, từ Trần Thanh Mại đến Vũ Ngọc Phan, cả
thi sĩ Quách Tấn đều cho là khúc mắc. Theo chúng tôi, hiểu tất cả các
câu thơ, các bài thơ trong một tập thơ, chưa hẳn đă là hiểu toàn bộ tập
thơ, ít nhất cũng đối với người viết phê b́nh. Chúng ta c̣n phải hiểu
liên hệ nội tại trong mỗi tập thơ để nắm vững cơ cấu sáng tạo của thi sĩ
– ít ra cũng trong chủ quan người đọc.
Liên hệ nội tại đó, tôi đặt trên đức tin của Hàn Mặc Tử. Tôi cũng có thể
đề nghị một nền tảng khác; tôi chọn chủ đề này với một dụng ư: giải
thích những nhận xét cố hữu của các nhà phê b́nh tiền bối vẫn cho Hàn
Mặc Tử là nhà thơ Thiên Chúa giáo, mà không nói rơ, nói đầy đủ, tại sao.
Các vị đó thường trích dẫn những bài thơ hay câu thơ có âm vang tôn
giáo, có h́nh thức tín ngưỡng như Maria linh hồn tôi… rồi kết
luận; theo tôi, th́ chưa đủ, v́ một người không có đức tin cũng có thể
kể rất nhiều tên Thánh, làm thơ ca tụng đấng Tối Linh, như ngày xưa các
cụ Nguyễn Hữu Tiến hay Tản Đà nhắc đến Thượng Đế trong Quả Dưa Đỏ
hay Giấc Mộng Con. Theo tôi, chúng ta chỉ có thể nói đến tín lư
trong một tác phẩm khi toàn bộ tác phẩm đó tiềm ẩn đức tin trong cơ cấu.
Nói khác đi, một người Thiên Chúa giáo chưa hẳn là kẻ đọc kinh vanh
vách, mà là người đem trọn cuộc đời ḿnh đáp lại lời gọi của ơn Trên, và
một thi sĩ Thiên Chúa giáo không hẳn là kẻ tự xưng là thi sĩ của đạo
quân Thánh giá (tr. 71) như Hàn Mặc Tử đă tự nhận, mà là kẻ đem cả
sự nghiệp thi ca của ḿnh âm vọng lại tiếng gọi của Thượng Đế. Và dĩ
nhiên không phải là kẻ “dùng thơ để truyền bá tôn giáo của ḿnh” như
Quách Tấn nhận định ở trang 118 số Văn thượng dẫn. Do đó mà tôi
cố gắng chứng minh toàn tập thi phẩm Hàn Mặc Tử là một tiếng vọng của
Thánh Tự.
Dĩ nhiên, trong tác phẩm Hàn Mặc Tử c̣n nhiều vết tích của một nhân bản
Việt Nam. Tín ngưỡng Thiên Chúa đă nảy mầm trên một nhân bản phiếm thần
và đa giáo, th́ hồn thơ Hàn Mặc Tử không khỏi làm một lăng kính hội tụ
rồi phát huy nhiều nguồn sáng khác nhau, và hỗ tương lẫn nhau, như Giáo
hoàng Paul VI đă tuyên bố trên đài phát thanh Véritas chủ nhật 29-11 vừa
qua, nhân chuyến công du sang Á Đông: “Chúng ta đang ở một vùng đất mà
những tư trào cổ kính của Đông phương và những trào lưu mới mẻ hơn Tây
phương đă kết hợp lại và làm giàu cho nhau”
[8]
Và bạn đọc sẽ hoan hỉ nếu Quách Tiên sinh thủ lời hứa “nói về đạo Từ bi
trong thơ Tử” v́ sẽ hiểu thêm một khía cạnh của thi phẩm, qua kiến thức
uyên bác của tiên sinh về phương diện Phật lư cũng như tác phẩm Hàn Mặc
Tử.
Cuối cùng, viết bài này tôi cũng có hai hậu ư riêng tư. Trước là để giải
một lời hứa với anh Trần Phong Giao từ hai năm nay; một đề tài bao quát
và hệ trọng như vầy đ̣i hỏi một suy nghĩ dài hạn, khiến anh Trần Phong
Giao cứ trách tôi là “thề cá trê chui ống”.
Thứ đến là hồi đầu năm nay, tôi có viết một bài điểm sách, về vở kịch
Ngộ Nhận của Vũ Khắc Khoan. Bài đó đă gây nhiều hiểu lầm, nhất là
trong những người thân của tôi, cho là tôi bất kính đối với đức tin
Thiên Chúa; và tôi rất khổ tâm; nếu có hiểu lầm đó, dĩ nhiên lỗi về phần
tôi, viết không khéo, nói không trọn, lời không thanh, ư không minh. Vậy
bài này viết vào mùa Giáng sinh, sẽ là một bổ chính cho bài trước, và
cũng là lời tạ lỗi thành khẩn của tôi.
Ḷng thành khẩn đó, của riêng tôi, nhân mùa Hy Vọng, c̣n là cánh hoa huệ
một lưu vực xa xôi gửi về cho Quê hương Yêu dấu.
Val de Loire, 12-1970
Đặng Tiến
[1]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 61
[2]Vocabulaire de Théologie
Biblique, Edit, du Cerf, Paris 1962, tr. 714
[3]Jean - Pierre Richard,
Poésie et Profondeur, Seuil, Paris 1955
[4]P. Dhorme, Revue
Biblique. Số 4 tháng 10 – 1920 tr. 473 – 474. Loại bài “l’Emploi
métaphorique dans la Bible”, chuyên về h́nh ảnh của thân xác, rất cần
cho việc t́m hiểu thơ H.M.T.
[5]Vocabulaire de Théologie
Biblique, sđd, tr. 31
[6]Jacques Quillet, tủ sách
giáo lư, Thèmes Bibliques, Aubier, 1950, tr. 175
[7]Hoài Thanh và Hoài Chân,
sđd, tr. 214
[8]Le Monde, ngày 1
tháng 12-1970, tr. 8, cột 1